nghiên cứu một số phương pháp ly trích và xử lý mẫu để xác định hàm lượng nitrat trong một số loại rau ở các khu vực chợ trên địa bàn quận ninh kiều - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-----

-----

PHAN HOÀNG KHÁNH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP LY TRÍCH
VÀ XỬ LÝ MẪU ĐỂ XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG
NITRAT TRONG MỘT SỐ LOẠI RAU Ở CÁC KHU
VỰC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KIỀU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH CỬ NHÂN HÓA DƯỢC

Cần Thơ – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-----

-----

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP LY TRÍCH
VÀ XỬ LÝ MẪU ĐỂ XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG
NITRAT TRONG MỘT SỐ LOẠI RAU Ở CÁC KHU
VỰC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KIỀU

gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Nhật Xuân
Dung. Cảm ơn Cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và luôn tạo mọi điều
kiện tốt nhất để chúng tôi hoàn thành tốt luận văn này. Đó là nguồn động
lực to lớn để chúng tôi cố gắng vượt qua những khó khăn trong quá trình
thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn thầy Đỗ Võ Anh Khoa và chị Ngô Minh
Sương đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho
chúng tôi tiến hành các thí nghiệm trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn tập thể Hóa Dược K37 - những người bạn đồng hành
đã động viên và giúp đỡ chúng tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Sau cùng, chúng tôi xin cảm ơn gia đình và người thân đã luôn là
chỗ dựa tinh thần vững chắc, luôn ủng hộ, chia sẻ và giúp đỡ chúng tôi
vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!

i


Trường Đại học Cần Thơ

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Khoa Khoa học Tự nhiên
Bộ môn Hóa học

-----

-----

d. Kết luận, đề nghị và điểm:
.................................................................................................................
..........................................................................................................................
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2015
Cán bộ hướng dẫn

PGS.TS. Nguyễn Nhật Xuân Dung
ii


Trường Đại học Cần Thơ

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Khoa Khoa học Tự nhiên
Bộ môn Hóa học

-----

-----

NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ CHẤM PHẢN BIỆN
1. Cán bộ hướng dẫn: PGS. TS Nguyễn Nhật Xuân Dung.
Đề tài: Nghiên cứu một số phương pháp ly trích và phương pháp
xử lý mẫu để xác định hàm lượng nitrat trong một số loại rau
màu ở các khu vực chợ trên địa bàn quận Ninh Kiều.
2. Sinh viên thực hiện: Phan Hoàng Khánh
Lớp:
Hóa Dược

iii


TÓM TẮT
------Đề tài “Nghiên cứu một số phương pháp ly trích và xử lý mẫu để xác
định hàm lượng nitrat trong một số loại rau ở các khu vực chợ trên địa bàn
quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” được thực hiện trên 3 loại thực vật là
củ cải trắng, rau muống và rau lang. Phương pháp phân tích hóa học được áp
dụng là phương pháp quang phổ so màu ở bước sóng 543 nm dựa trên sự
hình thành hợp chất màu azode thông qua phản ứng của nitrat với thuốc thử
Griess cải tiến (TCVN 8742:2011). Mức độ nhiễm nitrat được đánh giá theo
TCCP (04/2007/QĐ-BNN&PTNT và 3/2006QĐ-BKHCN) về hàm lượng
NO3- đối với mẫu rau tươi: rau muống ≤500 mg/kg; rau lang và củ cải trắng
≤200 mg/kg. Đề tài được tiến hành trên 2 thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: được bố trí theo thể thức thừa số 2 nhân tố. Nhân tố 1 là
phương pháp ly trích mẫu gồm 3 phương pháp ly trích mẫu là ngâm, lắc tay,
lắc máy; nhân tố 2 là địa điểm lấy mẫu gồm 3 điểm chợ: CTA, CAH, STCM.
Thí nghiệm có tổng cộng 9 nghiệm thức, thực hiện trên 27 mẫu. Kết quả phân
tích: số mẫu củ cải trắng vượt TCCP là 2/9 mẫu, mẫu cao nhất có hàm lượng
275 mg/kg rau tươi; số mẫu rau muống vượt TCCP là 2/9 mẫu, mẫu cao nhất
lên đến 713,8 mg/kg rau tươi; tất cả 9 mẫu rau lang đều đạt TCCP.
Thí nghiệm 2: được bố trí theo thể thức thừa số 2 nhân tố. Nhân tố 1 là
phương pháp xử lý mẫu gồm 4 phương pháp xử lý mẫu là không rửa, rửa
nước máy, ngâm NaCl 9‰ và luộc; nhân tố 2 là địa điểm lấy mẫu gồm 3
điểm chợ là CTA, CAH, STCM. Thí nghiệm 2 có tổng cộng 9 nghiệm thức,
thực hiện trên 27 mẫu. Kết quả phân tích: số mẫu củ cải trắng vượt TCCP là
3/9 mẫu, mẫu cao nhất có hàm lượng 330,4 mg/kg rau tươi; có 4/9 mẫu rau
muống vượt TCCP, mẫu cao nhất lên đến 918,2 mg/kg rau tươi; có 1 mẫu rau
lang vượt TCCP 221,5 mg/kg rau tươi.
Kết quả nghiên cứu của đề tài trên 3 phương pháp ly trích mẫu là

MỤC LỤC ............................................................................................. vi
DANH MỤC BẢNG ............................................................................. ix
DANH MỤC HÌNH ................................................................................ x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. xi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ..................................................................... 1
1.1 Đặt vấn đề ..................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu đề tài .............................................................................. 1
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.................................................. 3
2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và ở Việt Nam ...... 3
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới ...................... 3
2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam ....................... 3
2.2 Vai trò của rau, củ, quả đối với dinh dưỡng và sức khỏe[2] ............ 5
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của rau, quả .............................................. 5
2.2.2 Đặc điểm vệ sinh của rau, quả ............................................... 6
2.3 Dinh dưỡng đạm cho rau và vấn đề tồn dư nitrat ........................... 6
2.3.1 Vai trò của nitơ đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây
rau ...................................................................................................... 6
2.3.2 Quá trình chuyển hóa đạm trong cây ...................................... 7
2.3.3 Độc tính của nitrat ................................................................. 7
2.3.4 Những yếu tố gây tồn dư nitrat trong rau xanh ....................... 8
a. Ảnh hưởng của phân bón ............................................................ 8
b. Ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết, ánh sáng, quá trình thu hoạch
và bảo quản ...................................................................................... 12
c. Ảnh hưởng của đất trồng, nước tưới bị ô nhiễm tới mức độ tích
lũy nitrat trong rau ............................................................................ 12
vi


2.3.5 Biện pháp hạn chế tồn dư nitrat trong rau ............................ 14
2.4 Phương pháp định lượng nitrat .................................................... 15



4.3.4 Ảnh hưởng tương tác giữa phương pháp xử lý và địa điểm lấy
mẫu lên hàm lượng NO3- .................................................................. 31
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 35
PHỤ LỤC ............................................................................................. 38

viii


DANH MỤC BẢNG
----

----

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 ................................................................. 18
Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 ................................................................. 18
Bảng 3.3: Xây dựng dãy các nồng độ của dung dịch chuẩn ............................. 23
Bảng 4.1: Hàm lượng NO3- trong một số loại rau trên địa bàn quận Ninh Kiều
thành phố Cần Thơ .......................................................................................... 25
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các đợt lấy mẫu lên hàm lượng NO3- ....................... 26
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các địa điểm lấy mẫu lên hàm lượng nitrat ............. 27
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các phương pháp ly trích lên hàm lượng NO3- ....... 28
Bảng 4.5: Ảnh hưởng tương tác giữa các phương pháp ly trích mẫu và địa
điểm lấy mẫu lên hàm lượng NO3- ................................................................... 29
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của các đợt lấy mẫu lên hàm lượng NO3- ...................... 29
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của các địa điểm lấy mẫu lên hàm lượng NO3- .............. 30
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của các phương pháp xử lý mẫu lên hàm lượng NO3- ... 31
Bảng 4.9: Ảnh hưởng tương tác giữa phương pháp xử lý và địa điểm lấy mẫu


ARN

Acid ribonucleic

TCCP

Tiêu chuẩn cho phép

CTA

Chợ Tân An

CAH

Chợ An Hòa

STCM

Siêu thị Coop Mart

xi


Chương 1: GIỚI THIỆU
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng,
việc sử dụng phân bón đã mang lại hiệu quả to lớn trong việc nâng cao năng

Đề tài được thực hiện nhằm mục đích kiểm định và lựa chọn phương
pháp xử lý mẫu và ly trích độc tố nitrat hiệu quả nhất trong quá trình định
1


Chương 1: GIỚI THIỆU
lượng nitrat trong một số loại rau được sử dụng phổ biến thông qua phương
pháp so màu.

2


Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và ở Việt Nam
Rau xanh là thực phẩm cần thiết không thể thiếu, là nguồn cung cấp chủ
yếu các khoáng chất và vitamin, góp phần cân bằng dinh dưỡng trong bữa ăn
hằng ngày của con người. Đồng thời rau là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế
cao, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Vì vậy rau
được coi là loài cây trồng chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều
quốc gia.
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới
Trên thế giới rau là loại cây được trồng từ lâu đời. Người Hy Lạp. Ai
Cập cổ đại đã biết trồng rau và sử dụng rau bắp cải như một nguồn thực phẩm.
Từ năm 2000 trở lại đây diện tích trồng rau trên thế giới tăng bình quân mỗi
năm trên 600.000 ha, sản lượng rau cũng tăng dần qua các năm. Theo FAO,
2011, năm 2000 diện tích rau trên thế giới là 14.826.956 ha thì đến năm 2010
diện tích tăng lên 18.075.290 ha, sản lượng tăng từ 218.336.847 tấn lên đến

vật[8]. Vấn đề ô nhiễm rau xãy ra ở hầu khắp các vùng trồng rau trong cả nước.
Đó là những nguyên nhân làm cho các sản phẩm rau của Việt Nam chưa hấp
dẫn với thị trường quốc tế.
Hiện nay, vấn đề an toàn thực phẩm đang là nỗi lo của tất cả mọi người,
mọi ngành. Rau là thực phẩm được sử dụng hằng ngày ở tất cả các gia đình, vì
vậy để đảm bảo sức khỏe người sử dụng, những năm gần đây ngành nông
nghiệp và các cấp ở địa phương đã có rất nhiều chủ trương, giải pháp nhằm
nhanh chóng phát triển các mô hình trồng rau an toàn, đảm bảo sức khỏe
người tiêu dùng. Trên thực tế ở Việt Nam hiện nay có hai mô hình sản xuất
rau an toàn là mô hình rau sạch trên diện tích hẹp đầu tư cao về cơ sở vật chất
và mô hình phát triển rau an toàn trên diện tích rộng ngay tại đồng ruộng bằng
cách chuyển giao kỹ thuật cho nông dân.
Mặc dù các cơ quan chức năng đã có rất nhiều cố gắng trong việc phát
triển các mô hình trồng rau an toàn, nhưng việc sản xuất rau an toàn vẫn chưa
được phổ biến rộng khắp, diện tích và sản lượng rau sạch vẫn còn hạn chế.
Theo Bộ NN & PTNT, sản lượng rau quả chiếm 13,2% tổng giá trị sản lượng
nông nghiệp nhưng sản lượng rau an toàn chỉ chiếm khoảng 5% và chỉ đáp
ứng một phần nhỏ nhu cầu của người tiêu dung, các bếp ăn tập thể, các trường
học và doanh nghiệp[9].
Có rất nhiều nguyên nhân khiến cả người tiêu dùng và các cơ quan quản
lý nhà nước nghi ngờ độ an toàn của các loại rau, trong đó có 2 nguyên nhân
chính:
Nguyên nhân thứ nhất là người nông dân sản xuất nhỏ lẻ, chưa áp dụng
đầy đủ quy trình kỹ thuật trồng rau quả an toàn. Hiện tại có đến 40% sản
lượng rau an toàn tại các khu vực sản xuất rau an toàn của cả nước vẫn còn các
hóa chất, vi sinh vật gây hại, kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
tồn tại, trong đó khoảng 4% vượt mức cho phép.
Nguyên nhân thứ hai là qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn chưa hoàn
thiện, ruộng rau an toàn vẫn bố trí xen kẽ với các thửa ruộng không theo qui


của rau thuộc loại mịn, dễ chuyển sang dạng hòa tan trong ruột. Nhiều tài liệu
cho rằng cellulose có trong rau còn khả năng đào thải cholesterol ra khỏi cơ
thể. Tùy theo loại rau mà lượng cellulose dao động trong khoảng 0,3-3,5%.
Mặt khác, rau là nguồn cung cấp nhiều vitamin C và carotene cho khẩu
phần ăn hàng ngày. Tuy nhiên, trong quá trình chế biến và bảo quản thực
phẩm thì lượng vitamin C dễ dàng mất đi nhiều (khoảng 50%). Rau cũng là
nguồn cung cấp các chất khoáng kiềm như K, Ca, Mg,… và cũng là nguồn
cung cấp sắt dễ hấp thu.
Trái cây có glucid nhiều hơn rau và phần lớn dưới dạng đường đơn và
đường kép như fructose, glucose, saccarose. Trái cây có nhiều vitamin C,
nhưng không chứa men ascorbinaza phân giải vitamin C, đồng thời quả
5


Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
thường được ăn tươi không qua chế biến nên lượng vitamin C có trong quả
gần như được cung cấp nguyên vẹn. Một số trái cây cũng có nhiều caroten như
đu đủ, gấc, cam… Quả cũng chứa nhiều chất khoảng kiềm, chủ yếu là kali.
Lượng Ca và P ít nhưng tỷ lệ Ca/P rất tốt, khi tỷ lệ canxi và phosphor mất cân
bằng là nguyên nhân dẫn đến thiếu canxi, thông thường tỷ lệ canxi và phospho
trong cơ thể là 2:1[2].
2.2.2 Đặc điểm vệ sinh của rau, quả
Rau có thể nhiễm các vi khuẩn gây bệnh và trứng giun, sán do tưới rau
quả bằng phân tươi hoặc nước bẩn. Các loại rau ăn tươi, sống như rau sà lách,
rau thơm, hành, dưa leo, cà rốt… nếu không được rửa sạch và sát trùng thì có
thể gây các bệnh đường ruột do vi trùng và giun sán. Một vấn đề hiện nay
đang được rất quan tâm là dư lượng phân bón và sự nhiễm hóa chất bảo vệ
thực vật trong rau quả khá cao, gây nên các ngộ độc cấp tính, mạn tính ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng[2].
2.3 Dinh dưỡng đạm cho rau và vấn đề tồn dư nitrat

tích luỹ hoàn thành chu kỳ sống. Bón thừa đạm lá cây có màu xanh tối, thân lá
mềm, tỷ lệ nước cao, dễ mắc sâu bệnh, dễ lốp đổ và thời gian sinh trưởng kéo
dài. Bón nhiều đạm và không cân đối thì dẫn đến sự tích luỹ nitrat trong cây
và làm ô nhiễm nitrat trong nước ngầm[3].
2.3.2 Quá trình chuyển hóa đạm trong cây
Việc cung cấp nitơ và các chu trình vật chất trong tự nhiên phụ thuộc
nhiều vào quá trình phân huỷ sinh học các hợp chất chứa nitơ trong môi
trường. Toàn bộ nitơ trong chu trình nitơ sinh học diễn ra chủ yếu qua hoạt
động cố định đạm của các vi khuẩn sống trong cây, các tảo lục và các vi khuẩn
cộng sinh trong rễ của một số loài thực vật (ví dụ như Rhizobium có ở trong
nốt sần của rễ một số loài họ đậu). Những sinh vật này có khả năng chuyển
hoá N2 thành N-NH4+ , mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ dòng nitơ trên toàn cầu, quá
trình cố định đạm là nguồn cung cấp nitơ cao nhất cho cả sinh vật trên cạn và
sinh vật thủy sinh. Cây trồng hút đạm ở cả hai dạng NH4+ và NO3-. Mức độ
hấp thu nhiều N-NH4+ hoặc N-NO3- của cây trồng phụ thuộc vào tuổi, loại cây
trồng, môi trường và các yếu tố khác. Một số loại rau như bắp cải, củ cải sử
dụng được cả NH4+ và NO3- nhưng cải xoăn, cần tây, bí, các loại đậu sinh
trưởng tốt hơn khi cung cấp đạm ở dạng NO3-, các loại cây như cà chua, khoai
tây lại thích hợp môi trường dinh dưỡng có tỷ lệ N-NO3-/N-NH4+ cao. Nhiệt
độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hấp thu N-NO3- hơn N-NH4+, đặc biệt ở
nhiệt độ 2-16 0C[22].
2.3.3 Độc tính của nitrat
Sự tích luỹ NO3- cao trong mô cây không gây độc đối với cây nhưng khi
sử dụng cây có hàm lượng NO3- cao có thể làm hại gia súc và con người đặc
biệt là trẻ em do NO3- được tích lũy trong bộ máy tiêu hoá có khả năng khử
thành NO2-:
2H+ + 2e

H2O


a. Ảnh hưởng của phân bón
Phân đạm
Trong các loại phân bón dùng cho cây trồng thì phân đạm được sử dụng
nhiều nhất và cũng là yếu tố then chốt quyết định năng suất cây trồng. Thực tế
cây trồng được cung cấp đủ đạm sẽ phát triển mạnh, tổng hợp được nhiều chất
tạo nên sinh khối và tăng sản phẩm. Nhưng bón nhiều đạm trong điều kiện
quang hợp, hô hấp kém, không đủ xetoacid để chuyển hóa N-NO3- thành NNH4+ rồi thành acid amin, nitơ sẽ tích lũy trong cây ở dạng nitrat hoặc
cyanogen.
Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm bón đến năng suất và tồn dư NO3trong rau:
Ở Việt Nam do chạy theo năng suất và lợi nhuận, người sản xuất đã lạm
dụng phân đạm. Trong khi sử dụng phân đạm theo chiều hướng gia tăng thì
việc sử dụng phân lân và phân kali rất ít, phối hợp theo tỷ lệ không hợp lý điều
đó đã làm cho hàm lượng nitrat trong thương phẩm rất cao. Các kết quả
nghiên cứu đều khẳng định sử dụng lượng lớn và không hợp lý phân đạm là
nguyên nhân dẫn đến hàm lượng nitrat cao trong sản phẩm rau màu.

8


Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón đối với sự tích luỹ
nitrat trong rau cải bẹ xanh trên nền đất xám tại thành phố Hồ Chí Minh, Phạm
Minh Tâm (2001)[10] cho thấy năng suất cải bẹ xanh tăng dần khi tăng lượng
đạm bón, cao nhất ở mức bón 150 kg phân đạm/ha, tuy vậy thì hàm lượng
NO3- trong rau khi thu hoạch quan hệ chặt với lượng đạm bón, từ 31,7 mg
NO3-/kg rau tươi ở mức 0 kg phân đạm/ha lên 524,9 mg NO3-/kg ở mức 180
kg phân đạm/ha.
Kết quả nghiên cứu của Đặng Thu Hoà (2002)[11] trên đất phù sa Sông
Hồng cũng cho kết quả tương tự, tăng lượng đạm bón làm tăng sự tích luỹ
nitrat trong rau, với rau muống tăng mức đạm bón từ 120 kg/ha lên 180 kg/ha

trong rau cao hơn dạng đạm NH4+ và sử dụng phân bón CaCN2
(canxixianamit) thì hàm lượng NO3- trong rau đạt thấp nhất. Theo Phạm Minh
Tâm (2001)[10] cùng với mức đạm bón là 90 kg/ha, với cải bẹ xanh khi bón
dạng đạm NH4NO3 và urê sự tích luỹ đạm trong rau cao hơn so với khi bón
phân NPK và (NH4)2SO4.
Phân lân
Trong cây tỷ lệ P biến động từ 0,1 – 0,4% vật chất khô, trong đó P ở
dạng hữu cơ là chính. Lân hữu cơ đa dạng đóng vai trò quan trọng trong quá
trình trao đổi chất, hút chất dinh dưỡng. Dạng hợp chất cao năng chứa lân
quan trọng nhất, phổ biến nhất là ATP và ADP cần cho quá trình quang hợp,
khử NO3- trong cây, tổng hợp protein và các hợp chất quan trọng khác.
Vai trò của lân đối với sự tích luỹ NO3- trong cây cũng đã được rất nhiều
nghiên cứu khẳng định. Khi sử dụng phân lân ở các mức khác nhau đối với
bắp cải và cà chua trên nền bón đạm tại Đông Anh (Hà Nội), Bùi Quang Xuân
và cs (1996)[3] cho thấy: Với cải bắp, cùng với mức bón đạm nếu không bón
lân hàm lượng N-NO3- trong rau khi thu hoạch là 982 mg/kg rau tươi. Nếu bón
60kg P2O5/ha thì hàm lượng N-NO3- trong rau giảm xuống 540 mg/kg, và ở
mức bón 120kg P2O5/ha thì hàm lượng N-NO3- trong rau khi thu hoạch với rau
cải bắp là 480 mg/kg rau tươi. Như vậy bón phân lân có tác dụng tăng cường
chuyển hoá đạm khoáng thành đạm protit làm giảm sự tích luỹ NO3- trong rau.
Tuy vậy tại các vùng trồng rau hiện nay lượng phân lân sử dụng rất ít
thường chỉ đạt khoảng 50% so với qui trình sản xuất rau an toàn, như cà chua
21-40 kg P2O5/ha trong khi qui trình rau an toàn là 85 kg P2O5/ha, đậu côve
là 30-40 kg P2O5/ha so với qui trình là 60 kg P2O5/ha[11]. Như vậy sử dụng
phân lân ít trong khi đó phân đạm sử dụng với mức cao nên dẫn đến sự tích
luỹ nitrat cao trong sản phẩm.
Phân kali
Cũng như lân, nông dân hầu như chưa có thói quen sử dụng phân kali.
Các kết quả điều tra đều cho thấy lượng phân kali bón cho rau thường rất ít,
thậm chí không bón. Các nghiên cứu đã khẳng định cùng với phân lân, phân

vậy ngoài chức năng cải tạo đất phân hữu cơ còn là nguồn cung cấp đạm cho
cây, vì vậy cũng như đạm nếu sử dụng phân hữu cơ với lượng quá cao, đạm
được giải phóng nhiều vào giai đoạn cuối sẽ gây tồn dư NO3- cao trong sản
phẩm. Theo Bùi Quang Xuân và cs (1996)[3] cùng với liều lượng phân vô cơ,
bón thêm phân chuồng đã làm tăng hàm lượng nitrat trong cải bắp, nếu bón
liều lượng quá cao 45 tấn PC/ha thì hàm lượng nitrat trong cải bắp tăng mạnh,
liều lượng thích hợp nhất để tăng năng suất và an toàn là 15 tấn PC/ha.
Phương pháp bón phân chuồng cũng ảnh hưởng rõ đến hàm lượng nitrat trong
rau: bón lót 50% và bón thúc 50% lượng phân chuồng làm tăng hàm lượng
nitrat trong bắp cải lên 834 mg NO3-/kg so với 529 mg NO3-/kg khi bón lót
100% lượng phân chuồng.
Thực tế hiện nay lượng phân chuồng sử dụng cho cây trồng rất ít do
nguồn phân hữu cơ và nguy hại hơn là tập quán rất phổ biến ở hầu hết các
vùng trồng rau trong cả nước là bón phân tươi, nước giải trực tiếp cho rau theo
định kỳ 3 - 5 ngày một lần, đây cũng là một nguyên nhân gây tích luỹ nitrat và
các hoá chất độc hại trong rau.[11][14]
Phân vi lượng
11


Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Sự tích luỹ NO3- gắn liền với quá trình khử NO3- và quá trình đồng hoá
đạm trong cây. Các quá trình này liên quan chặt chẽ đến các quá trình khác
như quang hợp, hô hấp và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ enzim và các hợp
chất cao năng. Hiện nay có khoảng 1000 hệ enzim trong đó có khoảng 1/3 số
hệ enzim này được hoạt hoá bằng các nguyên tố vi lượng. Điển hình là các
enzim tham gia trong chuỗi phản ứng khử NO3- thành NH4+ như
Nitratreductaza chứa Mo, Cu và Hydroxylaminreductaza chứa Mn, Mo. Cây
trồng nghèo Bo dẫn đến tích luỹ NO3- trong thân và rễ, lá do bị ức chế quá
trình khử NO3- tổng hợp aminoacid. Thiếu Mn ảnh hưởng nghiêm trọng tới



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status