Pháp luật việt nam về quan hệ nuôi con nuôi cỏ yếu tổ nước ngoài - Pdf 33

NHẬN
GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI
HỌCXÉT
CẰNCỦA
THƠ
KHOA
LUẬT
— oa go

Bộ MÔN KINH DOANH - THƯƠNG MẠI
— GS So —

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2007 - 2011
ĐẺ TẢI:
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN
HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YỂU TỐ
Nước NGOÀI

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thưc hiên:

Th.s Bùi Thị Mỹ Hương

Phan Thị Như Ngọc
MSSV: 5075284
Cần Thơ, ngàyLóp:
... tháng
... năm

5. Kết cấu đề tài.............................................................................................................2
CHƯƠNG1
KHÁI QUÁT CHUNG VÈ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TÓ NƯỚC NGOÀI
1.1.

Lược sử nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam
qua

các thòi kỳ.............................................................................................................................4
1.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng thảng Tám 1945 ...............................................4
1.1.2. Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000..................................................................................................................5
1.1.3. Giai đoạn từ sau Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đến nay..................8
1.2....................Khái niệm, hình thức, mục đích nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
...................................................................................................................................9
1.2.1. Khái niệm nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài..............................................9
1.2.2. Hình thức nuôi con nuôi có yếu to nước ngoài...............................................9
1.2.3............................................................................................................................ M
ục đích nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài...............................................................11
1.3.

Các trường họp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong Luật Nuôi con

nuôi năm 2010....................................................................................................................11
1.3.1. Nuôi con nuôi giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước
ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tể về con nuôi


1.5.2. Nguyên tẳc giải quyết xung đột pháp luật trong nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài.......................................................................................................................19

2.3.2. Trình tự thủ tục giới thiệu trẻ được nhận làm con nuôi..................................38


2.8.1. Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên
giới..............................................................................................................................47
2.8.2. Trình tự thủ tục xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở
khu vực biên giới........................................................................................................47
CHƯƠNG 3
ĐIỀM MỚI TRONG LUẬT NUÔI CON NUÔI, NHẬN XÉT CHUNG VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT YÈ NUÔI CON
NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
3.1.

Luật Nuôi con nuôi và những điểm mói trong nuôi con nuôi có yếu tố
nước

ngoài.....................................................................................................................................49
3.2.

Nhận xét chung về các quy phạm pháp luật và thực trạng quy phạm
pháp

luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Yiệt Nam..................................................53


LỜI NÓI ĐẦU
— 03 so —
1. Lý do chọn đề tài
Nuôi con nuôi hiện nay đang là vấn đề đuợc xã hội quan tâm, đặc biệt nuôi con
nuôi có yếu tố nuớc ngoài hiện đang diễn ra phổ biến và phức tạp nhu hiện nay. Nhà

3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm hai mục đích chủ yếu là:
Thứ nhất, nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật về nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, đề tài phân tích và làm rõ các quy định mới trong Luật Nuôi con nuôi
2010 về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, góp phần trong việc thi hành và áp dụng
tốt các quy định giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích luật
viết, liệt kê và so sánh đưa ra các nhận định về các quan điểm pháp luật nhằm làm rõ
các quy định. Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng các phưomg pháp quy nạp và diễn dịch
dựa trên việc phân tích luật viết, tổng họp nhằm đem lại cái nhìn đúng về các quy định
pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
5. Kết cấu đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về nuôi con nuôi qua có yếu tố nước ngoài
Nội dung chủ yếu của chương này tập trung sơ lược nói về lịch sử hình thành
quan hệ nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn, cũng như quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, chương này còn đưa ra khái quát về
nuôi con nuôi, các đặc trưng cơ bản về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Chương này có nội dung là các phân tích các quy định về nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam, chủ yếu là ương Luật Nuôi con nuôi hiện
hành gồm có 3 vấn đề chính:
- Các điều kiện về chủ thể nhận nuôi con nuôi và được nhận con nuôi có yếu tố
nước ngoài, quyền và nghĩa vụ của người nhận con nuôi, người được nhận con nuôi.
- Thẩm quyền, trình tự thủ tục trong xác lập quan hệ nuôi con nuôi
- Các vấn đề như chấm dứt, căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi, hệ quả của
việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi, nuôi con nuôi ở khu vực biên giới.
Chương 3: Điểm mới trong Luật Nuôi con nuôi, nhận xét chung và phương hướng

hạn chế và không tiến bộ như Bộ Luật Hồng Đức. Bên cạnh đó, Bộ Luật Gia Long
cũng như Luật Hồng Đức không điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài mà chỉ
điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi trong nước, chủ yếu là trong huyết thống dòng họ do
ảnh hưởng tư tưởng “duy trì nòi giống”.
Giai đoạn phong kiến này, nuôi con nuôi phát sinh từ nhu cầu cần lao động.
Người nuôi con nuôi thường được cho hoặc được bán cho những địa chủ, giai cấp quý
tộc vua chúa phong kiến bị bóc lột sức lao động. Những người lao động nghèo khổ,
không có đất đai canh tác, gia đình nhiều lao động phải đi ở cho những người giàu.
Một số trong đó đi làm con nuôi của những người hiếm muộn về con cái, nhằm thoát
khỏi tình trạng đói nghèo. Trong thời này, nuôi con nuôi cũng nhằm mục đích đảm bảo
sự duy trì huyết thống, kế tục tổ tiên thờ cứng của những gia đình không có con cái,
người nhận con nuôi mong muốn có sự may mắn sẽ có con khi nhận con nuôi. Những
gia đình này thường hiếm muộn con cái hoặc không thể có con, chết do bệnh tật hay
chiến tranh. Xung quanh việc nuôi con nuôi cũng có những nguyên nhân do tính nhân
đạo, muốn làm việc thiện, tích công đức bởi ảnh hưởng của đạo giáo như Phật giáo,


2 Ngô Vãn Thâu, Pháp luật về Hôn nhân vả gia đình trước vả sau Cách mạng tháng Tám, NXB Tư pháp, Hà
Nội, tr 99.
3 Ts.
Nông Quốc Bình,
Quan hệ
hôn nhân và gia
đình có
Dù có nhiều nguyên nhân, nhưng những người đi làm con nuôi trong giai đoạn yếu tố nước
ngoài ở
Việt Nam trong
thời kỳ này chủ yếu do nhu cầu cuộc sống bị áp bức, bóc lột muốn thoát khỏi nghèo khổ và sự hội nhập
quắc tế
(2006), NXB Tư

củng cố và bảo vệ chính quyền, chống thù trong giặc ngoài và thống nhất hai miền
Nam - Bắc. Chính vì đất nước còn nhiều khó khăn nên trong thời gian này có ít văn
bản pháp luật về hôn nhân và gia đình được ban hành. Đến khi nước ta thông qua bản
Hiến pháp mới tại kỳ họp Quốc hội thứ 11, ngày 31 tháng 12 năm 1959, xuất phát từ
thực trạng hôn nhân và gia đình trong thời kỳ mới, Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11, ngày 29 tháng 12 năm 1959 và
được Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 02/SL công bố ngày 13 tháng 01 năm 1960 4.
Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình 1959 lại không điều chỉnh quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
cũng không có quy định điều chỉnh. Nuôi con nuôi chưa được quy định điều chỉnh của


5 Điều 14 Luật Quốc tịch năm 1998.

phạm vi trong nước. Đất nước còn chiến tranh, đời sống chưa ổn định, nạn đói và sự
ảnh hưởng thời phong kiến, đạo Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc trong nhân dân
nên việc nuôi con nuôi với người nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, hôn
nhân và gia đình và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn là hoạt động chưa được
Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định điều chỉnh.
❖ Giai đoạn từ sau Luật hôn nhân và gia đình 1959 đến Luật hôn nhân và
gia đình 1986
Trong giai đoạn này pháp luật về hôn nhân và gia đình đã có sự phát triển và tiến
bộ so với thời kỳ trước đó. Pháp luật đã có những văn bản quy định điều chỉnh những
quan hệ hôn nhân gia đình, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được quy định và
giải quyết. Tuy nhiên, do chỉ mới có những quy định ban đầu chưa được cụ thể và
hoàn thiện nên còn gây khỏ khăn trong việc áp dụng, thi hành và giải quyết khi có các
vấn đề mới phát sinh.
Cũng vì thế, ngày 29 tháng 12 năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc
hội thông qua, luật này đã có bước phát triển hơn trong việc quy định điều chỉnh về
các vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng lại gây ra sự thiếu sót

ngoài nhận con nuôi là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do
ngành lao động - thương binh và xã hội quản lý một cách chi tiết, cụ thể hóa các vấn
đề về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài6. Nghị định 184/CP năm 1994, quy định thủ
tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nhận đỡ đàu giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài, Hiến pháp năm 1992, Luật Dân sự 1995... cũng đã có nhiều quy định điều
chỉnh về trình tự thủ tục, thời hạn, quyền hạn, trách nhiệm giải quyết của cơ quan nhà
nước cũng như điều kiện của người nhận con nuôi và con nuôi. Trong đó, các vấn đề
về xác lập quan hệ nuôi con nuôi với người nước ngoài, điều kiện về chủ thể, đạo đức,
năng lực hành vi dân sự đầy đủ... cũng được quy định khá đầy đủ, góp phần giải quyết
các vấn đề về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Tuy vậy, trong quá trình giải quyết quan hệ nuôi con nuôi với người nước ngoài
vẫn con nhiều khó khăn hạn chế cần quy định điều chỉnh, công tác quản lý chưa thống
nhất ở các nơi và trong thẩm quyền giải quyết, việc áp dụng pháp luật giải quyết, xung
đột pháp luật. Nhà nước ta đã thấy được những khó khăn trên và yêu cầu của xã hội
nên đã có bước tiến bộ trong việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình 2000, cũng như
việc ký kết các hiệp định với các nước trong việc giải quyết các vấn đề hôn nhân gia
đình, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, văn bản pháp luật điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này khá đầy đủ và thống nhất,
phù hợp với các hệ thống pháp luật quốc tế như: Công ước của Liên hiệp quốc về
quyền trẻ em 1989, Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác bong vấn đề nuôi con
nuôi giữa các nước 1993... Các vãn bản ừên đã góp phần giải quyết các khó khăn
trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này.
1.1.3.

Giai đoạn từ sau Luật hôn nhân và gia đình 2000 đến nay

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá hoàn
chỉnh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cũng như văn bản điều chỉnh quan hệ hôn
nhân và gia đình, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, xã hội ngày càng
phát triển thì quan hệ có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp, nhất là


1.2.1.

Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi là một khái niệm mang tính chất gia đình, khi phát sinh quan hệ
này xuất hiện hai chủ thể người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi con nuôi,
cùng xác lập mối quan hệ gia đình nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật và tuân
thủ các điều kiện về nuôi con nuôi. Nuôi con nuôi là một quyền và được pháp luật ghi
nhận và bảo vệ (Điều 44 - Luật dân sự 2005), đồng thời được quy định rõ trong các
văn bản pháp luật. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ con giữa người nhận
con nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhằm tạo cho người được nhận làm con
nuôi có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, giáo dục tốt, phù họp đạo đức xã hội (Điều 2 -


Nuôi con nuôi là một nghĩa cử cao đẹp, thể hiện tình cảm con nguời với nhau,
thể hiện tinh thần nhân đạo. Vì vậy nuôi con nuôi cần đuợc khuyến khích, phù hợp
mục đích và yêu cầu xã hội, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nguời đuợc nhận làm con
nuôi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Nuôi
con nuôi là việc lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được
nhận làm con nuôi”.Theo khoản 5 - Điều - 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 định nghĩa
nuôi con nuôi cỏ yếu tố nuớc ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
nguời nuớc ngoài, giữa nguời nuớc ngoài với nhau thuờng trú ở Việt Nam, giữa công
dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.
Cũng như ừên đã phân tích, ta có thể hiểu nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là
việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con có yếu tố nước ngoài. Ở mỗi quốc gia có sự khác
nhau về việc xác định cỏ yếu tố nước ngoài trong việc nuôi con nuôi, tuy nhiên chủ
yếu vẫn dựa vào yếu tố chủ thể để xác định yếu tố nước ngoài. Chính vì vậy, Việt Nam
cần ngày càng hoàn thiện hệ thống về nuôi con nuôi hơn nữa để điều chỉnh phù họp
với pháp luật quốc tế.

cụ thể nuôi con nuôi trong nước hay nuôi con nuôi nước ngoài.
Trong các trường họp việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi, yếu tố tình cảm gia
đình luôn được đảm bảo và quan tâm, nhằm đảm bảo mục đích của việc nuôi con nuôi.
Pháp luật về nuôi con nuôi còn quy định người nhận nuôi con nuôi được nhận nhiều cá
nhân làm con nuôi nhưng người làm con nuôi chỉ được làm con nuôi của một người
(khoản 3 - Điều 8 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010). Nuôi con nuôi đích danh là việc
xác định được con nuôi là trẻ em nào trước khỉ xác lập việc nuôi con nuôi. Đối với
nuôi con nuôi đích danh, tùy theo từng trường hợp và từng chủ thể được quy định về
xin con nuôi đích danh, không phải chủ thể nào cũng được nhận nuôi con nuôi đích
danh mà phải theo quy định của chủ thể đáp ứng các quy định tại khoản 2 - Điều 28 Luật Nuôi con nuôi năm 2010.
1.2.3. Mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài
*ĩ* Mục đích xã hội
Theo Điều 2 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Việc nuôi con nuôi
nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người
được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giảo dục
trong môi trường gia đình ". Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội tiến bộ, nó đánh dấu
sự phát triển trong tư tưởng của con người khỏi ảnh hưởng của các tu tưởng lạc hậu
“sinh con nối dõi tông đường”, “duy trì nòi giống” và tư tưởng Nho giáo phong kiến
ngày xưa.
Nuôi con nuôi trong giai đoạn hiện nay, dù là nuôi con nuôi trong nước hay
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng nhằm mục đích chung là đem lại cuộc sống
tốt đẹp cho người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho trẻ em được giáo dục và phát
triển tốt, được quan tâm, chăm sóc trong môi trường nuôi con nuôi. Qua đó, nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài làm cho quan hệ nuôi con nuôi được mở rộng phạm vi chủ
thể, tạo điều kiện cho nuôi con nuôi phát triển và người nhận nuôi con nuôi, người làm
con nuôi có điều kiện xác lập quan hệ cha, mẹ và con.
•ĩ* Mục đích pháp luật
Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội mang tính chất gia đình, Đảng và Nhà nước
ta đã luôn chú trọng và quan tâm phát triển hệ thống pháp luật điều chỉnh về hôn nhân
gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, trẻ em là tương lai của đất nước nhưng xã hội

nuôi con nuôi điều chỉnh.
1.3.1.

Nuôi con nuôi giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước

ngoài
thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi
với
Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
Theo quy định pháp luật về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy
định tại khoản 1 - Điều 28 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010, trường họp nuôi con nuôi
giữa người Việt nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng
là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam làm con nuôi là một
trong những trường họp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh của
Luật Nuôi con nuôi. Theo quy định tại khoản 3 - Điều 3 - Luật Quốc tịch năm 2008
quy định về người Việt Nam định cư ở nước được hiểu là công dân Việt Nam và người


7
8

Khoản 4 - Điều 3 - Luật Quốc tịch năm 2008.
Điều 4 - Luật Quốc tịch năm 2008.
tịch Việt Nam, tuy nhiên người này đang cư trú và làm ăn, sinh sống tại nước ngoài.
Người có gốc Việt Nam là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh
ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ
đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài1. Đối với trường hợp là người Việt Nam
định cư ở nước ngoài mà có thêm quốc tịch tại nước đó thì nhà nước ta cũng chỉ công
nhận một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam 7 8. Việc xác định chủ thể tham gia vào quan
hệ nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài của Luật Nuôi con nuôi có sự khác biệt so với

Nam. Theo quy định tại khoản 2 - Luật Quốc tịch năm 2008 thì người có quốc tịch
Việt Nam bao gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt
Nam. Đối với trường hợp chủ thể nhận nuôi con nuôi là công dân Việt Nam nhận nuôi
con nuôi là ừẻ em nước ngoài được xem là một trường họp nhận nuôi con nuôi có yếu


Trên thực tế, việc nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi ở Việt Nam rất ít, chủ yếu trẻ
được nhận làm con nuôi là trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài. Việc nhận con
nuôi nước ngoài thường xuất phát từ yếu tố nhân đạo và nhu cầu con nuôi của mỗi cá
nhân, đối với cá nhân là công nhân Việt Nam nhà nước ta khuyến khích nhận nuôi con
nuôi trong nước vì yêu càu đảm bảo lợi ích và sự phát triển của trẻ được nhận làm con
nuôi.
1.3.3.

Nuôi con nuôi giữa người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận

con

nuôi

ử Việt Nam.
Đối với việc người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận nuôi con nuôi thì có
hai trường họp: người nước ngoài thường trú ở Việt Nam xin nhận trẻ em Việt
Nam làm con nuôi hoặc người nước ngoài nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.
Trong trường này, theo quy định của pháp luật về người nước ngoài, được hiểu là
người không có quốc tịch Việt Nam và bao gồm cả người không quốc tịch. Ngoài ra,
theo quy định tại khoản 5 - Điều 3 - Luật Quốc tịch năm 2008 quy định “Người nước
ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú
hoặc tạm trú ở Việt Nam ".Theo Hiến pháp 1992 quy định “Công dân nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”, với quy định này có thể

pháp luật điều chỉnh giải quyết nhằm đảm bảo quyền lợi ích họp pháp của các bên
tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một vấn đề
trong hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tức là những phương pháp điều chỉnh
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng được áp dụng giải quyết
trong nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài. Đây là những phương pháp chọn luật cơ bản
được các quốc gia sủ dụng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài
gồm hai phương pháp: phương pháp xung đột (Quy phạm xung đột) và phương pháp
thực chất (Quy phạm thực chất).
1.4.1.1, Phương pháp xung đột
Theo khoản 1 - Điều 29 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định “Người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người
Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo pháp luật nơi người đó thường trú", bên cạnh
đó còn tuân theo pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi. Điều này có nghĩa, ngoài việc
tuân thủ các điều kiện về nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam, người nhận nuôi con
nuôi con phải tuân thủ các điều kiện về nuôi con nuôi theo pháp luật mà người đó
thường trú. Trong trường họp việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài thì việc xác lập này được thực hiện theo pháp luật Việt
Nam mà ở đây là Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và theo pháp luật nơi người được nhận
làm con nuôi thường trú (Khoản 2- Điều 29 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010). Tức là,
trong trường họp người Việt Nam nhận nuôi con nuôi là người nước ngoài, thì phải
tuân thủ các điều kiện về nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam, còn phải tuân thủ
theo pháp luật nơi thường trú của con nuôi (pháp luật nước ngoài nơi thường trú của
trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi). Neu như vậy, trong trường họp này sẽ có
hai hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một mối quan hệ nuôi con nuôi, vấn đề pháp
luật áp dụng có thể dẫn đến xung đột pháp luật.
Phương pháp xung đột là phương pháp chỉ định áp dụng phải luật nào để giải
quyết để điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài dựa trên quy phạm xung đột pháp
luật của các nước mà chọn luật áp dụng. Đây cũng là quy phạm định ra nguyên tắc



vụ của các chủ thể các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, cũng như nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài. Nó là một quy phạm giải quyết trực tiếp các vấn đề, thông
qua các quy định điều chỉnh, ví dụ như tại khoản 2 - Điều 29 - Luật Nuôi con nuôi
năm 2010 quy định về điều kiện của người nhận nuôi con nuôi của người nhận nuôi
con nuôi là công dân Việt Nam “Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con
nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam (Luật Nuôi con


9 Ts. Nông Quốc Bình, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
quốc tế (2006), NXB Tư pháp, Hà Nội, ừ 73.
luật Việt Nam về điều kiện nhận con nuôi. Quy phạm thực chất đuợc xây dựng trong
các điều uớc quốc tế gọi là quy phạm thực chất thống nhất quy định trong hệ thống
pháp luật điều chỉnh các quan hệ có yếu tố nuớc ngoài 9. Việc xây dụng các quy phạm
thực chất thống nhất là một sự cần thiết, nó giúp đơn giản trong vấn đề chọn luật và áp
dụng pháp luật nuớc ngoài, phù họp với việc điều chỉnh các quan hệ dân sụ quốc tế.
1.4.2.

Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước

ngoài
Pháp luật các quan hệ về nuôi con nuôi đuợc quy định trong nhiều văn bản pháp
luật trong nước và quốc tế. Tuy có khác biệt nhau về nguồn pháp luật điều chỉnh,
nhưng điều có vai trò như nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài. Cũng giống như nguồn pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài khác, nuôi con nuôi có nguồn là điều ước quốc tế và
pháp luật trong nước là nguồn cơ bản và chủ yếu.
I.4.2.I.

Pháp luật quốc gia



Điều ước quốc tế là một nguồn pháp luật điều chỉnh cơ bản và phổ biến trong các
quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài của Việt Nam. Trong những năm gần đây,
nước ta đã ký kết nhiều điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với các nước như: Đài
Loan, Canada, Hoa Kỳ, Ân Độ, Pháp... Các điều ước nhằm đưa ra thỏa thuận giữa các
nước tham gia ký kết các điều khoản về nuôi con nuôi, bảo vệ quyền và lợi ích của
người nhận nuôi con nuôi và trẻ em làm con nuôi. Những quy định trong điều ước
quốc tế điều chinh một cách trực tiếp và thường được ưu tiên áp dụng trong các trường
họp có quy định áp dụng. Trong một số trường họp, điều ước quốc tế có những hiệu
của nhanh chóng trong vấn đề giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhưng do
nhiều nguyên nhân, Việt Nam chưa thể ký kết với nhiều nước các điều ước quốc tế về
nuôi con nuôi.
Ở mỗi quốc gia, pháp luật trong nước được coi là nguồn pháp luật cơ bản và chủ
yếu điều chỉnh mọi quan hệ pháp luật. Tuy vậy, ừong nhiều trường họp do các quan hệ
pháp luật phát sinh, nhất là các quan hệ có yếu tố nước ngoài ngày càng da dạng và
phức tạp nên cần áp dụng điều ước quốc tế để giải quyết. Các quy định pháp luật trong
trường họp này không có quy định điều chỉnh hoặc là pháp luật trong nước có quy
định điều chỉnh bằng điều ước quốc tế, nhưng điều ước quốc tế có liên quan quy định
áp dụng điều ước quốc tế thì trong trường họp này điều ước quốc tế được áp dụng. Khi
giải quyết các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, các cơ quan có thẩm quyền gặp
không ít khó khăn trong vấn đề chọn luật áp dụng do có các quan điểm khác nhau về
quan hệ pháp luật đó. Việc các quốc gia chấp nhận điều ước quốc tế và xem là một cơ
sở pháp lý để coi là nguồn của luật giải quyết các quan hệ pháp luật có tính quốc tế đó.
1.5.

Những nguyên tắc trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước
ngoài

Nuôi con nuôi là một quan hệ pháp luật có tính chất xã hội phức tạp, khi giải

nước
ngoài
Khi có một quan hệ pháp luật phát sinh mà có một bên là chủ thể nước ngoài
tham gia vào thì sẽ nảy sinh vấn đề chọn luật áp dụng để giải quyết. Việc xung đột
pháp luật thường xảy ra trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài và thường
gây khó khăn cho quá trình giải quyết do có nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh
một quan hệ hoặc các quy định điều chỉnh không thống nhất làm phát sinh mâu thuẫn.
Điều đó làm cho việc chậm trễ hoặc sai phạm ừong quá trình giải quyết các quan hệ
này cũng như trong giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nuôi con nuôi là
một quan hệ pháp luật luôn gắn liền với các quyền về con người, quyền nhân thân,
quyền tài sản của các chủ thể. Theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi ở Việt
Nam, việc áp dụng các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật trong nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài sẽ được dựa vào nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự.
Nguyên tắc luật nơi cư trú (lex domicili) là nguyên tắc điều các quan hệ pháp luật
có yếu tố nước ngoài theo pháp luật của nước nơi đương sự cư trú và cũng là nguyên


luật quốc tế. Trong các hiệp định về nuôi con nuôi có yếu tố nuớc ngoài giữa Việt
Nam và các nước cũng sử dụng nguyên tắc nơi cư trú của đương sự để giải quyết trong
một số trường họp. Theo quy định tại Khoản 2 - Điều 29 - Luật Nuôi con nuôi đã quy
định rất cụ thể việc áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú để giải quyết quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài trong trường họp nuôi con nuôi giữa người Việt Nam nhận
con nuôi là trẻ em nước ngoài “Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con
nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nơi
người làm con nuôi cư trú
Theo các phân tích trên ta thấy, việc áp dụng nguyên tác luật nơi đương sự cư trứ
là một bước đơn giản hóa việc dẫn chiếu của quy định xung đột và phù họp với thực
tế. Có thể nhận thấy, ừong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 chủ yếu dựa vào nguyên tắc
nơi cư trú để điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đây là sự
khác biệt lớn trong pháp luật giải quyết về nuôi con nuôi so với Luật Hôn nhân và gia

nguyện là hết sức khó khăn đối với cơ quan nuôi con nuôi, do các chủ thể cố ý làm sai
mục đích của việc nuôi con nuôi hoặc vì lợi ích của bản thân. Khi xác lập quan hệ nuôi
con nuôi thì mặc nhiên sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nhận nuôi con nuôi
với người được nhận nuôi con nuôi, đồng thời chấm dứt quyền và nghĩa vụ với cha mẹ
đẻ. Trong trường họp nuôi con nuôi trọn vẹn, nếu trẻ em được cho làm con nuôi ở với
cha mẹ đẻ thì phải được sự tự nguyện của cha mẹ đẻ và sự đồng ý của trẻ làm con nuôi
nếu trẻ đó từ 09 tuổi trở lên. Vì vậy, khi đãng ký xác lập quan hệ nuôi con nuôi, cơ
quan có thẩm quyền cần xác minh, lấy ý kiến, làm rõ các mối quan hệ cũng như
nguyện vọng của người nhận nuôi con nuôi, điều ưa xác minh kỹ các loại giấy tờ và
nguồn gốc con nuôi, quan hệ thành phần gia đình, hoàn cảnh gia đình gốc của ưẻ làm
con nuôi.
2.1.2.
2.I.2.I.

Các điều kiện về chủ thể xác lập quan hệ nuôi con nuôi

Điều kiện về chủ thể nhận nuôi con nuôi

Khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, yếu tố chủ thể nhận
nuôi con nuôi được xem xét ở hai khía cạnh: chủ thể ưong nước và chủ thể nước
ngoài. Đối với từng loại chủ thể có các điều kiện ưong từng trường họp cụ thể, nhằm
đáp ứng các quyền và nghĩa vụ khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi. Nhà nước ta khuyến
khích nhận nuôi con nuôi là ưẻ em mồ côi, ưẻ em bị bỏ rơi, ưẻ em bị tàn tật, ưẻ bị
nhiễm HIV/AIDS làm con nuôi, sau khi xác lập quan hệ người nuôi con nuôi và người
làm con nuôi sẽ có quyền và nghĩa vụ cha, mẹ và con với nhau.
Chủ thể nhận nuôi con nuôi được phân thành hai loại gồm: cá nhân ưong nước và
cá nhân nước ngoài. Đối với cá nhân ừong nước gồm những người là công dân mang


10 Khoản 1 - Điều 14 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status