xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 2 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN HỌC
------------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO
MỞ RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM
CHO HỌC SINH LỚP 2

Giáo viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

ThS. Trịnh Thị Hương

Nguyễn Thị Hồng Tươi
MSSV: 1110344
Lớp: SP Tiểu Học - K37

CẦN THƠ, 05/2015


LỜI CẢM ƠN
-----------Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ –
khoa Sư Phạm – Bộ môn Toán đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến
thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS. Trịnh Thị Hương, là
người trực tiếp hướng dẫn, hổ trợ, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các bạn sinh viên lớp Sư phạm Tiểu học - K37 đã


BT

Bài tập

VBT

Vở bài tập

NXB

Nhà xuất bản

iii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài..................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................ 1
3. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 3
4. Đối tượng, phạm vi ................................................................................................ 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................... 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................... 4
6. Đóng góp đề tài ...................................................................................................... 4
7. Cấu trúc luận văn .................................................................................................. 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY ...................... 6
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 ....................................................... 6
1.1. Cơ sở lí luận ........................................................................................................ 6

3.4. Kế hoạch bài dạy chủ điểm 6: Bác Hồ, Nhân dân ........................................... 91
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 98

v


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt giữ vai trò quan trọng đối với học sinh tiểu học trong việc hình
thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nghe, nói, viết) để học tập và
giao tiếp. Việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy
cơ bản, góp phần nâng cao phẩm chất tư duy, năng lực nhận thức. Bên cạnh đó, cung
cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng
Việt, giúp học sinh hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn
học Việt Nam và nước ngoài. Thông qua đó cũng bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và
hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình
thành nhân cách con người Việt.
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn quan trọng của môn Tiếng việt, nhằm
mở rộng vốn từ, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấu tạo của các
từ thông qua vốn từ các em sẵn có các từ mới học. Đồng thời rèn kỹ năng nói, viết
thành câu, dùng một số dấu câu khi viết, cung cấp những mẫu câu cần thiết để học sinh
vận dụng trong giao tiếp và học tập.
Nhưng trong đó, “Mở rộng vốn từ” vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: Vốn từ
của học sinh còn nghèo nàn, vốn ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế, nên khi gặp những
dạng bài tập Mở rộng vốn từ nâng cao các em còn rất lúng túng.
Đặc biệt đối với học sinh lớp 2, vốn sống, vốn từ của các em còn quá ít trong
khi từ ngữ Việt Nam rất phong phú, đa dạng. Xuất phát từ lý do trên, người viết đã
chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho
học sinh lớp 2” để nghiên cứu.

khoa Tiếng Việt 2.
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh, Hoàng Văn Thung
viết cuốn Dạy con học Tiếng Việt 2 ở nhà (2007) nhằm hướng dẫn cho cha mẹ học
sinh giúp con học tập. Cuốn sách tham khảo này có 3 phần: Phần 1 trình bày Phương
pháp luyện kỹ năng thực hành các bài tập, Phần 2 trình bày Hệ thống các bài tập trong
vở bài tập Tiếng Việt 2, phần 3 Gợi ý cách giải các bài tập. Cuốn sách này có đóng
góp trong việc đưa ra một số dạng bài tập theo từng tiết học và gợi ý cách giải các bài
tập đó giúp phụ huynh dễ dàng hướng dẫn con em mình học môn Tiếng Việt được tốt
hơn. Nhưng các bài tập này không lập thành hệ thống theo chủ điểm như chương trình
học của HS.
Tác giả Nguyễn Trí (Chủ biên) với Tài liệu tham khảo dành cho GV và HS khi
dạy và học môn Tiếng Việt 2 mang tên Để dạy học tốt Tiếng Việt 2 (2004), cuốn tài
liệu được chia làm 2 phần: Phần 1 trình bày Những điểm cần lưu ý chung về dạy - học
môn Tiếng Việt 2, trong đó có phân môn Luyện từ và câu; Phần 2 trình bày Gợi ý làm

2


bài tập và các bài tập bổ trợ. Tài liệu này gợi ý cách giải những bài tập trong chương
trình học một cách rõ ràng, dễ hiểu và còn đưa thêm một hệ thống bài tập hỗ trợ cho
từng bài học để giáo viên có thể dùng trong giờ dạy.
Tác giả Hoàng Văn Thung, Hoàng Cao Cương, Trần Thị Minh Phương, Phạm
Thị Kim Oanh viết cuốn Bài tập bổ trợ và nâng cao Tiếng Việt Tiểu học, Quyển 2
(2011) nhằm chỉ dẫn cho HS lớp 2 củng cố các kiến thức và kĩ năng đọc - hiểu, về
chính tả, từ ngữ và ngữ pháp, tập làm văn. Ngoài ra còn cung cấp thêm một số bài tập,
trong đó có bài tập nâng cao để các em được luyện tập, thực hành tiếng Việt nhiều
hơn. Nội dung các bài tập bám sát chương trình SGK, phần giải đáp mang tính hướng
dẫn, tham khảo để tự học sinh đánh giá kết quả làm bài. Tuy nhiên, sách còn hạn chế
là bài tập mà sách cung cấp thêm cho tất cả các phân môn nên ở mỗi phân môn có số
lượng bài tập ít.

Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân
dân.
Luận văn đã tích hợp các chủ điểm trên lại sau đó tiến hành xây dựng hệ thống
bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo 6 chủ điểm lớn, đó là:
- Chủ điểm 1: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô
- Chủ điểm 2: Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà
- Chủ điểm 3: Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú
- Chủ điểm 4: Sông biển
- Chủ điểm 5: Cây cối
- Chủ điểm 6: Bác Hồ, Nhân dân
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp này được dùng để phân loại các
dạng bài tập.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được dùng để phân tích, tổng
hợp kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu,
đối chiếu chương trình phân môn Tiếng Việt trong sách Tiếng Việt 2 mới và chương
trình Tiếng Việt trong sách Tiếng Việt 2 cũ.
6. Đóng góp đề tài
Xây dựng được một hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm
cho lớp 2 phù hợp với nội dung chương trình giảng dạy, phù hợp với đặc trưng về tính
hệ thống của từ vựng, phù hợp với qui luật tích luỹ vốn từ.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Nội dung luận văn gồm 3 chương:

4



hoạt động chủ đạo. Hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát
triển tâm lí của học sinh tiểu học.
- Học sinh tiểu học là phạm trù tương lai. Đối với học sinh tiểu học thì tất cả còn ở
phía trước, các em sống luôn hướng tới ngày mai, hướng tới tương lai chứ chưa bị níu
kéo bởi quá khứ, các em dễ thích nghi, dễ tiếp nhận cái mới.
Học sinh tiểu học có thể phân ra theo hai cấp độ phát triển:
- Cấp độ I (cấp độ thứ nhất): gồm các lớp 1, lớp 2 và lớp 3, trong cấp độ này thì lớp 1
là lớp đặc biệt, được nhiều người cho là “Cửa ải lớp 1”, hay như câu nói trong dân
gian “Vạn sự khởi đầu nan”. Lớp 1 là đầu vào bậc Tiểu học.

6


- Cấp độ II (cấp độ thứ hai): gồm lớp 4 và lớp 5. Lớp 5 được coi là đầu ra của cấp Tiểu
học.
a. Đặc điểm của quá trình nhận thức
- Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về
tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ
mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn.
Học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học tri giác còn yếu nên thường thâu tóm sự vật về toàn
bộ, về đại thể để tri giác. Khi tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực
tiễn của bản thân. Đối với trẻ, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật,
như cầm, nắm, sờ, mó vào sự vật ấy. Những gì phù hợp với nhu cầu của các em,
những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của bản thân,
những gì được giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác, “trăm nghe không bằng
một thấy, trăm lần thấy không bằng một lần tự làm”.
Khi học sinh tri giác thì cảm xúc của các em thể hiện rất rõ. Điều mà học sinh tiểu học
tri giác đầu tiên từ sự vật là những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các
em xúc cảm. Vì thế cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt

Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn
trí nhớ từ ngữ - lôgíc, vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở các
em tương đối chiếm ưu thế. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng
cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời. Học sinh
nhỏ ở lớp một và lớp hai có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại
nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, chưa hiểu ý nghĩa của tài liệu học tập
cần ghi nhớ. Các em thường học thuộc lòng tài liệu theo từng câu, từng chữ mà không
sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình.
Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tích cực học tập của học sinh quy
định. Điều này còn phụ thuộc vào kĩ năng nhận biết và phân biệt các nhiệm vụ ghi
nhớ. Hiểu mục đích của ghi nhớ và tạo ra được tâm thế thích hợp là điều rất quan trọng
để học sinh ghi nhớ tài liệu học tập.
- Tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh
tiểu học. Nếu tưởng tượng của học sinh phát triển yếu, không đầy đủ thì sẽ gặp khó
khăn trong hành động, trong học tập.
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em tuổi
mẫu giáo. Nó được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác
của các em. Tuy nhiên tưởng tượng của học sinh tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức,
hình thành của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững.

8


Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện
thực hơn. Về mặt cấu tạo hình tượng, tưởng tượng của học sinh tiểu học chỉ lặp lại
hoặc thay đổi chút ít về kích thước, về hình dạng những tưởng tượng đã tri giác được.
Các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát và trừu
tượng hơn.
- Tư duy

thần kình yếu; tính nóng nẫy, không bình tĩnh có thể là sự biểu hiện của quá trình ức
chế thần kinh yếu.
Ở lứa tuổi này dễ nhận ra tính xung động trong hành vi của các em. Do vậy mà hành vi
của học sinh tiểu học dễ có tính tự phát, dễ vi phạm nội quy và thường bị xem là “vô kỉ
luật”. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự điều chỉnh của ý chí đối với hành vi của
trẻ em lứa tuổi tiểu học còn yếu, các em chưa biết đề ra mục đích hoạt động và theo
đuổi mục đích đó đến cùng.
Tính cách của học sinh tiểu học có nhược điểm thường bất thường, bướng bỉnh.
Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như tính hồn nhiên, ham hiểu biết,
lòng thương người, lòng vị tha.
Niềm tin của học sinh tiểu học còn cảm tính, chưa có lí trí soi sáng dẫn dắt nên mọi
điều đưa đến cho các em cần phải đúng, phải chính xác, vì nếu không thì khi trẻ đã có
niềm tin vào điều gì đó, khi niềm tin được định hình, khắc sâu thì rất khó thay đổi dù
điều đó là sai trái.
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tính bắt chước của các em vẫn còn đậm nét. Các
em bắt chước hành vi, cử chỉ của giáo viên, của những người được các em coi như
“thần tượng”.
Học sinh tiểu học thích hoạt động và thích làm việc gì đó phù hợp với mình,
nên có thể sớm hình thành ở các em thói quen đối với lao động phù hợp tâm sinh lí.
- Nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức hình thành và phát triển ở trẻ em từ tuổi thơ. Trở thành học
sinh lớp một, nhu cầu nhận thức của trẻ em phát triển và thể hiện rõ nét, đặc biệt là
nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết mọi thứ có liên quan. Trước
hết là nhu cầu cần tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẽ, tiếp đến, lên lớp trên, là
nhu cầu gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, tính qui luật các mối quan hệ và quan
hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng.
Lúc đầu là nhu cầu có tính chất chung, sau đó là nhu cầu có tính chọn lọc theo nhu
cầu, sở thích của các em.
Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học là nhu cầu tinh thần. Nhu cầu này có ý
nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của các em. Nếu không có nhu cầu nhận thức thì

Ở trẻ 7 - 9 tuổi, các phản xạ có điều kiện dương tính được hình thành nhanh
hơn. Ở một số trẻ những phản xạ đó trở thành bền vững ngay từ lúc xuất hiện. Phản xạ
với phức hợp các kích thích tác động nối tiếp được hình thành dễ dàng và ngay lập tức
với toàn bộ phức hợp. Thời gian tiềm tàng của phản xạ được rút ngắn rõ rệt so với tuổi
mẫu giáo.
Đặc điểm nổi bậc của lứa tuổi này là các phản xạ có điều kiện dương tính và âm tính
đều được củng cố nhanh chóng; các phản xạ đó có độ ổn định cao đối với những tác
động bên ngoài, các quá trình thần kinh được tập trung nhanh hơn.

11


Ở trẻ 10 - 12 tuổi, các phản xạ có điều kiện dương tính đối với những kích thích
đơn giản hay phức tạp đều xuất hiện nhanh, thường trở thành bền vững ngay lập tức.
Những cử động thừa và không phù hợp nào đó của phản ứng đều bị mất đi. Các phản
xạ có điều kiện có độ bền vững cao đối với các kích thích bên ngoài, bắt đầu dễ dàng
làm lại các phản xạ có điều kiện.
Ảnh hưởng cảm ứng khá mạnh và sự mất đi nhanh chóng của các hậu quả của các tác
nhân gây ức chế chứng tỏ các quá trình thần kinh có khả năng tập trung nhanh.[5, 30]
b. Đặc điểm phát triển các cơ quan phân tích ở học sinh tiểu học
Lúc 7 tuổi, thể tích các vùng vỏ não của các cơ quan phân tích vận động tổng
cộng gần bằng 80% so với thể tích ở người lớn. Sự tăng trưởng nhanh của cơ quan
phân tích vận động diễn ra lúc 7 và 12 tuổi. Sự phân hóa của vùng vỏ não của cơ quan
phân tích thị giác diễn ra đặc biệt nhanh vào lúc 7 - 12 tuổi.
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, các chức năng của các cơ quan phân tích đạt tới sự
hoàn diển rõ rệt. Lúc 10 tuổi, điểm nhìn thấy rõ gần nhất nằm ở khoảng cách 7cm từ
mắt, và thể tích điều tiết bằng 14 điôp. Mức độ mở rộng của đồng tử trong bóng tối đạt
tới độ lớn trung bình ở người lớn. Thành của ống tai được cốt hóa khi tới 10 tuổi và sự
phát triển của các cơ quan thính giác nói chung được kết thúc vào lúc 12 tuổi. Lúc 8 10 tuổi thì ngưỡng thời gian của thính giác là lớn nhất.
c. Đặc điểm phát triển hệ cơ - xương ở học sinh tiểu học

năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự tìm tòi kiến thức thông qua
các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình
nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà tri thức, tư duy, tưởng
tượng, ghi nhớ, chú ý...của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua
ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể
đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Trong học tập Tiếng Việt và phân môn Luyện từ và câu, do vốn từ của HS lớp 2
rất hạn chế nên kĩ năng sử dụng vốn từ của các em chưa thành thạo, các em còn lúng
túng rất nhiều trong việc lựa chọn từ ngữ cho phù hợp, sử dụng sai từ dẫn đến không
đạt hiệu quả giao tiếp và học tập cao, và thường thấy nhất là các em hiểu sai hay hiểu
chưa đầy đủ nghĩa của từ.
1.1.2. Lí thuyết về từ tiếng Việt
1.1.2.1. Khái niệm từ tiếng Việt
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc
điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một
kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.
Ta thấy được, từ của tiếng Việt có tính cố định và bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và
chức năng trong câu.
1.1.2.2. Các thành phần ý nghĩa của từ

13


Khi nói đến ý nghĩa của từ, ta hiểu đó là một tập hợp của những thành phần ý
nghĩa khác nhau, ứng với các chức năng khác nhau của từ. Trong ngôn ngữ học hiện
đại, người ta thường phân biệt bốn thành phần ý nghĩa của từ (ở đây phải tạm coi là từ
chỉ có một nghĩa) đó là:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật.
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm.
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.

thống nằm trong hệ thống là từ vựng của một ngôn ngữ.
Có thể chia hệ thống từ vựng thành các trường nghĩa theo từng tiêu chí.
Trường nghĩa biểu vật: Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ cùng biểu thị
một phạm vi sự vật, hiện tượng thực tế khách quan. [4, 172]
Cơ sở để xác lập trường nghĩa biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật
của các từ.
Trường nghĩa biểu niệm: Trường nghĩa biểu niệm là một tập hợp các từ có
chung một cấu trúc biểu niệm. [4, 178]
Căn cứ để phân lập các trường nghĩa biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của từ. Cấu
trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều từ.
Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm đều thuộc loại trường nghĩa dọc.
Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang). Để lập nên các trường nghĩa
tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó
thành những chuổi tuyến tính chấp nhận được trong ngôn ngữ.
Trường liên tưởng là tập hợp bao gồm những từ cùng nằm trong trường biểu
vật, trường biểu niệm và truyền tuyến tính, tức là có những từ có quan hệ cấu trúc
đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa tới từ trung tâm.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học
1.2.1.1. Khái niệm phương pháp dạy - học
Theo lời khẳng định của GS.TS Lê A thì : Trong khoa học giáo dục và lí luận
dạy học bộ môn chưa có một cách định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn thống nhất
về thuật ngữ phương pháp dạy học. [1, 15]
Có thể dẫn ra một vài định nghĩa phương pháp dạy học trong nhiều quan niệm
về phương pháp dạy học như:
“Phương pháp dạy học là cách thiết kế trình bày tài liệu ngôn ngữ cũng như
phương thức tổ chức các hoạt động học tập, sử dụng ngôn ngữ của học sinh nhằm thực
hiện những mục tiêu dạy học đã định”. [19, 224]
Phương pháp dạy học là tổ chức các cách thức hoạt động của giáo viên và của
học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên sự

hình thức đọc sách giáo khoa và hình thức làm bài tập.
1.2.1.3. Một số phương pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu: là phương pháp mà thầy giáo chọn giới thiệu các
hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của
chúng rồi bắt chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình.

16


Phương pháp dạy học này thường được dùng để hướng dẫn học sinh làm các bài tập về
rèn luyện kỹ năng mở rộng vốn từ và cấu tạo câu.
- Phương pháp sử dụng trò chơi: Ngoài mục đích vui chơi, phương pháp này còn rèn
luyện về thể lực, các giác quan, trí tuệ, tạo cơ hội giao lưu với mọi người.
- Phương pháp thực hành: hình thức thực hiện là ra bài tập và làm bài tập. Phương
pháp thực hành giúp học sinh nắm vững khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm.
Ngoài ra còn có một vài phương pháp chỉ có trong dạy tiếng Việt và thường được sử
dùng phổ biến trong nhiều phân môn Tiếng Việt ở tiểu học:
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ: là phương pháp được sử dụng một cách có hệ
thống trong việc xem xét tất cả các mặt của ngôn ngữ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấu
tạo từ, chính tả, phong cách với mục đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ,
hình thức và cách thức cấu tạo, ý nghĩa của chúng trong nói năng. Các dạng phân tích
ngôn ngữ : quan sát ngôn ngữ, phân tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích chính
tả, phân tích tập viết, phân tích ngôn ngữ các tác phẩm văn chương...
- Phương pháp giao tiếp (thực hành giao tiếp): là phương pháp dạy tiếng dựa vào lời
nói, vào những thông báo sinh động, vào việc tổ chức quá trình giao tiếp bằng ngôn
ngữ một cách có hiệu quả trong những tình huống nói năng điển hình và những tình
huống nói năng cụ thể. Phương pháp này gắn liền với phương pháp luyện theo mẫu.
- Phương pháp luyện theo mẫu: là phương pháp mà học sinh tạo ra các đơn vị ngôn
ngữ, lời nói bằng mô phỏng lời thầy giáo, sách giáo khoa…
Các phương pháp thường được sử dụng phối hợp chặt chẽ, không có phương

từ của một học sinh ở địa bàn nông thôn cũng sẽ khác với vốn từ một học sinh thành
thị, giữ miền xuôi và miền núi,…
Từ đó cho thấy, có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến việc tích lũy vốn từ của học
sinh như môi trường sống, địa bàn cư trú,…ngoài ra còn có những đặc trưng tâm lí, lứa
tuổi, sinh lí cũng làm ảnh hưởng.
Nhìn chung, vốn từ của học sinh tiểu học là một vấn đề phức tạp “do vốn từ của
học sinh tiểu học chủ yếu hình thành qua cách học tự nhiên, vô thức, dựa vào ngữ
cảnh, vào tình huống giao tiếp để phỏng đoán nghĩa của từ… cho nên trong vốn từ
này, có một số từ không được hiểu đúng về âm thanh - chữ viết, học sinh hiểu sai hoặc
chưa đầy đủ về nghĩa, sử dụng từ không đúng hoặc chưa thích hợp.
Phương pháp mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học:
Theo Lê Hữu Tỉnh, dạy mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học phải dựa vào quy
luật nhận thức của con người nói chung, trẻ em nói riêng. Đồng thời cũng dựa vào qui
luật liên tưởng của con người, cụ thể dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong đầu
óc con người.
Khi mở rộng vốn từ cho học sinh, cần chú ý qui luật trên để cung cấp những từ
ngữ cần thiết cho các em. Cung cấp từ trái nghĩa, từ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa, những

18


từ có quan hệ ngữ nghĩa với nhau. Chúng ta còn có thể hướng dẫn học sinh mở rộng
vốn từ dựa vào việc cung cấp những từ ghép hay từ láy cùng gốc,…
c. Rèn luyện kỹ năng sử dụng vốn từ cho học sinh là nhiệm vụ tiếp theo của việc dạy từ
ngữ
Để học sinh biết cách sử dụng vốn từ, ta phải dạy học sinh nắm chắc nghĩa của
từ. Có nhiều cách giải nghĩa từ như: giải nghĩa từ bằng cách chỉ ra nét nghĩa của từ đã
được liệt kê trong từ điển, giải nghĩa từ bằng cách dẫn ra những từ đồng nghĩa, trái
nghĩa với chúng,…Nhưng khi tổ chức dạy học nắm nghĩa từ, cần lựa chọn từ để giải
nghĩa dựa trên nguyên tắc tính vừa sức, tính cần thiết, và phải là những từ trung tâm

mĩ cho học sinh.
1.2.3.2. Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2
Môn Tiếng Việt 2 gồm 6 phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập
viết, Kể chuyện, Tập làm văn. Phân môn Luyện từ và câu được dạy mỗi tuần 1 tiết.
a. Về vốn từ
Ngoài các từ ngữ được dạy qua các bài tập đọc, chính tả, tập viết,...học sinh
được cung cấp vốn từ một cách có hệ thống trong các bài từ ngữ theo chủ đề.
Học sinh học thêm khoảng 300 - 350 từ ngữ theo các chủ đề: học tập; ngày, tháng,
năm; đồ dùng học tập; các môn học; họ hàng; đồ dùng và công việc trong nhà; tình
cảm, công việc gia đình; tình cảm gia đình; vật nuôi; các mùa, thời tiết, chim chóc, các
loài chim; muông thú, loài thú; sông biển; cây cối; Bác Hồ; nghề nghiệp.
Ngoài ra còn có các chủ đề mở rộng vốn từ theo ý khái quát của từ ở các bài
học như: Từ chỉ sự vật, Từ chỉ hoạt động, Từ chỉ hoạt động, trạng thái, Từ chỉ đặc
điểm, Từ chỉ tính chất và có một bài về lớp từ: Từ trái nghĩa.
b. Các mảng kiến thức và kĩ năng về từ và câu
- Từ và câu.
- Các lớp từ: Từ trái nghĩa.
- Từ loại: Từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặt điểm, tính chất.
- Các kiểu câu: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Khẳng định, phủ định.
- Cấu tạo câu: Đặt, trả lời câu hỏi “Khi nào?”; Đặt, trả lời câu hỏi “Ở đâu?”; Đặt, trả
lời câu hỏi “Như thế nào?”; Đặt, trả lời câu hỏi “Vì sao?”; Đặt trả lời câu hỏi “Để làm
gì?”.
- Dấu câu: Dấu chấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu chấm.
- Ngữ âm - chính tả: Tên riêng và cách viết tên riêng.
1.2.3.3. Chuẩn kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt ở Tiểu học và lớp 2
Chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng
của môn học, hoạt động giáo dục mà học sinh cần phải và có thể đạt được. Chuẩn kiến
thức, kĩ năng được cụ thể hóa ở các chủ đề của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status