Hoạt động giám sát của Quốc hội
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỐC HỘI
1.1................................................................................................................ Sự ra đời
và phát triển của Quốc hội...................................................................................3
1.2................................................................................................................ VỊ trí và
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
tính chất pháp lý của Quốc hội............................................................................5
KỈỈÓA 34 (2008 - 2012)
1.3................................................................................................................ Chức năng
ĐÈ TÀI
của Quốc hội........................................................................................................7
HOAT ĐÔNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HÔI
1.4................................................................................................................
Tổ chức và
hoạt động của Quốc hội.......................................................................................9
1.4.1............................................................................................................. Cơ cấu tổ
chức của Quốc hội...............................................................................................9
1.4.2 Hoạt động của Quốc hội...........................................................................13
1.4.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội.....................................................14
1.5
Mốivỉên
liênhướng
hệ giữadẫn:
giám sát tối cao với kiểm sát,
của Quốc hội.......................................................................................................43
3.1.1 Đánh giá chung........................................................................................43
3.1.2 Hoạt động chất vấn..................................................................................46
3.1.3 Hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm..................................................................48
3.1.4 Đối với việc thành lập Uỷ ban lâm thời...................................................49
3.1.5 Hoạt động xem xét báo cáo......................................................................50
3.1.6 Hoạt động bảo vệ Hiến pháp....................................................................51
3.2 Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát
CBHD: Nguyễn Nam Phương
SVTII: Nguyễn Trọng Hữu
Hoạt động giám sát cửa Quốc hội
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, do nhân dân bầu ra. Nhiệm vụ chính
của Quốc hội là lập hiến và lập pháp. Đồng thời, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ
quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, quyết định các vấn đề quan họng của đất nước.
Mặc dù vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội trong những năm qua còn có những
mặt hạn chế. Hiệu quả hoạt động giám sát mặc dù đã đạt những kết quả nhất định nhưng mới
đáp ứng ở mức thấp so với yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống, từ nguyện vọng của nhân dân và
quy định của hiến pháp, pháp luật. Một số nội dung giám sát quan họng chưa được tập trung
cao; giám sát việc ban hành vãn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh chưa làm được
nhiều và thường xuyên; giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân vẫn
còn lúng túng, hiệu quả chưa cao; chưa chú họng theo dõi, đôn đốc đến cùng việc tiếp thu,
giải quyết các kiến nghị để đánh giá đúng kết quả, hiệu lực giám sát; hoạt động giám sát về
của Quốc hội
3. Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
Hoạt động giám sát của Quốc hội là một trong những nội dung có phạm vi tương đối
rộng lớn và phức tạp. Trong phạm vi bài luận tốt nghiệp, người viết chỉ đi sâu nghiên cứu
hoạt động giám sát của Quốc hội theo Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động
giám sát của Quốc hội. Trong đó, đối tượng chủ yếu là các cơ quan nhà nước ở Trung ương
và địa phương.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, khóa luận áp dụng các phương pháp nghiên cứu tổng
hợp như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp tổng họp, so sánh, diễn giải, hệ
thống hóa, thống kê... từ các số liệu, tài liệu thu thập được.
5. Bổ cục đề tài
Luận văn được kết cấu theo bố cục sau:
Mục
lục
Phần mở đầu
Chương 1: Khái quát chung về Quốc hội
Chương 2: Hoạt động giám sát của Quốc hội
Chương 3: Thực hạng hoạt động giám sát của Quốc hội và một số kiến nghị
CBHD: Nguyễn Nam Phương
2
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
Hoạt động giám sát cửa Quốc hội
3
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
Hoạt động giám sát cửa Quốc hội
đại biểu chỉ còn lại 291 và khi mãn khoá chỉ còn 242 vì hầu hết các đại biểu đối lập thuộc
Việt Nam cách mạng đồng minh hội và Việt nam quốc dân đảng đã bỏ chạy sang Hoa Nam
vi không còn sự hậu thuẫn về quân sụ và chính trị của quân đội Trung hoa dân quốc sau
Hiệp định so bộ ngày 06 tháng 3 năm 1946.
Quốc hội khoá II (1960 - 1964), bầu ngày 08 tháng 5 năm 1960 gồm 453 đại biểu
trong đó 362 đại biểu đuợc bầu và 91 đại biểu khoá I đuợc lưu nhiệm. Uỷ ban thường vụ
Quốc hội gồm 21 uỷ viên chính thức và 5 uỷ viên dự khuyết.
Quốc hội khoá III (1964 - 1971), bầu ngày 26 tháng 4 năm 1964 gồm 453 đại biểu:
366 đại biểu được bầu và 87 đại biểu khoá I của niềm Nam được lưu nhiệm. Uỷ ban thường
vụ Quốc hội gồm 23 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết.
Quốc hội khoá IV (1971 - 1975), bầu ngày 11 tháng 4 năm 1971 gồm 420 đại biểu.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm 24 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết.
Quốc hội khoá V (1975 - 1976), bầu ngày 06 tháng 4 năm 1975 gồm 424 đại biểu. Uỷ
ban thường vụ Quốc hội gồm 19 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết. Đây là khoá
Quốc hội có thời gian hoạt động ngắn nhất trong lịch sử hoạt động của Quốc hội Việt Nam.
Trong thời gian này dân tộc ta đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất
hoàn toàn đất nước. Vì vậy yêu cầu đặt ra phải tổ chức cuộc Tổng tuyển cử thống nhất trong
cả nước để bầu Quốc hội khoá mới.
Quốc hội khoá VI (1976 - 1981), Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất,
bầu ngày 25 tháng 4 năm 1976 gồm 492 đại biểu. Ngày 02 tháng 7 năm 1976 Quốc hội
quyết định đổi tên nước thành Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đổi tên Sài Gòn
thành Thành phố Hồ Chí Minh. Hiến pháp 1980 được thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 18
tháng 12 năm 1980. Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm 21 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự
Từ 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nuóc
Việt Nam dân chủ cộng hoà, Việt Nam tiến hành xây dựng đất nuớc theo chế độ Xã hội chủ
nghĩa cho đến ngày nay. Tuy trong thời gian từ truớc đến nay chế độ Xã hội chủ nghĩa trên
thế giới có những thay đổi mạnh mẽ với sự thất bại của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô,
sau đó là các nuớc ở Đông âu và các nuớc khác trên thế giới. Nhung dân tộc Việt Nam vẫn
cố gắng đứng vững và tồn tại cho đến ngày nay.
Bản chất của chế độ Xã hội chủ nghĩa là xã hội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân nhung nhân dân là những cá thể riêng biệt sống trên khắp lãnh thổ Việt Nam nên không
thể sử dụng quyền lực của mình để quản lý đất nước đuợc. Vì vậy, họ phải chọn ra những
nguời mà họ tin tuởng để bầu vào các co quan đại diện để thay mặt họ sử dụng quyền lực
1978864/ [truy câp ngày 03/4/2012]
CBHD: Nguyễn Nam Phương
5
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
Hoạt động giám sát cửa Quốc hội
Nhà nước. Cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất mà nhân dân bầu ra đó là Quốc hội. Theo
điều 83 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 1 Luật tổ chức Quốc hội 2001
( sửa đổi, bổ sung năm 2007) ghi nhận: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những
chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
của đất nước, những nguyên tắc chủ yểu về tổ chức và hoạt động của bô mảy nhà nước, về
quan hệ xã hội và hoạt dộng của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giảm sát tối cao đổi
với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.
Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước bầu ra, là cơ quan quyền lực Nhà
Luật tổ chức Quốc hội và Luật hoạt động giám sát của của Quốc hội. Ngoài ra, còn được quy
định trong các vãn bản dưới luật khác như: Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động
của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội.
1.3 CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI
Chức năng của Quốc hội được quy định tại Điều 83 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung
năm 2001) bao gồm những phương diện lớn như sau:
Thứ nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp: Hiến pháp là
đạo luật cơ bản nhất, có tính chất pháp lý cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Chỉ có Quốc hội là cơ quan quyền lực nhả nước cao nhất mới có thẩm quyền thông
qua Hiến pháp, thay đổi Hiến pháp; thông qua luật và thay đổi luật. Việc lập pháp sẽ tạo ra
những khuôn khổ, mẫu mực chung, nề nếp sống cho moi người phải tuân theo. Những quy
phạm pháp luật do Quốc hội thông qua được tổ chức thực hiện và đảm bảo thực hiện bằng
sức mạnh của bộ máy nhà nước. Các vãn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhả
nước ban hành không được trái nội dung, tinh thần với Hiến pháp, luật và nghi quyết của
Quốc hội. Mọi cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và sống trong khuôn khổ của
pháp luật, mọi trường họp làm trái với quy định của pháp luật đều phải chịu chế tài mà theo
pháp luật mà hành vi đó gây ra. Tuy nhiên để Hiến pháp và luật có thể đi vào cuộc sống dể
dàng và hiệu quả là rất khó khăn, vì vậy Quốc hội cần phải có những chương trình xây dựng
luật và pháp lệnh cho phù họp. Hiến pháp 1980 chưa quy định chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh nhưng đến Hiến pháp 1992 đã được quy định cụ thể nhằm đảm bảo cho hoạt động
lập pháp của Quốc hội hiệu quả hơn. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là chương trình
quan họng hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Điều 12 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ
sung 2001) quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa”, pháp luật có vai trò đặt biệt quan họng trong quản lý xã hội
nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của đất nước. Sự tồn vong của một quốc gia phụ
thuộc vào hệ thống pháp luật của nước đó có phù hợp với hoàn cảnh hiện tại hay không. Do
CBHD: Nguyễn Nam Phương
7
Quốc hội. Điều 83 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) quy định: ”Quốc hội thực hiện
quyền giám sát tối cao đổi với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”, và điểm 2 Điều 84 Hiến
pháp quy định:”77ỉục hiện quyền giảm sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị
quyết của Quốc hội; xét báo cáo của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ quốc hội, Chỉnh phủ,
CBHD: Nguyễn Nam Phương
8
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
Hoạt động giám sát cửa Quốc hội
Toà ản nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân toi cao”. Quốc hội giám sát hoạt động của
các cơ quan nhà nuớc nhằm đảm bảo cho các cơ quan này hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền
hạn đã đuợc quy định, làm cho bộ máy nhà nuớc hoạt động có hiệu quả, đều đặn và nhịp
nhàng, không chồng chéo lẫn nhau, chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, cửa quyền.
Quốc hội giám sát việt tuân thủ Hiến pháp, Luật nhằm phát hiện những hành vi, sai phạm
trái với nội dung và tinh thần của Hiến pháp, Luật của các cơ quan nhà nuớc để nhanh
chóng đua ra huớng giải quyết nhằm tránh những hậu quả do những vãn bản pháp luật trái
với Hiến pháp gây ra. Ngoài ra việc giám sát của Quốc hội cho Quốc hội thấy đuợc những
thiểu sót, hạn chế, những bất cập của các quy phạm pháp luật để nhanh chóng có huớng giải
quyết bằng các biện pháp thay đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ các văn bản quy phạm pháp luật đó.
Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các Uỷ ban của Quốc hội đã dành nhiều thời gian kiểm tra
tình hình thực tế nhằm có huớng giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống xã hội hiện
nay nhu: công ăn việc làm, tiền luơng, tham nhũng, buôn lậu, tội phạm và các tệ nạn xã hội
khác... đảm bảo quyền cơ bản của công dân. Hoạt động giám sát của Quốc hội sẽ đuợc tác
giả phân tích rõ hơn ở chuơng 2.
1.4 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI
1.4.1 Ctf cấu tồ chức của Quốc hội
Giải thích Hiển pháp, luật, pháp lệnh;
Ra pháp lệnh về những vẩn đề được Quốc hội giao;
Giám sát việc thỉ hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chỉnh phủ, Toà án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chỉnh phủ,
Thủ tướng Chỉnh phủ, Toà án nhân dân toi cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trải với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản
đó; huỷ bỏ các văn bản của Chỉnh phủ, Thủ tướng chỉnh phủ, Toà án nhân dân toi cao, Viện
kiểm sát nhân dân toi cao trải với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Giám sát và hướng dẫn hoạt dộng của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai
trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phổ trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân
dân tỉnh, thành phổ trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân do làm thiệt
hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;
Chỉ đạo, điều hoà, phổi hợp hoạt động của Hội đồng nhân dân và các Uỷ ban của
Quốc hội; hưởng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội;
Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, quyết định việc tuyên bố tình trạng
chiến tranh khi nước nhà bị xâm lượt và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp
gần nhẩt của Quốc hội;
CBHD: Nguyễn Nam Phương
10
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
3 Điều 91 Hiển pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)
___________________________________________________Hoạt động giám sát của Quốc hội
Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong
cả nước hoặc ở từng địa phưcmg;
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
4 Điều 95 Hiển pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)
Hoạt động giám sát cửa Quốc hội
kiểm sát nhân dân tối cao, vãn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nuớc
có thẩm quyền ở trung uơng hoặc giữa cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền với cơ quan trung
uơng của tổ chức chính trị - xã hội có liên quan đến vấn đề dân tộc và giám sát việc thực
hiện các vãn bản đó;
Kiến nghị với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội các vấn đề về chính sách dân tộc
của nhà nước; các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan hữu quan; kiến
nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và các
cơ quan khác của Nhà nước ở trung ương và địa phương về những vấn đề có liên quan đến
dân tộc thiểu số.
1.4.1.3 Các Uỷ ban của Quốc hội
Ngoài Hội đồng dân tộc giúp Quốc hội các vấn đề về chính sách dân tộc, tôn giáo của
đất nước. Quốc hội còn thành lập các Uỷ ban thường trực nhằm giúp Quốc hội thực hiện tốt
nhiệm vụ, chức năng của mình. Các Uỷ ban của Quốc hội hoạt động thường xuyên với
nhiệm vụ và quyền hạn:”C«c Uỷ ban của Quốc hội nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến
nghị về luật, dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban
thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ỷ kiến về chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
do luật định; kiến nghị những vẩn đề thuộc phạm vi hoạt động của Uỷ ban”.4
Các Uỷ ban của Quốc hội do Quốc hội thành lập được quy định tại Điều 22 Luật Tổ
chức Quốc hội 2001(sửa đổi, bổ sung năm 2007). Gồm:
Uỷ ban pháp luật;
Uỷ ban tư pháp;
Uỷ ban kinh tế;
độ hội nghị và quyết định theo đa số. Khi quyết định vấn đề gì phải nghĩ đến lợi ích của
nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân về vấn đề đó. Ngoài ra, để thông qua một vấn đề
nào đó phải được đa số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Luật, nghị quyết của Quốc
hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Đối với các nghị
quyết về việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội,
sửa đổi Hiến pháp thì phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán
thành.
Đe Quốc hội hoạt động tốt và đạt hiệu quả thì các kỳ họp của Quốc hội rất quan trọng.
Thường lệ Quốc hội họp một năm hai kỳ, kỳ họp giữa năm và kỳ họp cuối năm do Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội triệu tập. Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc
CBHD: Nguyễn Nam Phương
13
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
___________________________________________________Hoạt động giám sát của Quốc hội
ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Uỷ
ban thuờng vụ Quốc hội triệu tập kỳ hợp bất thường.
Các phiên hợp của Quốc hội điều diễn ra công khai, Trong trường họp cần thiết, theo
đề nghị của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít
nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín. Mọi công dân
điều có thể đến dự phiên họp công khai của Quốc hội theo giấy mời của Vãn phòng Quốc
hội. Ngoài ra, hoạt động của Quốc hội còn được thực hiện thông qua hoạt động của ủy ban
thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội
và đại biểu Quốc hội.
1.4.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được quy định tại Điều 84 Hiến pháp 1992(sửa
lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố trực thuộc trung ương; thành
lập hoặc giải thể đơn vị hành chinh - kinh tể đặc biệt;
Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chinh phủ, Thủ
tưởng Chính phủ, Toà ản nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trải với Hiển
pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
Quyết định đại xá;
Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và
những hàm cấp nhà nước khác; quy định huy chương, huân chương và danh hiệu vinh dự
nhà nước;
Quyết định vẩn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cẩp, các biện
pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
Quyết định chỉnh sách cơ bản về đổi ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tể
do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tể khác đã được ký
hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;
Quyết định việc trưng cầu ỷ dân.
1.5 MỐI LIÊN HỆ GIỮA GIÁM SÁT TỐI CAO VỚI KIÊM SÁT TỐI CAO VỚI
KIỂM SÁT, GIÁM ĐỐC XÉT xử VÀ THANH TRA, KIÊM TRA
Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quốc hội là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất được nhân dân bầu ra nhằm phục vụ lợi ích cho nhân dân. Theo
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001), Quốc hội được giao thẩm quyền giám sát tối cao
việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương. Tuy nhiên,
nếu duy nhất chỉ có Quốc hội có quyền giám sát tối cao các cơ quan nhà nước ở trung ương,
thì các cơ quan nhà nước khác ở địa phương sẽ không phải chịu sự giám sát của Quốc hội.
CBHD: Nguyễn Nam Phương
15
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường,
CBHD: Nguyễn Nam Phương
16
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
5 Điều 2 và điều 3 Luật Thanh ừa 2004
___________________________________________________Hoạt động giám sát của Quốc hội
thị tran, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước ” và “Hoạt động thanh
tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ
hở trong cơ chế quản lý, chỉnh sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tổ tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cả nhân”.5 Quyền thanh tra thuộc về Chính phủ. Thanh tra
là hoạt động tự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhả nước trong việc thi hành Hiến
pháp, pháp luật trong quá trình điều hành và quản lý của Chính phủ. Thanh tra là hoạt động
quản lý của cơ quan nhà nước từ cấp Bộ trở xuống. Trong đó, có cả thanh tra hành chính là
thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
thuộc quyền quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước và thanh tra chuyên ngành là
hoạt động thanh tra việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật,
quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước
Phương thức thực hiện hoạt động thanh tra chủ yếu là thành lập các đoàn thanh tra. Khi phát
hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước thi
tiến hành xử lý những vi phạm đó (trong lĩnh vực hành chính). Khi pháp hiện có dấu hiệu vi
phạm pháp luật hình sự thì chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý mà không tự mình
giải quyết.
Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
Hoạt động giám sát của Quốc hội
CHƯƠNG 2
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI
2.1 KHẮT NIỆM GIÁM SÁT, MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG GIÁM SÁT VÀ
CÁC CHỨC NĂNG KHÁC CỦA QUỐC HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA
QUỐC HỘI
2.1.1 Khái niệm giám sát
Theo Từ điển tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem có thực
hiện đúng những điều quỵ định không”.6
Đi sâu vào khái niệm “giám sát” thì “giám sát” là việc theo dõi, kiểm tra các hoạt
động của các chủ thể chịu sự giám sát. Hoạt động giám sát là hoạt động có ý thức, có tổ
chức và có mục đích, luôn gắn liền với một chủ thể nhất định, xác định được đối tượng chịu
sự giám sát nhất định, quyền và trách nhiệm của hai bên chủ thể trong hoạt động giám sát
phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Hoạt động giám sát được tiến hành trên cơ sở quy
định của pháp luật, tuân theo những nguyên tắc, thủ tục nhất định và cũng phải được bảo
đảm thực hiện bằng những biện pháp cần thiết.
Trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003, thì “giám sát” được hiểu là việc
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại
biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Theo quy định các chủ thể trên có
quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, chủ thể duy nhất có quyền giám sát tối
cao là Quốc hội: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của
Nhà nước”(Điềxi 83 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 2002). Cùng với chức năng lập hiến,
lập pháp và quyết định những vấn đề quan họng của đất nước, giám sát là một trong những
chức năng chủ yếu của Quốc hội đã được xác định xuyên suốt trong tất cả các bản Hiến pháp
sát của luật, nghị quyết của Quốc hội thì Quốc hội bãi bỏ.
Quốc
hội, Văn
phòng
Quốc hội,
Xem xét, đánh giá khả năng, hách nhiệm của các cá nhân trong cơ quan nhà nuớc do Hà
Nội, năm
1999
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Từ những nội dung cơ bản trên về quyền giám sát của Quốc hội có thể rút ra các đặc
trung sau đây:
Giám sát tối cao của Quốc hội mang tính quyền lực nhà nước, Quốc hội là cơ quan
dân biểu cao nhất của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan đại diện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Vì thế, thực hiện quyền giám sát tối cao chính là Quốc hội thay mặt nhân dân sử dụng quyền
lực nhà nước do nhân dân giao.
Giám sát của Quốc hội là quyền giám sát tối cao, Quốc hội là cơ quan nhà nước cao
nhất và duy nhất được nhân dân giao thực hiện quyền giám sát tối cao. Quốc hội có quyền
giám sát tối cao bắt nguồn từ vị trí pháp lý tối cao của Quốc hội trong bộ máy nhà nước
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 83 Hiến pháp 1992). Vì do nhân dân
bầu ra nên Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về vai trò và hoạt động của chính
bản thân Quốc hội. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao các cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất về việc thi hành Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội. “Quyền giảm sát
tối cao là quyền giám sát mang tỉnh quyền lực nhà nước cao nhất do Quốc hội thực hiện
quyền công bằng việc theo dõi, xem xét, kiểm tra tỉnh hợp hiển, hợp pháp đổi với việc ban
hành các văn bản và các hoạt động của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chỉnh phủ, Toà án nhân
dân toi cao, Viện kiểm sát nhân dân toi cao; xử lý những vi phạm Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội do các cơ quan nói trên gây ra nhằm bảo đảm cho Hiển pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội được nghiêm chỉnh chấp hành”.1 7
tiên là quyền giám sát tối cao có quan hệ trực tiếp với quyền lập hiến, lập pháp đây là quyền
quan họng của Quốc hội, thông qua hoạt động này, ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
đường lối chính sách của Đảng được thể chế hoá thành luật và là công cụ để nhà nước quản
lý xã hội hiệu quả hơn. Đây là hai vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau và có mối quan hệ tất
yếu khách quan do bản chất của quyền lực nhà nước quyết định và do quyền lực nhà nước
thống nhất tập trung vào tay nhân dân. Không thể tách rời nhau do việc xây dựng Hiến pháp
và luật chính là cơ sở, căn cứ để Quốc hội thực hiện quyền giám sát là điều kiện để hoạt
động giám sát của Quốc hội thực hiện có hiệu quả và đảm bảo tính mục đích của hoạt động
giám sát. Đổ bảo đảm quyền lập hiến và lập pháp được thực hiện thì hoạt động giám sát là
CBHD: Nguyễn Nam Phương
22
SVTH: Nguyễn Trọng Hữu
___________________________________________________Hoạt động giám sát của Quốc hội
điều kiện không thể thiếu. Để có căn cứ trong quá trình xem xét, thẩm tra các dự án luật
Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội phải dựa vào kết quả giám sát của
chính mình về những vấn đề mà văn bản dự thảo đề cập đến. Nếu hoạt động giám sát của
Quốc hội thực hiện tốt việc thi hành Hiến pháp và pháp luật thì đó là điều kiện để Quốc hội,
các Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra các dự án luật có căn cứ thực tế vững chắc, tính thuyết
phục cao không phải lý luận chung do đó có tính thuyết phục cao và áp dụng dể dàng hơn.
Giám sát nằm ngay trong quá trình lập hiến và lập pháp, là khâu không thể thiếu trong quá
trình lập pháp. Trong quá trình lập hiến và lập pháp khi một vãn bản luật ra đời để áp dụng
đuợc vào đời sống càn phải có hàng loạt các văn bản pháp quy khác của cơ quan nhà nuớc
ban hành nhằm huớng dẫn luật của Quốc hội. Vì thể, càn phải giám sát, kiểm tra tính họp
hiến, hợp pháp của các vãn bản pháp quy đó, xem có thể hiện đúng tinh thần của luật mới
ban hành quy định hay không? Giám sát quá trình thực hiện và áp dụng luật chặt chẽ để kịp
thời phát hiện những thiếu sót, mâu thuẫn trong vãn bản luật để kịp thời sửa đổi bổ sung luật