Cải cách hành chính theo cơ chế một cửa ở tỉnh bến tre - Pdf 33

LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nhìn nhận thực hạng nền hành chính Nhà nước với những yếu kém làm trì trệ
sự phát hiển kinh tế - xã hội, Đại hội VI của Đảng đã đề ra chủ trương thực hiện một
cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước. Từ đó đến nay, qua hơn
20 năm cải cách, hoàn thiện bộ máy, nền hành chính Việt Nam đã có được một sự
thay đổi lớn. Tuy nhiên, trong xu hướng phát hiển và hội nhập quốc tế hiện nay, nhu
cầu của người dân và nhu cầu của công cuộc hội nhập ngày càng nâng cao, đòi hỏi
hoạt động của các cơ quan Nhà nước phải không ngừng được hoàn thiện để thực sự là
một nền hành chính phục vụ. Đại hội X năm 2006 tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy
mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh,
từng bước hiện đại, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây
dựng hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thống nhất, thông suốt, hiện đại và xác
định một loạt các giải pháp quan họng để đẩy mạnh cải cách hành chính. Triển khai
thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương
khoá X đã đề ra Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 về đẩy mạnh cải cách
hành
chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
Chính phủ cũng ban hành nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện cải cách hành
chính. Trong đó nổi bật là: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001- 2010 nêu rõ: “Mở rộng thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết
công viêc của cá nhân và tổ chức ở các cơ quan hành chính nhà nước các cấp”. Đây là
một giải pháp sáng tạo được đề ra trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết
38/CP về cải cách một bước thủ tục hành chính trong quan hệ với công dân và tổ
chức, đã đem lại kết quả, lợi ích:
- Giảm tối đa sự phiền hà cho tổ chức, công dân khi có yêu cầu giải quyết
công
việc tại cơ quan hành chính nhà nước.

trong
việc giải quyết công việc cho công dân và tổ chức tại cơ quan hành chính Nhà nước',
hay Bùi Phú Hữu lớp Thương mại K30 với đề tài Thực tiễn thực hiện cơ chế “một
cửa” ở Thành Phổ cần Thơ,...Nhưng tôi không theo hướng nghiên cứu của các đề tài
hên mà tập trung vào quá trình thực hiện “một cửa” ở tỉnh Ben Tre hên cơ sở những
kết quả và tồn đọng.Từ đó, đưa ra những giải pháp để hoàn thiện cơ chế này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc cải cách hành chính trên
địa bàn tỉnh để đáp ứng các yêu cầu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo
chương trình cải cách tổng thể của Chính phủ giai đọan 2001-2010.
Nhiệm vụ của đề tài: Người viết đi vào giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, người nghiên cứu tiếp cận đề tài từ cơ sở lý luận của cơ chế “một
cửa” với các nội dung: khái niệm cải cách hành chính, thủ tục hành chính, cơ chế một
cửa, quan điểm của Đảng nhà nước...
Thứ hai, quá trình triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa” ở tỉnh Ben tre với những kết quả đạt được, những tồn đọng cần giải quyết.
Thứ ba, hên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện cải cách
hành chính ở Ben tre và các địa phương khác trong cả nước.
4. Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các tài liệu liên quan về cải
cách hành chính.Từ đó, thấy được tiến trình cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

2

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ HÀNH CHÍNH
VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1.1. Khái niệm hành chính
Hành chính là thuật ngữ chỉ “hoạt động trong lĩnh vực tổ chức, quản lý và điều
hành” được tiến hành trên cơ sở sự ràng buộc bởi những quy tắc nhất định do Nhà
nước hoặc các chủ thể khác quy định hoặc thừa nhận, có tính bắt buộc, áp đặt mệnh
lệnh, nhằm đạt tới mục đích phục vụ lợi ích chung đã được xác định. Như vậy, hành
chính là hoạt động của cơ quan Nhà nước.
Nền hành chính Nhà nước truyền thống của ta chỉ chú trọng đến hiệu lực quản
lý với nhiều hình thức bao cấp, mang nặng tính chất “xin - cho” gắn liền với các thủ
tục phiền hà , thiếu tính công khai, công dân và tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý
chặt chẽ của Nhà nước. Vì vậy, nền hành chính ấy ngày càng tỏ ra không phù hợp với
sự phát hiển của xã hội. Ngày nay, nền kinh tế thị trường phát hiển vô cùng mạnh mẽ,
quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra phổ biến. Vì thế đòi hỏi nền hành chính Nhà nước phải
có những chuyển biến tích cực để phục vụ cho sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam nói riêng và các quốc gia khác hên thế giới nói chung, phải tự đổi
mới mình nếu không muốn bị nhấn chìm trong vòng xoáy phát hiển của nhân loại. Và
việc xây dựng bộ máy Nhà nước với phương thức điều hành hiện đại là tất yểu. Nhìn
nhận thực hạng nền hành chính nhà nước với những yểu kém làm trì trệ sự phát triển
kinh tế - xã hội, Đại hội VI của Đảng đã đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách
lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước.
Từ đó đến nay, qua hơn 20 năm cải cách, hoàn thiện bộ máy, nền hành chính
Việt Nam đã có được một sự thay đổi lớn. Tuy nhiên, trong xu hướng phát hiển và
hội nhập quốc tế hiện nay, nhu cầu của người dân và nhu cầu của công cuộc hội nhập
ngày càng nâng cao, đòi hỏi hoạt động của các cơ quan Nhà nước phải không ngừng
được hoàn thiện để thực sự là một nền hành chính phục vụ. Đại hội X năm 2006 tiếp

Cải cách hành chính là khái niệm được nhiều quốc gia sử dụng, song do sự
khác biệt về hệ thống chính trị, trình độ và điều kiện nghiên cứu của các quốc gia
khác nhau nên có nhiều định nghĩa về cải cách hành chính.
Theo nghĩa rộng, cải cách hành chính có thể hiểu là một quá trình thay đổi cơ
bản, lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền hành pháp và tất cả các hoạt động có
ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận, các cá nhân
vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn lực để tạo ra hiệu lực, hiệu
quả quản lý và các sản phẩm (dịch vụ hoặc hàng hóa) phục vụ nhân dân thong qua các
phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực. Hiểu theo nghĩa này, cải cách hành
chính là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các
khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước: lập kế hoạch, định thể chế, tổ
chức, công tác cán bộ, tài chính, chỉ huy, phối hợp kiểm tra thông tin và đánh giá.
Theo nghĩa hẹp, cải cách hành chính có thể hiểu như một quá trình thay đổi
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương
pháp

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

5

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

Theo tài liệu của Liên hiệp quốc thì cải cách hành chính là những cố gắng có
chủ định nhằm đua những thay đổi cơ bản vào hệ thống hành chính nhà nuớc thông
qua các cải cách có hệ thống hoặc các phương thức để cải tiến ít nhất một trong bốn
yếu tố cấu thành của nền hành chính công: thể chế, cơ cấu tổ chức, nhân sự và tài
chính công.

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

6

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

hành chính trong giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nuớc với công dân
và tổ chức, đảm bảo dần dần chuyển từ nền hành chính truyền thống sang nền hành
chính phát triển, lấy công dân làm đối tuợng phục vụ. Đồng thời, đổi mới và hoàn
chỉnh thể chế quản lý nhà nuớc, phục vụ đắc lực công cuộc cải cách kinh tế và tài
chính phù họp với cơ chế thị truờng.
1.1.3.2. Cải cách bộ máy hành chỉnh nhà nước
Bộ máy hành chính nhà nuớc bao gồm hệ thống các cơ quan hành chính nhà
nuớc từ trung ương đến địa phương. Cải cách tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn;
quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hách nhiệm của từng cấp, từng ngành;
đảm bảo bộ máy hành chính nhà nước hoạt động thông suốt từ trung ương đến địa
phương.
Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII, cải cách tổ chức và quy chế hoạt
động của bộ máy hành chính nhà nước phải xuất phát từ hai căn cứ: Một là thay đổi
chức năng của nhà nước cho phù họp với cơ chế kinh tế mới thể hiện trong việc đổi
mới và hoàn thiện thể chế, tổ chức nền công vụ; hai là sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà
nước.
1.1.3.3. Đổi mới nâng cao chẩt lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Đội ngũ cán bộ công chức luôn là nhân tố quyết định sự thành công của công
cuộc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách hành chính nói riêng. Vì vậy,
càn thiết phải xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức
đáp ứng nhu cầu công vụ trong điều kiện mới. Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, cửa

thành và từng bước liên tục được bổ sung hoàn thiện. Khởi đầu là Đại hội Đảng lần
thứ VI của Đảng Cộng sản Việt nam (1986) đã mở ra một thời kì phát hiển mới có
tính chất bước ngoặc ở Việt nam, thời kì đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh
tế làm trọng tâm, với mục tiêu dân giàu, nước manh, xã hội công bằng, vãn minh, đi
lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của cải cách là xây dựng “bộ máy nhà nước có đủ
năng
lực”. Tuy nhiên, cải cách bộ máy hành chính lúc đó thực chất vẫn chỉ được coi như
giải pháp tình thế.Chủ trương cải cách hành chính được Đảng cộng sản Việt nam đề
ra
năm 1991, khi nước ta còn đang ở trong tình hạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
nghiêm trọng.
Từ năm 1994 chủ trương cải cách hành chính bắt đầu được tổ chức hiển khai
thực hiện, trong điều kiện công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành
quả
bước đầu quan họng trên các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, đối nội và đối ngoại.
Cải cách hành chính là công cuộc phức tạp có rất nhiều khó khăn vì nó động
chạm đến lợi ích cục bộ của các ngành, các địa phương, cũng như của bản thân đội
ngũ cán bộ công chức, trong khi thói nhũng nhiễu, quan liêu của cơ chế cũ chưa được
khắc phục.Vì vậy, cải cách hành chính đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, phải kiên
quyết, khẩn trương song không thể đơn giản, nóng vội.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách hành chính được hình thành, phát
hiển và hoàn thiện qua các kì Đại hội của Đảng: Nghị quyết đại hội VII, Nghị quyết
Trung ương 8 (khóa VII) tháng 01 năm 1995 đánh dấu một bước phát hiển mới trong
nội dung định hướng cải cách hành chính ở Việt nam, Nghị quyết Đại hội VIII, Nghị
quyết Trung ương 3 ( khóa VIII ), Nghị quyết Trung ương 6, và Nghị quyết Trung
ương 7 tháng 7 năm 1999.

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

8

công.
Hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
(khóa VIII) họp tháng 6/1997 đã ban và ra Nghị Quyết phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước cộng hòa xã chủ nghĩa Việt Nam... Tiếp tục thực
hiện cải cách hành chính là một trong những chủ trương và giải pháp lớn được nhấn
mạnh trong Nghị quyết này. Neu như trước đó cải cách hành chính chủ yếu xuất phát từ
việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế và phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, tháo gỡ
khó khăn tạo môi trường cho các hoạt động kinh tế thì trong Nghị quyết này nhiệm vụ

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

9

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

cải cách không dừng lại ở đó mà cải cách hành chính còn là yêu cầu bảo đảm cho việc
thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị-xã hội, nhằm phát huy tốt hơn nữa, nhiều hơn
nữa quyền làm chủ của nhân dân.
Tiếp theo đó, Nghị quyết Trung uơng 6 và đặc biệt là Nghị quyết Trung uơng 7
tháng 8 năm 1999 ( khóa VIII) đã biểu thị mọi quyết tâm chính trị lớn về việc tiếp tục
tiến hành cải cách hành chính, đặt cải cách hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ
thống chính trị.
Rồi Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) và chiến luợc phát hiển kinh tế - xã hội
giai đoạn 2001- 2010 bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính
nhà nuớc dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng buớc hiện đại hóa đua ra quan điểm,
định huớng về tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính.
Cải cách nền hành chính là một bộ phận đuợc đặt trong cải cách bộ máy nhà


nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lảnh đạo của Đảng;
xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất năng lực đáp ứng yêu cầu của công
cuộc xây dựng và phát hiển đất nước; ngày 12/8/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định 139/2003/QĐ-TTg phê duyệt đề án, đổi mới phương thức, điều hành
và hiện đại hóa công sở của hệ thống nhà nước giai đoạn 2003-2005; ngày 4/9/2003
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 181/2003/QĐ-TTg về quy chế thực
hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và một số văn
bản liên quan đến việc thực hiện cơ chế “một cửa”.
Qua quá trình triển khai công tác cải cách hành chính, đến nay cải cách hành
chính vẫn tiếp tục là khâu họng tâm và ưu tiên hàng đầu trong chỉ đạo, điều hành của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên so với yêu cầu đề ra, công tác cải cách
hành chính vẫn còn bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém, tiến độ cải cách còn chậm,
hiệu quả thấp chưa đồng bộ.
Đe tiếp tục cải cách hành chính đồng bộ, sâu rộng và có hiệu quả hơn trên các
lĩnh vực mà trọng tâm và yêu cầu cấp bách là tập trung vào cải cách mạnh mẽ thủ tục
hành chính, tạo cho được chuyển biến căn bản trong quan hệ giữa các cơ quan hành
chính với công dân và tổ chức, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội; Thủ tướng Chính
phủ ra chỉ thị 09/2005/TC-TTg ngày 5/4/2005 về tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách
hành chính.
1.2. Thủ tục hành chính và cơ chế “một cửa”
1.2.1. Thủ tục hành chính
Trong quản lý, để giải quyết công việc cần phải tuân theo những quy trình thủ
tục phù hợp. Với nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cách thức giải quyết theo
một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt
chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn. Trong hoạt động của cơ quan nhà
nước, thủ tục trước hết được hiểu là những trình tự được quy định và phải tuân theo
khi thực hiện việc công.
Theo quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động quản lý ở nước ta, hoạt
động chấp hành và điều hành (hành pháp) của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước

việc của công dân, tổ chức được đề ra đầu tiên trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của
nước ngoài tại Quyết định số 366/HĐBT ngày 7/11/1991 của Hội đồng bộ trưởng
(nay là Chính phủ) ban hành chế độ thẩm định các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của
nước ngoài.
Cơ chế “một cửa” và “một cửa tại chỗ” đã trở thành nguyên tắc trong hoạt
động của các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất từ đó đến nay. Ke đến, thực
hiện Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục
hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức. Từ năm 1995, nhiều địa
phương đã chủ động thí điểm thực hiện theo mô hình “một cửa” hoặc là “một cửa,
một dấu”. Đi đầu trong lĩnh vực này là Thành phố Hồ Chí Minh, ủy ban nhân dân
Thành phố đã xây dựng đề án kèm theo công văn 2853/UB-NCVX ngày 27/9/1995 về
việc xin thí điểm tổ chức hoạt động của ủy ban nhân dân cấp quận, huyện tại một khu
hành chính theo mô hình “một cửa, một dấu” đối với ủy ban nhân dân quận 1, quận 5
và huyện Củ chi. Tiếp theo Thành phố, năm 1996, 1997 có thêm 4 tỉnh, thành phố là:

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

12

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

Được sự nhất trí của Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo cải cách hành chính
của Chính phủ đã chỉ đạo Ban Thư ký tổ chức khảo sát và kiểm tra việc thực hiện thí
điểm Cơ chế “một cửa” tại một số tỉnh, thành phố để đề xuất phương án nhân rộng.
Tháng 6/2003, Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ
và Bộ Tài chính tổ chức hội nghị tổng kết thí điểm mô hình “một cửa”.
Căn cứ vào kết luận của Hội nghị tổng kết, Bộ Nội vụ xây dựng quy chế thực

nước ở địa phương. “Một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân
thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến
việc trả lại kết quả thông qua một đầu mối là “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại cơ
quan hành chính Nhà nước.
Việc thực hiện cơ chế “một cửa” nhằm đạt được bước chuyển căn bản trong
quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính Nhà nước với công
dân, tổ chức; giảm phiền hà cho người dân đồng thời chống tệ quan liêu, tham nhũng,
cửa quyền của cán bộ công chức; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.
Cơ chế “một cửa” được áp dụng trong các cơ quan hành chính ở địa phương.
Cụ thể: ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (các Sở, Ban ngành,
Vãn phòng Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân); ủy ban nhân dân quận, huyện,
thành phố thuộc tỉnh; ủy ban nhân dân xã, phường, thị tran.

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

14

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

Thực chất, ở các địa phương thực hiện mô hình một cửa theo hướng tập trung
các đầu mối giải quyết thủ tục hành chính từ các phòng chuyên môn về các đầu mối
tại ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã...thành lập tổ “Tiếp nhận - Trả hồ sơ” và
thực hiện 3 công khai:
- Công khai các giai đoạn của từng thủ tục hành chính
- Công khai thời gian và quy trình giải quyết đối với từng loại hồ sơ
- Công khai lệ phí giải quyết hồ sơ
Như vậy, toàn bộ các khâu thụ lý, xử ký hồ sơ đều do nội bộ các cơ quan


SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

dân, đã giảm bớt các công việc trùng lắp như: văn thư-lưu trữ, tài chính kế toán... tạo
sự thuận lợi trong giải quyết công việc giữa các cơ quan trong bộ máy hành chính.
- Đối với đội ngũ cán bộ, công chức: Thực hiện cơ chế mới đòi hỏi mỗi người
phải tự hoàn thiện bản thân cả về trình độ, chuyên môn nghiệp vụ lẫn phẩm chất đạo
đức trong khi thi hành nhiệm vụ, đặc biệt trong giải quyết công việc với công dân và
tổ chức.
Thứ hai, cơ chế “một cửa” đã đem lại sự hài lòng cho công dân, tổ chức - đối
tượng được phục vụ
+ Các cơ quan hành chính đã lấy lại được lòng tin của dân đối với hoạt động
của mình vì đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của họ với một thái độ phục vụ công
tâm.
+ Sự công khai hóa mọi thủ tục hành chính, thời gian giải quyết và lệ phí đã
giúp mọi người dân có tâm hạng thoải mái khi đến cơ quan công quyền, giải tỏa được
sự vướng mắc do thiếu minh bạch thường xảy ra như trước đây. Đảm bảo mỗi người
dân đều có thể tham gia vào hoạt động giám sát và quản lý hành chính Nhà nước.
1.2.3. Cải cách thủ tục hành chính là “khâu đột phá” trong tiến trình cải cách
hành chính
Khi đề cập đến nhiệm vụ họng tâm năm 2009, Bộ trưởng Trần Văn Tuấn cho
biết: “Cải cách thủ tục hành chính được xác định là khâu đột phá”. Theo đó, Bộ Nội
vụ sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa”,
“một cửa liên thông”. Cải cách hành chính luôn là một trong những nội dung quan
tâm hàng đầu trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta. Trong đó, cải cách thủ tục
hành chính được xem như “khâu đột phá” với mục tiêu ban đầu được xác định khá rõ
ràng: “phải đạt được những chuyển biến căn bản trong quan hệ về thủ tục giải quyết

trong việc ban hành thủ tục hành chính và quy định lệ phí”.
Sau hơn 10 năm thực hiện cải cách với những kết quả đạt được, một lần nữa
cho phép ta khẳng định sự lựa chọn trên là vô cùng đúng đắn, phù hợp với điều kiện,
nhu cầu cải cách hành chính nước ta. Với những lý do:
Thứ nhất, trong một thời gian dài trước cải cách, thủ tục hành chính của ta thể
hiện nhiều hạn chế:
+ Nặng nề, nhiều cửa, nhiều cấp trung gian không cần thiết, không rõ ràng về
trách nhiệm;
+ Đòi hỏi quá nhiều giấy tờ gây phiền hà cho nhân dân;
+ Trì trệ, không phù hợp với yêu cầu phát hiển trong tình hình mới;
+ Thiếu thống nhất, thường bị thay đổi một cách tùy tiện;
+ Thiếu tính công khai, minh bạch.
Thứ hai, thủ tục hành chính là cầu nối giữa cơ quan hành chính nhà nước với
công dân, tổ chức. Một khi hệ thống thủ tục được ban hành phù họp với nguyện vọng,
nhu cầu của công dân, tổ chức sẽ làm lòng tin của họ vào cơ quan hành chính Nhà
nước; đó là điều mà bất kì một nề hành chính ở bất cứ quốc gia nào cũng cần hướng
đến. Và ở đây, khâu đột phá trong cải cách đã góp phần thực hiện mục tiêu trên.
Thủ ba, thủ tục hành chính là mảnh đất dung túng những thói quan liêu, sách
nhiễu dân của một bộ phận cán bộ công chức. Vì thế, khi được cải cách sẽ gạt bỏ đi
những căn bệnh xấu trong cơ quan hành chính, làm cho bộ máy Nhà nước trong sạch,
vững mạnh.
Thứ tư, trong nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước luôn có mối quan hệ
họp tác, phối hợp với nhau trong giải quyết công việc. Một hệ thống thủ tục rườm rà,

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

17

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


kinh tế, văn hóa của tỉnh và 7 huyện (Bình Đại, Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri,
Mỏ
Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách ) với 160 xã, phường, thị trấn.
Bến Tre có truyền thống lịch sử và cách mạng, là quê hương của Phong trào
Đồng khởi, mở đầu cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tiến lên
xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Tuy có vị trí quan họng trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và được cả
nước biết đến, thể nhưng Ben Tre còn gặp nhiều khó khăn: sức thu hút đầu tư và
nguồn lực cho phát triển thấp. Tỉnh đã đề ra chiến lược phát hiển kinh tể - xã hội 2001
đến 2010 với các mục tiêu sau: “Phát hiển nhanh nền kinh tế; phá thế biệt lập của tỉnh
cù lao trong nội tỉnh về các mặt giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, giáo
dục và y tế; hình thành các vùng chuyên canh, khu, cụm công thương nghiệp, mặt
hang họng điểm; chuyển đổi một bước quan trọng trong cơ cấu kinh tế chuẩn bị tăng
tốc phát hiển sau năm 2010; phát hiển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ cho
yêu cầu trước mắt và cho phát triển bền vững; tiếp tục đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo
và xóa nạn mù chữ; giải quyết lao động và việc làm, nâng cao trình độ dân trí và chất
lượng cuộc sống cho dân cư.
Chiến lược phát hiển kinh tể - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 là tập trung phát
hiển mạnh công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ. Đen năm 2010, cơ cấu

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

19

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

kinh tế của tỉnh sẽ là: nông lâm thủy sản 45%, công nghiệp xây dựng 27% và dịch vụ

an ninh - quốc phòng; tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn đầu tư và khuyến
khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh. Kiện toàn tổ
chức, tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp; xác định rõ chức

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

20

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ tận tụy phục vụ
nhân dân; khắc phục tệ quan liêu, xa rời nhân dân.
2.1.2. Phòng cải cách hành chính
Theo quyết định số 2612/QĐ - UB ngày 8/8/2005 về việc thành lập Phòng cải
cách hành chính thuộc Sở Nội Vụ tỉnh Ben Tre hên cơ sở tách ra từ Bộ phận chuyên
trách cải cách hành chính của Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh.
Phòng cải cách hành chính là một bộ phận của Sở Nội Vụ tỉnh Ben Tre, Phòng
giúp Sở Nội vụ tỉnh trong công tác cải cách hành chính của tỉnh: cải cách thủ tục hành
chính; thực hiện cơ chế “một cửa” từ các Sở, Ban, Ngành tỉnh xuống các xã trong
toàn tỉnh; cải cách tài chính công; vấn đề khoán biên chế và kinh phí quản lý Nhà
nước; phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, tổng kết việc thực hiện các văn bản của Trung
ương và tỉnh xuống các địa phương trong toàn tỉnh. Phòng cải cách hành chính chịu
sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Sở Nội vụ về biên chế và công tác hoạt động trong
các lĩnh vực mà Phòng phụ trách.
về nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng:
+ Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện vấn đề cải cách hành chính từ các Sở, Ban,
Ngành của tỉnh đến tận các xã;

________í__________
Trưởng phòng cải cách

-> Chuyên viên

Chuyên viên

Sơ đồ 2.1: Cơ cẩu tổ chức của phòng cải cách hành chỉnh
Là một Phòng mới được thành lập không lâu. Tuy vẫn còn nhiều khó khăn
song Phòng cải cách hành chính đã từng bước khẳng định vai trò chủ đạo của mình
trong việc thực hiện vấn đề cải cách hành chính hên địa bàn tỉnh, đóng góp vào công
cuộc cải cách hành chính của cả nước nói chung và của Ben Tre nói riêng.
2.1.3.
Công tác chuẩn bỉ thưc hiên cơ chế “môt cửa” ở tỉnh Bến Tre
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần
thứ 8 (khóa VII), Nghị quyết số 38/CP của Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh Bến Tre lần thứ VII và chương trình cải cách hành chính năm 2001-2010. Thực
hiện Quyết định sốl36/2001/QĐ-TTg phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành
chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010; thực hiện Định hướng cải cách hành chính
2001-2005 của ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre; thực hiện Quyết định 181/QĐ-TTg
ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế
“một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

22

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt



chức thực hiện đạt được nhiều tiến bộ, góp phần đáng kể cho việc thu hút đầu tư, thúc
đẩy kinh tế, xã hội địa phương phát hiển. Tuy nhiên thời gian qua vẫn còn một số tồn
tại hạn chế cần sửa chữa, khắc phục như:

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

23

SVTH: Bùi Thị Thu Nguyệt


LVTN: Cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” ở tỉnh Bến Tre

+ Nhận thức về nội dung của cải cách hành chính không đầy đủ, vận hành cơ
chế “một cửa” chưa đúng nguyên tắc.
+ Công khai các thủ tục hành chính không rõ ràng.
+ Giải quyết hồ sơ, thủ tục vẫn còn trễ hẹn, công dân và tổ chức phải đi lại
nhiều lần, tốn thời gian, nhất là hên lĩnh vực đất đai, xây dựng. Một số địa phương
nhận hồ sơ, thủ tục nhưng không có phiếu hẹn hoặc tự đặt ra những qui định riêng.
+ Tình hạng đùn đẩy, nhũng nhiễu, cửa quyền vẫn còn xảy ra, đạo đức nghề
nghiệp trong thi hành công vụ chưa tốt.
Những việc tồn tại, thiếu sót này gây nhiều phiền hà, làm cản trở công việc,
mất thời gian của tổ chức, công dân, ảnh hưởng đến quá trình cải cách hành chính và
phát triển chung của địa phương. Bên cạnh đó, việc lãnh đạo điều hành công tác cải
cách hành chính của một số đơn vị, địa phương chưa thật sự tập trung nên hiển khai,
tổ chức thực hiện chưa đến nơi, đến chốn, vẫn còn tình hạng thiếu chương trình, kế
hoạch năm về công tác, cải cách hành chính nhất là ở cấp cơ sở. Lề lối làm việc thiếu
khoa học, không xây dựng quy chế hoặc có qui chế nhưng không thực hiện theo. Việc
phân công, giao việc không rõ ràng, không cụ thể. Công tác kiểm tra, đôn đốc chưa
được quan tâm thường xuyên; chế độ thông tin, báo cáo thực hiện không nghiêm.

động của cán bộ, công chức.
- Rà soát các thủ tục hành chính, cương quyết loại bỏ hoặc kiến nghị loại bỏ
những thủ tục không cần thiết, không còn phù hợp.
- Nghiêm cấm việc tự đặt ra những thủ tục trái với qui định.
- Giải thích và trả lời những yêu cầu chính đáng của công dân và doanh nghiệp
trong việc giải quyết hồ sơ, thủ tục.
- Tập trung thực hiện tốt đề án đơn giản hóa các thủ tục hành chính hên các
lĩnh vực theo Quyết định số 30/QĐ-TTg, ngày 10-1-2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Những nơi đã thực hiện cơ chế “một cửa” cần nâng cao chất lượng hoạt động,
đồng thời đưa thêm lĩnh vực khiếu nại, tố cáo, chính sách xã hội, hộ khẩu vào giải
quyết theo cơ chế này. Việc vận hành cơ chế phải đúng nguyên tắc, đúng qui trinh,
đúng cam kết đã công bố. Giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” với
tinh thần: công khai, minh bạch, nhanh chóng, thuận tiện và đúng pháp luật. Cuối năm
2007, tất cả các cơ quan hành chính Nhà nước tại địa phương phải áp dụng cơ chế
“một cửa”.
ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành cấp tỉnh tiến hành
củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của địa phương, đơn vị mình;
từng nơi xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính và qui chế làm việc, có
phân công giao việc cụ thể, có qui định thời gian. Chậm nhất đến hết quí III-2007,
mỗi huyện, thị phải chọn một xã, thị trấn, phường làm điểm thực hiện công tác cải
cách hành chính và báo cáo về Thường trực Ban Chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh (Sở
Nội vụ) để theo dõi, hướng dẫn thực hiện. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, chế độ
thanh tra, kiểm tra.
- Tiến hành báo cáo công tác cải cách hành chính từng năm. Từ đó rút ra
những
kinh nghiệm, những tồn đọng và đặt ra phương hướng, nhiệm vụ cho năm tiếp theo.

GVHD: Th.s. Võ Duy Nam

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status