TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
BỘ MÔN TỔ CHỨC – QUẢN LÝ Y TẾ
--------------------------------
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BÃO LỤT Ở VIỆT NAM
Huế, 2015
DANH SÁCH NHÓM 4
1. Nguyễn Phú Bình
2. Nguyễn Thị Thúy Hằng
3. Nguyễn Lê Ngự
4. Tôn Nữ Quỳnh Như
5. Trương Dương Phi
6. Huỳnh Ngọc Toàn
7. Tôn Nữ Nam Trân (Nhóm trưởng)
8. Võ Thị Vân
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với đường bờ biển dài 3260
km vì vậy khí hậu nước ta chịu ảnh hưởng nhiều của biển. ¾ diện tích là đồi núi, cùng mạng
lưới sông ngòi chằng chịt đặc biệt là ở vùng duyên hải miền Trung, với địa hình nhỏ hẹp,
những dãy núi dốc theo hướng Tây sang Đông, nhiều sông ngắn dốc và lưu vực nhỏ, đồng
bằng nhỏ hẹp nằm giữa các dãy núi. Ngoài ra còn nằm trong khu vực hoạt động của gió mùa
Châu Á đó là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.
Điều kiện khí hậu không quá khắc nghiệt; mặt khác còn mát mẻ, mưa nhiều thuận lợi
cho phát triển kinh tế và giao thông với bạn bè quốc tế. Tuy nhiên, với vị trí địa lý và khí hậu
như vậy, nước ta hằng năm cũng phải hứng chịu nhiều cơn bão và lũ lụt lớn, gây thiệt hại rất
Bão mạnh là luồng gió xoáy thuận nhiệt đới được phát sinh trên biển có sức gió từ cấp 12
trở lên (tốc độ gió từ 118 km/giờ trở lên).
Áp thấp nhiệt đới là vùng gió xoáy phát sinh trên biển có sức gió từ cấp 6, cấp 7 (tốc độ
gió từ 39 km đến 61 km/giờ).
1.1.2. Bão nhiệt đới :
Là thiên tai gây thiệt hại lớn với đặc điểm:
+ Đột ngột hình thành
+ Không thể dự báo được hết nguy cơ
Bão phải có gió nhanh hơn 63 km/giờ (nếu gió yếu hơn 63 km/giờ (cấp 8), gọi là áp thấp
nhiệt đới (tropical depression)) . Nếu gió mạnh hơn 118 km/giờ (cấp 12), bão được gọi là
bão to với cuồng phong (typhoon). Ngoài ra còn có bão rất to hay siêu bão (super typhoon)
với gió nhanh hơn 241 km/giờ (cấp 17).
Phân loại bão theo sức gió mạnh nhất và mức độ ảnh hưởng
Cấp bão
Áp thấp nhiệt đới
Bão
Bão mạnh
Bão rất mạnh
Gió cực đại Cấp gió
Mức độ ảnh hưởng
(km/h)
(beaufort)
(do sức gió)
39 - 61
6–7
Cây cối rung chuyển, khó đi ngược gió.
Biển động
62 – 88
8–9
Phân loại các loại lũ và đặc trưng của chúng:
−
Xảy ra đột ngột, trong một thời gian ngắn với tốc độ cực lớn có thể cuốn trôi theo
đất đá, nhà cửa và mọi thứ trên đường lũ đi qua.
−
Lũ quét có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào ở vùng núi nước ta khi có mưa lớn trong
thời gian ngắn.
1.1.3.1. Lũ quét: là một loại lũ có tốc độ mực nước lên rất nhanh khi một khối lượng nước
khổng lồ di chuyển nhanh từ địa hình cao xuống thấp.
1.1.3.2. Lũ Sông: Nước dâng lên từ từ thường xảy ra theo mùa trên các hệ thống sông ngòi.
1.1.3.3. Lũ ven biển (còn gọi là nước biển dâng):
Xảy ra khi sóng biển dâng cao đột ngột, kết hợp với triều cường làm vỡ đê biển hoặc tràn
qua đê vào đất liền
Thiệt hại do lũ lụt gây ra:
−
Lũ, lụt xảy ra có thể làm cho người bị chết hoặc bị thương.
−
Phá hoại nhà cửa, gây thiệt hại về tài sản như: giường tủ, bàn ghế, chăn màn, giấy
tờ, tài liệu của con người .
−
Phá hoại mùa màng, làm chết gia súc, gia cầm, cuốn trôi các đầm nuôi tôm, cua, cá
Lũ lụt là loại hình thiên tai xảy ra thường xuyên nhất, tiếp đến là bão. Trong năm 2013,
44% số người chết bởi thiên tai là do lũ và 41% do bão. 49% số người bị ảnh hưởng bởi
thiên tai trong năm 2013 là do bão. Những thảm họa lớn nhất là bão Hải Yến ở Philippines
với 16 triệu người bị ảnh hưởng và lốc xoáy Phailin ở Ấn Độ với 13 triệu người bị ảnh
hưởng.
Số người chết bởi thiên tai trong năm 2013 thấp hơn 80% so với con số trung bình của
thập niên.
Hai thảm họa thiên nhiên thảm khốc nhất trong năm 2013 là bão Hải Yến ở Philippines
và lũ lụt do các trận mưa gió mùa gây ra ở Ấn Độ. Bão Hải Yến làm thiệt mạng 7.968 người
trong tháng 11. Những trận lũ ở Ấn Độ làm 6.054 người chết trong tháng 6.
1.2.2. Ở Việt Nam
Nghiên cứu mới đây của Quỹ Châu Á chỉ ra rằng trong 20 năm qua Việt Nam là 1 trong 5
nước có rủi ro thiên tai cao nhất thế giới, với mức thiệt hại ước tính chiếm 1,5% GDP hàng
năm. Theo đánh giá của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn & Môi trường (Bộ Tài nguyên
& Môi trường), thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam thuộc loại lớn trên thế giới. Minh chứng là
trong 5 năm gần đây, mỗi năm thiên tai làm chết khoảng 500 người, gây thiệt hại 14.500 tỷ
đồng, tương đương 1,2% GDP cả nước.
Theo phương pháp chuyển đổi giá trị trung bình trong vòng 10 năm, từ năm 2005 đến
2014, trung bình hàng năm ở Việt Nam có đến khoảng 649 đợt thiên tai xảy ra như lũ lụt,
mưa đá, bão, lũ quét, lốc xoáy, sạt lở. Trung bình hàng năm Việt Nam phải gánh chịu
469.526 ngôi nhà bị phá huỷ, 174.653 ngôi nhà bị hư hỏng, và khoảng 2.715 thiệt hại về tính
mạng con người do tất cả các thảm hoạ tự nhiên gây ra. Tổng số người bị thiệt hại dù nặng
hay nhẹ do các thảm hoạ tự nhiên gây ra tính trung bình khoảng 3 triệu người mỗi năm.
Về tổng thiệt hại kinh tế được đo lường bằng tiền, trung bình hàng năm trong vòng 10
năm từ 2005 đến 2014, nền kinh tế Việt Nam phải gánh chịu khoảng 5,2 tỷ USD. Trong tổng
số thiệt hại này, thiệt hại kinh tế do lũ lụt gây ra chiếm tỷ phần lớn nhất với 58%. Xếp sau
đó, thiệt hại kinh tế do các trận bão hàng năm gây ra khoảng 29%, xếp ở vị trí thứ hai.
1.2.3. Những trận bão lụt lớn xảy ra ở Việt Nam
nghìn. Nhiều tàu thuyền bị chìm và hư hỏng.
Về giao thông, khối lượng đường bị sạt lở, vùi lấp hơn 61.000 m. Tại Quốc lộ 1 ngập tại
2 điểm dài 80 m tại Quảng Nam; hầm đường bộ Hải Vân bị mất điện lưới; đường Hồ Chí
Minh nhánh đông (tỉnh Kon Tum) sụt lở taluy dương tại 17 vị trí với khối lượng khoảng
1.400 m3 gây ách tắc giao thông nghiêm trọng.
** Mưa lũ lịch sử tàn phá Quảng Ninh năm 2015
Ngày 26/7, người dân Quảng Ninh phải hứng chịu một cơn mưa lớn kéo dài. Lượng
nước mưa lớn và đổ dồn khiến mọi tuyến đường đều bị chia cắt. Nước mưa bất ngờ tràn nhà
khiến người dân hoang mang… Theo số liệu từ báo cáo nhanh của tỉnh Quảng Ninh, mưa lũ
đã khiến 2 người khác tại TP Cẩm Phả bị thương. Hơn 2.200 hộ dân, trường học, bệnh xá bị
ngập lụt, có nơi ngập sâu trên 2m, hơn 500m tường kè và 4 nhà dân đã bị sập đổ. Mưa lớn
cũng đã làm ngập úng gần 70 ha lúa và hoa màu.
1.2.3.2. Những cơn bão lớn:
** Bão Linda
Linda hay còn gọi là bão số 5, xảy ra vào tháng 11/1997, đây là một cơn bão xuất hiện
khá muộn ngay trên Biển Đông, đã đổ bộ một cách rất mau lẹ và tàn khốc vào một phần
nhỏ của Bình Thuận tới Cà Mau ở phía nam nước ta, một khu vực cả trăm năm qua không
có bão. Cơn bão này đã làm chết và mất tích trên 3000 người, phá hủy hơn 3500 tàu thuyền
đánh cá, tổng thiệt hại ước tính lên tới 7000 tỷ đồng. Quá trình khắc phục thiệt hại do bão
này gây ra đối với nghề cá ở phía nam đã kéo dài trong nhiều năm.
** Bão Chanchu
Bão Chanchu (bão số 1) đã đổ bộ vào Việt Nam tháng 5/2006 đi qua vùng biển ngoài
khơi xa, hoàn toàn không tiến vào vùng biển gần bờ của Việt Nam, nhưng đã đem đến tang
thương cho hàng trăm gia đình ngư dân ở các tỉnh miền Trung với 265 người chết và mất
tích, hàng chục tàu đánh cá xa bờ bị phá hủy và nhấn chìm.
** Bão Durian
Bão Durian là một siêu bão vào Biển Đông ngày 1/12/2006 đã làm 50 người chết, 55
người mất tích và làm bị thương 409 người tại 12 tỉnh thành mà nó đi qua. Ngoài ra, bão
khi tan, cơn bão đã để lại hậu quả: 12 người chết, mất tích, hàng chục tàu, thuyền lớn bị
đắm, hàng trăm ngôi nhà bị hư hỏng..
** Bão Sơn Tinh
Với cấp gió lên đến 12, giật cấp 13-14, bão gây mưa trên diện rộng, biển động dữ dội,
hàng vạn người dân các vùng ven biển như Thanh Hóa, Nam Định đã phải sơ tán tránh bão.
Đến 10 giờ sáng ngày 29 tháng 10 năm 2012, thống kê sơ bộ cho thấy ít nhất đã có 3
người chết, 7 người mất tích và 5 người bị thương. 8 giờ sáng ngày 28 tháng 10 năm 2012,
bão đã gây sóng biển đánh sập hoàn toàn 330m đường đê chắn sóng nối đảo Hòn Cỏ với
cảng Hòn La, thuộc Khu kinh tế Hòn La, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng
Bình.
** Bão Haiyan
Bão Haiyan, VN gọi là bão số 14, đổ bộ vào khu vực Hải Phòng-Quảng Ninh sáng sớm
hôm 11 tháng 11 năm 2013 sau khi hoành hành Philippines trầm trọng.Bão Haiyan, tức bão
Hải Yến hay bão số 14, với sức gió mạnh cấp 11, giật tới cấp 13, khi vào sâu trong vùng đất
liền khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh đã giảm cường độ xuống còn cấp 7, cấp 8, gây mưa to
trên diện rộng.
Theo báo cáo nhanh từ Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, tại các địa phương ảnh hưởng
của siêu bão Haiyan, đã có 13 người chết và 81 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là do
tai nạn khi chằng chống nhà cửa, chặt tỉa cây cối. Siêu bão đã đánh chìm 1 tàu của Phú Yên,
làm hỏng 4 phương tiện của các tỉnh Hải Phòng, Phú Yên.
1.2.4. Hậu quả, những ảnh hưởng của bão lụt tới đời sống kinh tế - xã hội
Bão, lụt, lũ có những tác động sâu sắc đến tài nguyên môi trường của nhiều vùng
1.2.4.1. Ảnh hưởng của bão
Gây ra lũ lụt tàn phá nặng nề khu vực ở gần tâm bão.
Bão thường kèm theo mưa lớn dài ngày trên diện rộng và gây nên hiện tượng nước biển
dâng.
Gió lốc làm thiệt hại cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như tàn phá tự nhiên.
Nếu cơn bão xảy ra trùng khớp với thủy triều cao, nó còn gây ra xói mòn bờ biển và gây
Các chất phế thải, xác động vật , bùn cát, phù sa từ các sông suối tràn về cùng với các
nguồn phân rác phế thải trong địa bàn hòa lẫn vào nhau và hòa lẫn cả vào trong nước lũ, trôi
đi khắp nơi gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt trong khu vực và bao phủ lên hầu hết các loại
hoa quả, rau mầu.
Các tàn dư của bão lụt để lại sau khi chúng đi qua là những môi trường hết sức thuận lợi
cho các loại vi sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh cũng như cho các loại côn trùng lây truyền
bệnh dịch phát sinh và phát triển…
Do vệ sinh kém, do các bệnh truyền nhiễm dựa vào nước để phán tán. Trong điều kiện
ấy, bệnh dịch dễ dàng nảy sinh và lây lan, bởi đa số dịch bệnh đều truyền qua đường nước
nhanh hơn là qua không khí, chẳng hạn dịch tả.
Những thiệt hại về môi trường thường kéo theo những thiệt hại gián tiếp ảnh hưởng lâu
dài đến hoạt động kinh tế xã hội
1.3. Tình hình công tác phòng chống bão lụt trong những năm gần đây
1.3.1. Năm 2011
Mùa mưa, bão năm 2011, có 7 cơn bão xuất hiện trên biển Đông và cả nước. Sự cố tai
nạn sập đổ xảy ra nhiều.
Đánh giá:
Các cấp lãnh đạo đã rất quan tâm đối với công tác ứng phó lũ bão. Bộ Công thương đã hỗ
trợ các tỉnh miền Trung 180 triệu đồng. Sở Công thương đã điều phối hàng hóa kịp thời cho
các vùng bị chia cắt như Phú Yên , Hà Tĩnh, Quảng Bình; ngăn chặn đầu cơ tích trữ. Tập
đoàn Điện lực Việt Nam đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các hồ thủy điện. Vì vậy đã hạn chế
thấp nhất thiệt hại do bão lụt gây ra.
Tồn tại
−
Chưa chủ động, chưa thực hiện đúng theo phương châm 4 tại chỗ
−
Phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng, chống lụt bão còn hạn chế
chưa được hiện đại hoá, tính chuyên nghiệp chưa cao. Chưa được trang bị một số
trang thiết bị phục vụ công tác phòng, chống, lụt, bão như: áo mưa, áo phao, đèn
pin, mủ bảo hộ...
−
Kinh phí còn hạn hẹp nên việc tổ chức tập huấn công tác phòng chống lụt bảo cho
cán bộ, đoàn viên thanh niên gặp nhiều khó khăn.
−
Công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao kiến thức phòng, chống thiên tai cho
nhân dân chưa toàn diện, rộng khắp; chất lượng dự báo, cảnh báo còn thấp, chưa
sát, chưa lường hết được các diễn biến phức tạp của thiên tai.
1.3.3. Năm 2013
Tình hình thiệt hại: Năm 2013 thiệt hại do bão lụt gây ra chỉ tính đối với miền Trung tính
đến 03/12/2013 (Nguồn: Trung tâm Phòng chống lụt bão khu vực miền Trung và Tây
Nguyên):
−
Số người chết và mất tích: 133 người;
−
Nhà cửa bị tốc mái, xiêu vẹo: 247.400 căn;
−
ý đầy đủ đến những yêu cầu về phòng tránh thiên tai.
−
Cần xây dựng quy trình quản lý, xả nước hồ chứa thủy lợi, thủy điện hợp lý
−
Tăng cường việc trồng và bảo vệ rừng phòng hộ ở đầu nguồn và ven biển, đặc biệt
là rừng ngập mặn. Bố trí cơ cấu cây trồng và rừng trồng hợp lý, hạn chế tối đa việc
làm suy yếu lớp đệm của thảm thực vật che phủ mặt đất.
−
Tăng cường các biện pháp dự báo và cảnh báo thiên tai để dự báo, cảnh báo được
chính xác hơn, kịp thời hơn đến mọi vùng dân cư.
−
Giúp dân mở rộng xây dựng các công trình cộng đồng phòng tránh thiên tai, bão lũ
(trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, trụ sở cơ quan 2 tầng trở lên vững chắc ở các
vùng hay có bão lụt…); các nhà dân có khả năng chống chọi với bão lũ, các chòi
tránh lũ…
−
Phát triển tổ chức, trang bị và tập huấn các đội xung kích cứu hộ, cứu nạn tại chỗ
của các thôn, xã…
−
Công tác kiểm tra bảo đảm an toàn cho tàu thuyền, phương tiện cho người dân
chưa tốt, vân còn phương tiện hoạt động không dảm bảo an toàn. Kinh phí đàu tư
mua sắm các trang thiết bị phong chống, cứu nạn còn hạn chế.
−
Việc chấp hành báo cáo, chế độ thông tin của một số địa phương chưa nghiêm.
Chương 2. NHẬN XÉT
2.1. Tình hình bão lụt
Ở Việt Nam, mỗi năm thiên tai cướp đi mạng sống của 466 người, thiệt hại trên 1,5 tỷ
USD tương đương 1,5% GDP.
Các sự kiện thiên tai lớn trong giai đoạn 1997-2009:
Năm
Sự kiện
Số
Số
Số
Thiệt
người người b người hại kinh
chết
ị
mất
tế
thương tích ( tỷ đồng
532
4
2005 Bão số 7
68
28
2004 Bão số 2
23
Mưa lớn kết hợp
2003
65
với lũ
2002 Lũ lịch sử
171
2000 Các đợt lũ quét
28
1999 Lũ lịch sử
595
1997 Bão Linda
778
22
33
27
275
Nam
Trong những năm trước đây trên thế giới cũng như Việt Nam bão, áp thấp nhiệt đới là
một hiện tượng tự nhiên theo quy luật. Đối với bão trước đây tại nước ta thường xảy ra theo
quy luật, khoảng tháng 5, 6, 7 xảy ra ở vùng các tỉnh ven biển Bắc bộ; tháng 8, 9 bão xảy ra
ở ven biển Trung bộ; tháng 10, 11, 12 xảy ra ở Nam bộ. Những năm gần đây quy luật đó
không còn nữa mà nó đã trở nên bất thường, số lượng cơn bão, tần suất và cường độ của các
cơn bão đổ bộ vào nước ta tăng nhanh rõ rệt, các cơn bão thường lệch theo quỹ đạo phía
Nam và thường kết thúc muộn. Nguy hiểm hơn, số lượng các cơn bão hướng vào vùng ĐB
Sông Cửu Long, khu vực mà trong quá khứ rất ít khi hứng chịu bão, ngày càng nhiều với
cường độ khá lớn. Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng
12 hàng năm tại các tỉnh phía Nam Bộ.
Bão là thiên tai đặc biệt nguy hiểm đối với vùng ven biển Việt Nam. Số cơn bão đổ bộ
vào Việt Nam có xu thế tăng trong những năm gần đây. Trong thời kỳ 1891- 2000 (110
năm), trung bình mỗi năm có 4,74 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam
nhưng nếu lấy trung bình từ 1954 đến 2002 thì số cơn ảnh hưởng đến Việt Nam tăng lên 6,1
cơn . Với một đất nước có hơn 3.200 km bờ biển, tiếp xúc trực tiếp với biển Đông và nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm Việt Nam hứng chịu ít nhất 8 - 10 cơn bão
lớn.
Việt Nam nằm gần một trong sáu khu vực xuất hiện nhiều cơn bão lớn nhất Thế giới,
trung bình một năm xảy ra 10 - 12 cơn bão. Khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (bao gồm cả
biển Đông Việt Nam) mỗi năm bình quân hình thành khoảng 30 cơn bão, chiếm 38% tổng số
cơn bão trên toàn cầu. Năm 1967 vùng biển này có tới 40 cơn bão, đây là năm có nhiều bão
nhất trong lịch sử. Tính đến nay, năm có ít bão nhất là năm 1951 chỉ có 20 cơn bão.
Tình hình bão lụt diễn biến phức tạp và cường độ ngày càng tăng, các hiện tượng “bão
chồng bão, lũ chồng lũ”, “siêu bão” đang trở nên quen thuộc đối với Việt Nam. Các cơn bão
ngày càng có hướng đi phức tạp gây khó khăn cho công tác dự báo, sức tàn phá khốc liệt gây
nhiều thiệt hại về người và tài sản.
Lũ lụt ở nước ta phân bố không đồng đều giữa các vùng trong cả nước, trong đó tập trung
chủ yếu ở khu vực miền Trung. Do địa hình miền Trung nhiều đồi núi, dốc, mạng lưới sông
ngòi chằng chịt, sông ngắn, lòng sông hẹp, cạn,… và thêm việc các đập thủy điện, hồ chứa
Công tác dự báo, đường đi của bão còn nhiều bất cập
Công tác tuyên truyền pháp luật về đê điều, pháp luật về phòng chống thiên tai chưa
thường xuyên và chưa thực sự sâu rộng;
Ý thức chấp hành luật pháp về đê điều và phòng chống thiên tai của một số tổ chức và cá
nhân còn hạn chế. Một số địa phương chưa làm tốt trong việc phát quang, tu sửa đê điều.
Một số địa phương, đơn vị, một bộ phận không nhỏ cán bộ, nhân dân còn có tư tưởng chủ
quan trước diễn biến thất thường của bão, lũ, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Công tác tổ chức tập huấn, diễn tập hộ đê, diễn tập nâng cao kiến thức, kĩ năng phòng
chống lụt bão thiên tai ở một số địa phương còn hình thức, hiệu quả thấp.
Một số địa phương xây dựng phương án bão vệ trọng điểm, phương án hộ đê toàn tuyến
còn sơ sài, tính khả thi chưa cao; chuẩn bị vật tư dự trữ theo phương châm bốn tại chỗ chưa
đủ số lượng, chủng loại quy định.
Công tác kiểm tra các điều kiện đảm bảo an toàn cho người và tàu thuyền đánh bắt hải
sản, nhất là việc kiểm tra tàu thuyền vận tải đường sông biển, kiểm tra các bến đò ngang, đò
dọc chưa chặt chẽ, thường xuyên; còn có phương tiện khi hoạt động không đảm bảo an toàn.
Kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị, phương tiện cứu hộ, cứu nạn của cấp trên cho địa
phương còn hạn chế.
Việc chấp hành chế độ thường trực, chế độ thông tin báo cáo, nhất là trong các ngày nghỉ
của một số ngành, địa phương chưa nghiêm.
Chương 3. ĐỀ XUẤT
Chủ trương ưu tiên: “Chủ động phòng, tránh, thích nghi để phát triển”, trong đó, xây
dựng và rà soát các khu vực thường xuyên bị ngập lụt trên địa bàn, để từ đó lập bản đồ làm
cơ sở để rà soát quy hoạch của các cấp, ngành; tăng cường trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn;
nâng cao năng lực cứu hộ, cứu nạn từ cấp trung ương đến địa phương.
Phổ biến kiến thức cho người dân, cung cấp các thông tin, kiến thức về lụt bão, thiên tai
để người dân có thể kịp thời chuẩn bị phòng tránh. Để chống bão hiệu quả, địa phương cần
tăng cường hơn nữa các phương pháp thông báo thông tin và mức độ nguy hiểm của bão đến
hoạt động; đối với các tàu thuyền không trang bị đủ các phương tiện an toàn thì buộc chủ tàu
thuyền phải trang bị đủ mới được gia hạn hoạt động. Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ đi
biển, đào tạo thuyền trưởng hạng nhỏ cho ngư dân.
Điện, viễn thông: duy tu, sửa chữa đường dây điện, đường dây viễn thông không đảm bảo
an toàn và từng bước ngầm hóa hệ thống đường dây điện, đường dây viễn thông, nhất là ở
khu vực nội thành.
Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện sớm sự xuất hiện của bão cũng như xác định
hướng đi chính xác để có biện pháp phòng thủ kịp thời đối với các Tỉnh, các vùng được dự
báo sắp có bão đổ bộ.
Tuyên truyền, nâng cao ý thức, nhận thức của người dân cũng như cán bộ về tình hình
bão lũ và tầm quan trọng của công tác phòng chống bão lũ đến từng địa phương một cách
liên tục..lập ra các ủy ban phòng chống bão lũ ở từng địa phương để có thể ứng phó kịp thời
khi bão lũ xảy ra.
Thực hiện nhiều buổi tập huấn, diễn tập hộ đê và các kĩ năng phòng chống lụt bão ở các
địa phương trong cả nước, tránh trường hợp luống cuống không biết làm gì khi bão đến, lụt
dâng.
Giao thông: Kiểm tra hệ thống thoát nước, nạo vét các hố ga, cống rãnh bị bồi lắng, lắp
đặt mới hệ thống cống… nhằm đảm bảo cho việc tiêu thoát nước trong mùa mưa bão. Kiểm
tra, nâng cấp, sửa chữa các cây cầu yếu, không đảm bảo an toàn. Kiểm tra hoạt động của các
bến đò ngang, đò dọc, nhất là việc trang bị các thiết bị an toàn và tải trọng cho phép của các
đò…
Công trình xây dựng: sửa chữa những công trình xuống cấp không đảm bảo an toàn, nhất
là chung cư cũ; khi xây dựng công trình mới cần tính toán đến khả năng chịu lực của công
trình trước sự tác động của gió bão, áp thấp nhiệt đới.
Cây xanh: chặt tỉa cành, nhánh của các cây cao, dễ gãy đổ, mục rỗng, nằm gần nhà ở,
lưới điện…; có kế hoạch trồng cây xanh hợp lý, vừa đảm bảo tạo cảnh quan, môi trường sinh
thái, vừa đảm bảo chống đỡ được gió bão, áp thấp nhiệt đới.