Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử - Pdf 33

HỌCViên
CẦNHướng
THƠ
NhậnTRƯỜNG
Xét CủaĐẠI
Giảng
Dần
KHOA LUẬT

so BO ca ---oOo-

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007 - 2011)

MỘT SỐ VẤN ĐÈ PHÁP LÝ VÈ HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Gỉảns viên hướng dẫn
Ths. Võ Hoàng Yến

Sinh viên thưc hiên
Nguyễn Hữu Tính
MSSV: 5075151
Lớp: Luật Thương Mại - K33

Cần Thơ, 11/2010


Nhận Xét Của Giảng Viên Phản Biện
so BO ca


2.1.6. Chữ ký điện tử và giá trị pháp lý của họp đồng thương mại điện tử.......30
2.1.6.1. Chữ ký điện tử...................................................................................30
2.1.6.2. Giá trị pháp lý của họp đồng thương mại điện tử..............................34
2.2............................................................................................................................ Th
ực hiện, sửa đổi và chấm dứt họp đồng thương mại điện tử....................................36
2.2.1. Thực hiện họp đồng thương mại điện tử..................................................36
2.2.2. Sửa đổi, chấm dứt họp đồng thương mại điện tử.....................................37
2.3. Pháp luật về giải quyết tranh chấp và những quy định liên quan đến họp đồng
thương mại điện tử...................................................................................................39
2.3.1. Vấn đề giải quyết tranh chấp................................................................... 39


2.3.2. Những quy định của pháp luật có liên quan đến họp đồng thương mại
điện tử...................................................................................................................40
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG GIAO KẾT HỢP ĐÒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN..............................................45
3.1. Thực tiễn của việc giao kết họp đồng thương mại điện tử.............................45
3.1.1. Những kết quả đạt được..........................................................................45
3.1.2. Những khó khăn, yếu kém.......................................................................50
3.1.3. Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử...................................54
3.2. Phương hướng và một số giải pháp................................................................ 60
3.2.1. Phương hướng chung............................................................................... 60
3.2.2. Một số giải pháp.......................................................................................62
KẾT LUẬN........................................................................................................67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

LỜI MỞ ĐẰU

những cách nhìn từ nhiều góc độ về khung pháp lý họp đồng điện tử của nước ta
hiện nay. Đó là lý do mà người viết chọn đề tài “ Một số vấn đề pháp lý về họp
đồng thương mại điện tử”.

GVHD: Võ Hoàng Yến

1

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

*l* Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu kỹ hơn những quy định của pháp luật
và thực tiễn giao kết, thực hiện hợp đồng điện tử trong hoạt động thương mại ở Việt
Nam để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật
cũng như trong hoạt động giao kết để tìm ra phương hướng hoàn thiện.
*l* Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài là các vấn đề pháp lý về họp đồng điện tử
trong hoạt động thương mại, đó là các quy định về trình tự thủ tục ký kết họp đồng
điện tử, về chữ ký điện tử, các quy định về giải quyết tranh chấp trong giao kết hợp
đồng điện tử và một số quy định có liên quan. Do đây là lĩnh vực tương đối rộng
nên người viết chỉ tập trung phân tích những khía cạnh chính yếu của họp đồng điện
tử trong hoạt động thương mại chứ không đi sâu phân tích tất cả các vấn đề về họp
đồng điện tử. Đề tài chỉ tập trung phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam
về việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử, chủ yếu là Luật Giao dịch điện tử
2005 và một số văn bản pháp luật liên quan.
❖ Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài người viết đã dùng phương pháp tổng hợp: thu thập tổng

Paper trade). Hiện nay, tên gọi “thương mại điện tử” (Electronic commerce) được
sử dụng rộng rãi nên trở thành quy ước chung, được đưa vào văn bản pháp luật quốc
tế, tuy nhiên các tên gọi khác vẫn có thể dùng và được hiểu với cùng một nội dung.
Thương mại điện tử (Electronic Commerce) là quy trình mua bán thông qua
việc truyền dữ liệu giữa các thiết bị truyền tin trong chính sách phân phối của tiếp
thị. Tại đây một mối quan hệ thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp
và khách hàng được tiến hành thông qua việc truyền tin. Theo nghĩa rộng, thương
mại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch thương mại mà trong đó các đối tác
giao dịch sử dụng các kỹ thuật thông tin trong khuôn khổ chào mời, thỏa thuận hay
cung cấp dịch vụ. Thương mại điện tử là hình thái hoạt động thương mại bằng các
phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương
tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không càn phải in ra giấy trong bất cứ công
đoạn nào của quá trình giao dịch.
Hiện nay, định nghĩa thương mại điện tử được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa
ra song chưa có một định nghĩa thống nhất về thương mại điện tử. Nhìn một cách
tổng quát, các định nghĩa thương mại điện tử được chia thành hai nhóm quan điểm:
- Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua
bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua internet 1 và
các mạng liên thông khác. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), “Thương mại
điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được
mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu
hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng
Intemet”. Còn theo ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Họp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương (APEC), “Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được
tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”.
1

/>
GVHD: Võ Hoàng Yến


mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt động mua bán hàng hóa; dịch vụ; giao
nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu
điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng;
mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán
hàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng)
và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính);
các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động
mới (như siêu thị ảo). Nó không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ theo các hiểu
thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụng
thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế.2
Ngày nay khái niệm thương mại điện tử được thừa nhận một cách rộng rãi đó
là: thương mại điện tử là việc thực hiện các hoạt động thương mại dựa trên các công
cụ điện tử , đặc biệt là Internet và World Wide Web (WWW).

GVHD: Võ Hoàng Yến

4

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

1.1.2. Quá trình phát triển thương mại điện tử
Thuật ngữ “thương mại điện tử” được nói đến rất nhiều và hầu như nhiều
người nghĩ rằng thương mại điện tử là sản phẩm của xã hội hiện đại. Tuy nhiên,
thương mại điện tử “hình thức kinh doanh được tiến hành bằng cách gửi và nhận
thông điệp qua mạng” đã được biết đến và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Nhưng
thương mại điện tử còn khá là mới và chỉ có bước chuyển mạnh mẽ ở Việt Nam
trong những năm hờ lại đây.

GVHD: Võ Hoàng Yến

5

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

kiểu thương mại điện tử mới, từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng, trên web đã
bùng nổ.
Năm 1994, trình duyệt Web Netscape Navigator, với tính năng hỗ trợ
"cookies"3, những tệp dữ liệu nhỏ được lưu trên máy tính của người sử dụng đã tạo
điều kiện cho việc tạo những cửa hàng trên Web có khả năng nhận dạng những
khách hàng, tập hợp dữ liệu về họ và cá nhân hoá việc bán hàng để phủ hợp với
khách hàng.
Trong khi những cửa hàng lớn trên mạng như Amazon.com Inc. bán những
sản phẩm trực tuyến với giá thoả thuận và không cần phải cất giữ hàng hoá trong
kho hàng, những doanh nghiệp kinh doanh truyền thống lại đổ xô để tạo sự hiện
diện của mình trên web. Một cơ sở hạ tàng tổng thể đã phát triển và đủ độ chín để
hỗ trợ những công ty dotcom: United Parcel Service Inc. và FedEx Corp., chuyên về
chuyển hàng; một số công ty bên thứ ba cung cấp các dịch vụ thẻ tín dụng, những
hệ thống tiền điện tử và thậm chí American Express Co. còn giới thiệu Blue, một
"thẻ thông minh" đặc biệt được thiết kế cho việc mua hàng trên mạng.
Internet đã làm một cuộc cách mạng hoá nền thương mại điện tử của các
doanh nghiệp. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) thông qua Internet đã rẻ hơn rất nhiều
so với VANs và những người sử dụng EDI ở quy mô lớn đã phát triển những hệ
thống giao dịch trực tuyến của họ dựa trên Web, dựa trên những ngôn ngữ đánh dấu
tương thích với Web thay cho những tài liệu EDI cứng nhắc. Năm 2001, một phiên
bản của XML (Extensible Markup Language - ngôn ngữ đánh dấu mở rộng) được

dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực.
- Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương
tiện trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là
thị trường.
♦♦♦ Bản chất của thương mại điện tử
- Thương mại điện tử gồm toàn bộ các chu trình và các hoạt động kinh
doanh của các tổ chức và cá nhân được thực hiện thông qua phương tiện điện tử.
- Thương mại điện tử phải được xây dựng trên một nền tảng vững chắc về
cơ sở hạ tàng (bao gồm cơ sở hạ tàng về kinh tế, công nghệ, pháp lý và nguồn nhân
lực).
=> Trong thương mại điện tử, bản chất của thông tin không thay đổi. Nó chỉ
biến đổi cách thức khởi tạo, trao đổi, bảo quản và xử lý thông tin, hoàn toàn không
thay đổi những chức năng cơ bản của thông tin đối với các bên tham gia truyền
thống của hợp đồng.
1.1.4. Một số hình thúc chủ yếu của thương mại điện tử
❖ Thư điện tử
Thư điện tử (Electronic mail, viết tắt là e-mail) là một hệ thống chuyển
nhận thư từ qua các mạng máy tính5. E-mail là một phương tiện thông tin rất nhanh.
Một mẫu thông tin (thư từ) có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông
thường và được chuyển qua các mạng máy tính đặc biệt là mạng Internet. Nó có thể
chuyển mẫu thông tin từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng
lúc. Cùng với sự phát triển của Công nghệ thông tin thì những tính năng của e-mail
ngày càng hoàn thiện hơn, e-mail không chỉ đơn thuần là truyền gửi được chữ, nó
còn có thể truyền được các dạng thông tin khác như các fĩle chương trình, văn bản,
hình ảnh, âm thanh,... và được phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong đó có
hoạt động kinh doanh.6 Các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước,... sử dụng thư
điện tử để gửi thư cho nhau một cách trực tuyến thông qua mạng. Thông tin trong
thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc định trước nào.
♦♦♦ Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử (Electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua

+ Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu
thị,...)
+ Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng
+ Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác
♦♦♦ Trao đổi dữ liệu
Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc
trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (Stuctured form), (có cấu trúc nghĩa là
các thông tin trao đối được với các đối tác thỏa thuận với nhau tuân thủ theo một
khuôn dạng nào đó) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các
công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau, theo cách này sẽ tự động hóa
hoàn toàn không cần có sự can thiệp của con người.
Theo ủy ban Liên họp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL),
việc trao đổi dữ liệu điện tử được xác định như sau: “Trao đổi dữ liệu điện tử (EDỊ)
là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác
bằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc
thông tin”.
Thương mại điện tử có đặc tính phi biên giới (Cross - border electronic
commerce), về bản chất phi biên giới là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các

GVHD: Võ Hoàng Yến

8

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau, công việc trao đổi EDI thường là các nội
dung sau:

giúp cho việc mua - bán trở nên thuận tiện hơn. Cùng với hàng hóa của cửa hàng
hên màn hình đã có thêm phần “xe mua hàng” (Shopping cart, Shopping trolly), giỏ

7 . vn/Stary/vn/hotrokhachhang/cauhoithuonggap/intcrnctcoban/2006/12/5354.html#l.
8 />
GVHD: Võ Hoàng Yến

9

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

mua hàng (Shopping basket, Shopping bag) giống như giỏ mua hàng hay xe mua
hàng thật mà người mua thường dùng khi vào cửa hàng, siêu thị. Xe và giỏ mua
hàng này đi theo người mua suốt quá trình chuyển từ trang Web này đến trang Web
khác để chọn hàng, khi tìm được hàng vừa ý, người mua ấn phím “Hãy bỏ vào giỏ”
( Put in into shopping bag); các xe hay giỏ mua hàng này có nhiệm vụ tự động tính
tiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách mua. Nay, các hãng bán
hàng đã chuyển sang hệ thống phần mềm mới hơn nữa (gọi là “thương điểm điện
tử”: Store - front, hay: Store - building) có tính năng cao hơn, cho phép người mua
giao tiếp thoải mái hơn nữa với cửa hàng và hàng hoá... Vì hàng hóa là hữu hình,
nên tất yếu sau đó cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng theo kiểu truyền
thống để đưa hàng đến tay người tiêu dùng. Điều quan trọng nhất là khách hàng có
thể mua hàng tại nhà (Home shopping) mà không phải đích thân đi tới cửa hàng.
1.1.5. Vai trò của thương mại điện tử
Thế kỷ 21 đã chứng kiến sự bùng nổ và phát triển vượt bậc của Công nghệ
thông tin (CNTT). Công nghệ thông tin đang làm thay đổi thế giới và tạo nên một
cuộc cách mạng thực sự trong mọi lĩnh vực. Việc ứng dụng Công nghệ thông tin là

dịch, thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình
thương mại, tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hóa. Thương mại điện tử so
với các kênh phân phối truyền thống có các điểm đặc biệt là tính linh hoạt cao độ về
mặt cung ứng và giảm thiểu lớn phí tổn vận tải với các đối tác kinh doanh. Các phí
tổn khác như phí tổn điện thoại và đi lại để tìm kiếm khách hàng hay phí tổn trình
bày giới thiệu cũng được giảm xuống. Các doanh nghiệp và các cá nhân có thể dùng
thương mại điện tử để giảm các chi phí giao dịch bằng cách đẩy luồng thông tin và
tăng cường thêm sự phối hợp các hoạt động để giảm bớt tình trạng không rõ ràng.
Bằng việc giảm bớt chi phí tìm kiếm thông tin về người kinh doanh, người bán và
tăng số lượng tham gia thị trường, thương mại điện tử có thể thay đổi sự thu hút
thống nhất theo chiều thẳng đứng đối với rất nhiều công ty.
Hầu như tất cả các doanh nghiệp đều rất quan tâm tới thương mại điện tử đơn
giản vì nó có thể giúp họ tăng thêm lợi nhuận qua việc tăng lượng bán và giảm chi
phí. Quảng cáo tốt trên Web có thể các doanh nghiệp nhỏ quảng bá hình ảnh của
công ty mình tới người tiêu dùng ở mọi quốc gia trên thế giới. Chi phí cho việc xử
lý những yêu cầu bán hàng, cung cấp các yêu cầu hỏi về giá cả, và xác nhận các sản
phẩm có sẵn có thể giảm nhờ thương mại điện tử trong hỗ trợ kinh doanh và quá
trình đặt hàng của một doanh nghiệp.
1.2. Khái quát chung về hợp đồng thương mại điện tử
1.2.1. Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử
Cùng với sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của công nghệ thì thì những
quan niệm về hình thái truyền thống của hợp đồng đã dàn thay đổi, các hình thái của
hợp đồng ngày càng đa dạng. Đặc biệt việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt
động thương mại tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, cùng với
đó đã hình thành nên phương thức giao dịch mới giao dịch điện tử. Với những lợi
thế nối bật như nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạn
bởi không gian và thời gian... so với phương thức giao dịch truyền thống. Do vậy,
giao dịch điện tử ngày càng chiếm ưu thế và được nhiều chủ thể quan tâm, đặc biệt
là các doanh nghiệp với nhiều lợi ích mang lại như đã nói. Sự thông dụng của giao
dịch điện tử tất yếu hình thành nên hình thức hợp đồng mới “hợp đồng điện tử”

tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác”12.
1.2.1. Đặc điểm và vai trò của họp đồng thương mại điện tử
*l* Đặc điểm của hạp đồng thương mại điện tử
Họp đồng điện tử cũng là một hình thức của họp đồng, nên ngoài những
đặc tính cơ bản cần phải có của một họp đồng, mặt khác do được giao kết thông qua
các phương tiện điện tử nên họp đồng điện tử còn có một số đặc trưng riêng của nó:
- Tính phi biên giới: Trong các giao dịch điện tử có phạm vi trong nước
hay quốc tế, trong các giao dịch thương mại được thực hiện bằng việc truyền các
thông tin dữ liệu thông qua các phương tiện điện tử và mạng thông tin toàn cầu, do
vậy khái niệm biên giới không còn ý nghĩa trong các giao dịch điện tử. Một thương
nhân hay một cơ quan, tổ chức thậm chí là một cá nhân dù đang ở đâu, ở vào thời
điểm nào cũng có thể giao dịch với các chủ thể khác mà không có bất kỳ rào cản địa
lý nào. Họp đồng điện tử được ký kết thông qua các phương tiện điện tử và mạng
viễn thông, điển hình là mạng Internet. Chính các công nghệ này mở rộng phạm vi
ký kết họp đồng điện tử ra khắp thế giới. Đặc biệt là việc sử dụng mạng Internet
trong quá trình ký kết họp đồng đã giúp các bên có thể ký kết họp đồng điện tử với
mọi đối tác từ mọi nơi trên thế giới mà không bị rào cản về biên giới quốc gia hạn
chế. Do không có rào cản về biên giới nên hoạt động kinh doanh được lợi rất nhiều,

9 Điều 11 Luật mẫu về thương mại điện tử của ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế
(UNCITRAL) năm 1996.
10 Điều 33 Luật Giao dịch điện tử 2005.
11 Điều 4, khoản 10, khoản 12 Luật Giao dịch điện tử 2005.

12

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

kết và thực hiện hợp đồng điện tử cũng gặp phải một số khó khăn do chính những
yếu tố này tạo ra. Đó là sự trục trặc về mặt kỹ thuật có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, sự
sử dụng kỹ thuật công nghệ chưa thành thạo có thể dẫn đến rủi ro; sự tấn công của
hacker có thể tạo ra sự mất an toàn trong công tác bảo mật thông tin của các thương
vụ... việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử còn cần phải tuân theo một quy trì nh
và thủ tục đặc biệt nhằm phòng tránh rủi ro do chính yếu tố kỹ thuật đem lại.

GVHD: Võ Hoàng Yến

13

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

- Pháp luật điều chỉnh: Với tính đặc thù về mặt kỹ thuật công nghệ như đã
phân tích, nên pháp luật điều chỉnh về họp đồng điện tử cũng có những điểm khác
với luật điều chỉnh họp đồng truyền thống. Pháp luật điều chỉnh về việc giao kết
họp đồng truyền thống không đề cập đến những vấn đề như thông điệp dữ liệu, trao
đổi dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử,... Do vậy không thể nào áp dụng pháp luật điều
chỉnh các vấn đề về giao kết và thực hiện họp đồng truyền thống để giải quyết
những vấn đề phát sinh trong việc giao kết và thực hiện họp đồng điện tử, đom giản
là do những vấn đề này không tồn tại trong giao kết họp đồng truyền thống nhưng là
một phàn quan trọng của họp đồng điện tử. Vậy nên vấn đề hoàn thiện pháp luật về
lĩnh vực này là điều cấp thiết, tạo nền tảng vững chắc về cơ sở pháp lý cho sự phát
triển bền vững của thương mại điện tử, đem lại niềm tin cho các chủ thể thực hiện
các giao dịch về họp đồng điện tử, và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong giao kết họp đồng điện tử.
❖ Vai trò của hạp đồng thương mại điện tử



Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

các bên mua - bán tiết giảm được đáng kể thời gian và chi phí trong quá trình giao
dịch. Như đã phân tích bằng hợp đồng điện tử thì thời gian giao kết họp đồng được
rút ngắn do đó sẽ làm cho các chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch giảm
xuống. Chi phí giao dịch qua Intemet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay
qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Intemet chỉ bằng
10% - 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường. 14 Việc ứng dụng thưomg mại
điện tử thông qua các công cụ thông tin internet cỏ thể thay thế các cuộc gặp gỡ trực
tiếp giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng, mà có thể trao đổi các thông tin, thỏa
thuận về nội dung họp đồng và tiến hành ký kết bằng các ứng dụng hỗ trợ thông qua
mạng internet một cách nhanh chóng và cắt giảm một lượng chi phí phát sinh thực
tế; mặt khác việc sử dụng họp đồng điện tử sẽ làm giảm chi phí về các giấy tờ liên
quan do tất cả thông tin được trao đổi trực tiếp qua mạng máy tính mà không cần
thể hiện bằng bất kỳ hình thức giấy tờ nào. Bên cạnh đó việc lưu trữ, bảo quản các
họp đồng điện tử và các thông tin dữ liệu điện tử sẽ trở nên đom giản, tiện lợi và gọn
nhẹ hơn nhiều so với việc lưu trữ chúng trên giấy tờ.
- Việc sử dụng họp đồng điện tử sẽ đẩy nhanh tiến độ số hóa đối với việc
mua bán một số sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Các giao dịch thương mại điện tử có
thể được chia thành hai nhóm cơ bản sau: giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ
thông thường và giao dịch mua bán các sản phẩm, dịch vụ số hóa.
+ về các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ thông thường. Trong
trường họp này, mạng thông tin internet được sử dụng như một công cụ cho các
hoạt động như chào hàng, trả lời chấp nhận, giao kết họp đồng hay cho cả việc
thanh toán, nhưng việc giao hàng và cung ứng các dịch vụ vẫn được thực hiện theo
phương thức truyền thống. Các giao dịch có sự tương đồng với phương thức giao
dịch truyền thống, các quy trình giao dịch thương mại được phối họp, đan xen giữa
các quy trình của phương thức truyền thống và các quy trình giao dịch điện tủ. Nó

ứng linh hoạt, nhanh chóng với chi phí giảm và khả năng phản ứng nhanh nhạy
trước những thời cơ kinh doanh chính là lợi thế không thể thiếu với những doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong thị trường phi biên giới. Thương mại điện tử
cụ thể là họp đồng điện tử là chìa khỏa mở ra những cánh cửa đầy cơ hội cũng như
những thách thức giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong
môi trường của sự hội nhập.
1.2.3. So sánh hợp đồng thu'0'ng mại điện tử và họp đồng truyền thống
Như đã biết họp đồng truyền thống là những họp đồng được giao kết theo
phương thức truyền thống là các bên gặp gỡ trực tiếp thỏa thuận và giao kết hợp
đồng trực tiếp bằng văn bản, lời nói hay bằng cả hành vi cụ thể hoặc thực hiện giao
kết thông qua trao đổi thông tin, tài liệu qua đường bưu điện. Còn họp đồng điện tử
được giao kết, thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Từ góc độ pháp lý thì
họp đồng điện tử và họp đồng truyền thống điều là hợp đồng, do vậy chúng sẽ có
những điểm tương đồng và cũng có những điểm khác biệt cơ bản.
❖ Những điểm tương đồng
Thương mại điện tử, sự xuất hiện của nó không làm thay đổi bản chất của
khái niệm thương mại truyền thống, nó chỉ là một hình thức kinh doanh mới thông
qua một phương tiện, một cách thức mới dựa vào việc ứng dụng các công nghệ hiện
đại. Vậy nên họp đồng điện tử và họp đồng truyền thống vẫn tồn tại những điểm
giống nhau:
- về bản chất, họp đồng điện tử và họp đồng truyền thống điều là hợp
đồng: “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền
và nghĩa vụ với nhau”15 được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự 2005. Do vậy dù được
giao kết dưới những hình thức khác nhau: bằng lời nói, hành vi cụ thể, bằng văn bản
truyền thống hay bằng các phương tiện điện tử thì họp đồng chỉ được xác lập khi
các bên giao kết thỏa thuận được với nhau về các nội dung của họp đồng. Do đó sự

-

Điều

- Khi tiến hành giao kết hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống điều
phải dựa trên những cơ sở pháp lý và tuân thủ những quy định về hình thức, chủ thể
của hợp đồng, về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về quy trình giao kết, trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng và vấn đề giải quyết khi có tranh chấp phát
sinh.
- Khi giao kết thì các chủ thể giao kết hợp đồng phải tuân thủ các nguyên
tắc chung về giao kết hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và Luật
Thương mại 2005, là nguyên tắc “tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái
pháp luật, đạo đức xã hội” và “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực
và ngay thẳng”16, và được áp dụng mọi loại hợp đồng.
- Cả hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống khi được thực hiện điều
phải tuân theo những nguyên tắc về thực hiện hợp đồng, là các nguyên tắc: “thực
hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn,
phương thức và các thoả thuận khác”, “thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần
hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau” và “không được xâm
phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của
người khác”17.
❖ Những điểm khác biệt
Bên cạnh đó, do được giao kết thông qua các phương tiện điện tử, trong
một thị trường phi biên giới nên hợp đồng điện tử có nhiều điểm khác biệt so với
hợp đồng truyền thống:
- về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử. Trong giao dịch điện tử
ngoài người mua - bán, chủ thể chính của việc giao kết như trong các giao dịch
truyền thống thì đã xuất hiện thêm bên thứ ba có liên quan chặt chẽ trong quá trình
giao kết họp đồng điện tử, là các nhà cung ứng dịch vụ mạng và các cơ quan chứng
thực chữ ký số. Bên thứ ba này có nhiệm vụ truyền đi, lưu trữ các thông tin giữa các
chủ thể tham gia giao dịch, và cũng có thể đóng vai trò trong việc xác nhận độ tin
cậy của các thông tin trong giao dịch điện tử. Như đã nói, họp đồng điện tử với đặc
thù hình thảnh trong môi trường ảo, môi trường số hóa và được giao kết dưới hình
thức phi giấy tờ, nên việc giao kết họp đồng điện tử sẽ gặp rất nhiều rủi ro nếu

+ Các xác nhận điện tử (chứng nhận/xác thực:

certiíication/

authentication) những giao dịch về quyền truy cập và cải chính thông tin điện tử, và
cách thực thi quyền này.
+ Các quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử và về trung
gian đảm bảo chất lượng.
- về quy trình giao kết là điểm khác biệt nhất giữa họp đồng điện tử và hợp
đồng truyền thống. Việc giao kết một họp đồng thông thường được tiến hành bằng
cách các bên gặp gỡ trực tiếp để thỏa thuận hay trao đổi các thông tin với nhau
thông qua giấy tờ và thực hiện việc ký kết bằng chữ ký tay. Còn họp đồng điện tử
được giao kết bằng các phương tiện điện tử và được ký bằng chữ ký điện tử. Do hai
phương thức tiến hành giao kết khác nhau sẽ tạo ra những điểm khác biệt trong quy
trình giao kết của họp đồng điện tử và họp đồng truyền thống như: việc xác định
thời gian, địa điểm giao kết họp đồng, thời điểm gửi - nhận một thông điệp dữ liệu
và việc tạo ra một chữ ký điện tử hay việc áp dụng một con dấu trong môi trường ảo
là tương đối khó khăn và không dễ thực hiện như họp đồng truyền thống.
- Pháp luật điều chỉnh, ngoài những quy định chung về họp đồng được ghi
nhận trong Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005, do những đặc tính riêng
biệt về công nghệ của họp đồng điện tử và những vấn đề pháp lý đặc biệt phát sinh

GVHD: Võ Hoàng Yến

18

SVTH: Nguyễn Hữu Tính


Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ
giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng” 18, theo đó quá trình giao kết hợp đồng
điện tử được thực hiện qua nhiều giai đoạn, có thể được tiến hành nhiều giao dịch
và chúng có thể được thực hiện thông qua việc trao đổi các thông điệp dữ liệu bằng
các phưomg tiện điện tử như: điện báo, điện tín, fax, e-mail,... Thực tế việc giao kết
hợp đồng điện tử có thể đom thuần chỉ là việc một người tiêu dùng thực hiện một
giao dịch đom giản thông qua các phưomg tiện điện tử, như việc đặt vé (vé máy bay,
vé tàu, vé xem phim,...) qua điện thoại, mua hàng tiêu dùng qua website,... và cũng
có thể được giao dịch, mua - bán nhằm mục đích thưcmg mại giữa hai hay nhiều
chủ thể, do đó có thể hình thành nên một hợp đồng hay một bộ hợp đồng có giá trị
và tính chất phức tạp. Việc giao kết hợp đồng thưcmg mại điện tử cũng là việc giao
kết hợp đồng điện tử nhưng nó diễn ra trong hoạt động kinh doanh thưcmg mại, vì
vậy khi phân tích hợp đồng điện tử người viết sẽ phân tích hợp đồng điện tử ở khía
cạnh hoạt động thưomg mại.
2.1.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Việc giao kết hợp đồng trong hoạt động thưomg mại điện tử phải tuân thủ
những quy định chung của pháp luật về hợp đồng và những quy định về họrp đồng
điện tử, bên cạnh đó còn phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản khi giao kết hợp
đồng nhằm đảm bảo tính chính xác cũng như tính pháp lý của hợp đồng. Cũng
giống như hợp đồng truyền thống, việc giao kết hợp đồng điện tử cũng phải dựa trên
cơ sở của sự tự do, thỏa thuận của các chủ thể khi thực hiện, nên được pháp luật ghi
nhận và tôn trọng. Theo đó Bộ luật Dân sự 2005, ghi nhận hai nguyên tắc “tự do
giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” và “tự nguyện,
bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng” 19, hai nguyên tắc cơ bản
này chi phối chung cho việc giao kết hợp đồng điện tử. Bên cạnh đó khi giao kết

GVHD: Võ Hoàng Yến

20


- Tự do giao kết, tự nguyện lựa chọn và thỏa thuận phương thức tiến hành
giao kết.
- Trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể giao kết và đảm bảo an
toàn trong giao kết.
- Bên cạnh đó còn phải bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của các bên liên
quan.
- Và quá trình giao kết phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật có
liên quan.

20 Những nguyên tắc cơ bàn trong hoạt động thương mại từ Điều 10 đến Điều 15 Luật Thương mại 2005.
21 Nguyên tắc chung tiến hành giao dịch điện tử, Điều 5 Luật Giao dịch điện tử 2005;

21
GVHD:
Yến
NguyênVõ
tắcHoàng
giao kết và
thực hiện hợp đồng điện tử, Điều 35 Luật Giao dịch điện tử 2005.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status