Nâng cao hiệu quả hoạt động của hội thẩm nhân dân - Pdf 33

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô Khoa
Luật - Trường Đại học cần Thơ đã tận tình truyền dạy cho người viết nguồn kiến
thức sâu rộng góp phần hoàn thành luận văn này. Và hơn hết, người viết xin gửi
lời cảm ơn chân thành đến Cô Huỳnh Thị Sinh Hiền, người đã tận tình chỉ dẫn,
giúp đỡ và động viên người viết trong suốt quá trình làm luận vãn. Chân thành
cảm ơn các tác giả của những bài viết, sách, báo, tạp chí chuyên luận mà người
viết đã sử dụng làm tài liệu trong quá trình nghiên cứu.

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Với điều kiện thời gian cho
phép, khả
nghiên
cứu và kinh nghiêm thực
KỈỈÓA
34năng
(2008
- 2012)

tế còn hạn chế, ẳt hẳn luận vãn sẽ có nhiều thiếu sót. Nhưng với sự nghiên cứu
nghiêm túc, lòng đam mê tìm tòi người viết hy vọng đóng góp ỷ kiến nhỏ của
mình vào sự phát triển chung của nền khoa
pháp lý. Rẩt mong nhận được sự
ĐÈhọc
TÀI
góp ý, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô, những người đi trước và những anh chị,
độc giả quan tâm đến đề tài này.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA HÔI THÂM NHÂN DÂN


i quát về Hội thẩm nhân dân...................................................................3
1.1.1.................................................................................................................. Kh
ái niệm về Hội thẩm nhân dãn..................................................................3
1.1.2.................................................................................................................. Vai
trò và nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân..................................................3
1.1.3.
Sơ lược về sự hình thành và phát triển chế đinh Hội thẩm nhân
dân ở
nước ta......................................................................................................................5
1.2.
Giói thiệu chung về chế định bồi thẩm đoàn ở một số nước trên
thế giói9
1.2.1....................................................................................Bồi thẩm đoàn ở Mỹ
9
1.2.2.................................................................................Bồi thẩm đoàn ở Pháp
11
1.3.....................................................................................................................Các
nguyên tắc liên quan đến chế định Hội thẩm nhân dân........................13
1.3.1.
Nguyên tắc về sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động
xét
xử............................................................................................................................13
1.3.2.................................................................................................................. Ng
uyên tắc khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán..................13
1.3.3.
Nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân
theo
pháp luật.................................................................................................................14
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ HỘI THẢM NHÂN DÂN... 16
2.1...........................................................Quy định về bàu Hội thẩm nhân dân

dân
..................................................................................................................
...45
3.2.1.
Cần xây dựng Luật về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân
dân... 45
3.2.2.
Giao cho Hội đòng nhân dân trách nhiệm quăn lý Hội thẩm nhân
dân 46
3.2.3.
Cần
số lượng Hội thẩm nhân dân được bầu, cho phép
nhân
dân không
cótăng
năngcường
lực.................................................................................48
3.2.5...........................Cần tiêu chuẩn hóa quy đinh về “ kiến thức pháp luật”
49
3.2.6..................................Thay đoi số lượng Hội thẩm trong Hội đồng xét xử
49
3.2.7..........................................Chế độ chính sách đối với Hội thẩm nhân dân
50
3.3. Một số đề xuất nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân...............51
3.3.1....................................................................về việc lụa chọn bầu Hội thẩm
51
3.3.2......................................về việc bồi dưỡng nghiệp vụ xét xử cho Hội thẩm
51
3.3.3.
Tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để Hội thẩm nhân dân

dân tham gia xét xử chưa thể hiện được vai trò đại diện của mình, thậm chí tỏ ra
yếu, kém, và không có năng lực, tham gia xét xử không hiệu quả, gây ra oan, sai,
làm mất uy tín của Tòa án. Với mong muốn nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử
của Hội thẩm nhân dân, phát huy dân chủ trong Nhà Nước pháp quyền Việt Nam.
Người viết chọn đề tài “nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân dân”
để làm đề tài luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến mục đích làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về vị
trí, tổ chức, hoạt động của Hội thẩm nhân dân, qua đó thấy được vai trò, nhiệm
vụ của Hội thẩm là cực kỳ quan trọng. Bên cạnh đó, đề tài cũng nêu lên những
tích cực và hạn chế trong công tác Hội thẩm, nguyên nhân của những thực trạng
đó, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xét xử của
Hội thẩm trong giai đoạn hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Liên quan đến chế định Hội thẩm nhân dân có rất nhiều nội dung để nghiên
cứu. Tuy nhiên do thời gian có hạn và vốn hiểu biết còn nhiều hạn chế nên trong

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

1

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


Luận văn tốt nghiệp

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

giới hạn của Luận văn cử nhân luật, Người viết không đề cập về Hội thẩm quân
nhân mà chỉ tập trung nghiên cứu về vị trí, vai hò, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
1.1. Khái quát về Hội thẩm nhân dân

1.1.1. Khái niệm về Hội thẩm nhân dân
Đại diện cho tiếng nói của nhân dân trong hoạt động xét xử là ý nghĩa chính
yếu cho chế định Hội thẩm nhân dân. Hội thẩm nhân dân là người thỏa mãn được
GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

3

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


1

Điều 24, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946

Luận văn tốt nghiệp

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

Là những người được bầu theo quy định của pháp luật, xuất phát từ một
nguyên tắc Hiến định, Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử là một biểu trưng của
nền tư pháp của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Với vai trò đại diện cho nhân dân, tại phiên tòa, Hội thẩm bổ sung những
kiến thức thực tế có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên bản án thấu tình đạt lý.
Từ công tác xét xử, Hội thẩm nhân dân góp phần nâng cao hom nữa chất lượng


4

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


2

Điều 17, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24 tháng giêng năm 1946

Luận văn tốt nghiệp

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

đúng đắn cho tất cả những hành vi của mình, đó không chỉ là lời hứa trước nhân
dân mà còn là lời hứa với chính bản thân Hội thẩm, nếu làm sai thì sẽ là có tội
với Nhà nước, có tội với nhân dân và có tội với chính lương tâm của mình. Tuy
nhiên pháp luật hiện hành không còn quy định về Hội thẩm phải tuyên thệ tại
phiên tòa, song Hội thẩm phải luôn có trách nhiệm dựa vào Nhà Nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi
công dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Nhà nước và nhân dân giao phó.

1.1.3. Sơ lược về sự hình thành và phát triển chế đinh Hội thẩm nhân dân

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

5

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


người dân vừa mới trải qua một khoảng thòi gian lâu dài sống dưới ách đô hộ,
nên chưa nhận thức sâu sắc về vai trò làm chủ đất nước cũng như các hoạt động
để người dân tham gia vào công việc quản lý của Nhà nước chưa được người dân
quan tâm đúng mực. Cách gọi Phụ thẩm theo sắc lệnh số 13/SL phù hợp với quy
định của Hiến pháp 1946 về vai trò phụ thuộc của Phụ thẩm trong phiên xử việc
tiểu hình khi mà Phụ thẩm tham gia chỉ để đóng góp ý kiến chứ không có quyền
quyết định bản án, Phụ thẩm chỉ quyết định bản án ở phiên xử việc đại hình. Cho
đến Sắc lệnh số 85/SL thì đại diện nhân dân tham gia xét xử đã có một vị trí hoàn
toàn khác, được ngang hàng với. Thẩm phán, được quyền đọc hồ sơ trước khi xét
xử và được biểu quyết.4
Ngày 5/5/1952 Bộ Tư Pháp ra Thông tư số 02 quy định nhiệm vụ, quyền hạn,
lề lối làm việc của Hội thẩm nhân dân các cấp, theo đó thành phần Hội thẩm
nhân dân sẽ do địa phương cử. Hội thẩm nhân dân cùng với Thẩm phán chịu
trách nhiệm chung trước Chính phủ và nhân dân về kết quả hoạt động của Tòa
án. Hội thẩm có quyền tham gia trong việc điều tra, xét xử, hòa giải, giáo dục
nhân dân và phải là cầu nối giữa Tòa án với nhân dân.
1.1.3.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Năm 1954 vói chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã
hội, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống lại sự đô hộ
của chính quyền Sài Gòn cũ. Những thay đổi về chế định Hội thẩm trong giai

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

6

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


5
6

phán”5. Quy định này khẳng định hơn nữa tầm quan trọng và ý nghĩa của việc
nhân dân tham gia xét xử. Đồng thời quy định về hạn chế thẩm quyền xét xử của
Phụ thẩm nhân dân ở Hiến pháp 1946 cũng không còn, giờ đây với Hiến pháp
mới, thẩm quyền của Hội thẩm mở rộng hơn. Từ đó thấy được Nhà nước ta ngày
càng tạo nhiều điều kiện để người dân hiểu và đến gần hơn với hoạt động của các
cơ quan có thẩm quyền.
Cụ thể hóa Hiến pháp 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 được Quốc
Hội nước ta thông qua ngày 14/7/1960 đã quy định những nguyên tắc rất quan
trọng liên quan đến hoạt động xét xử “Tòa án nhân dân thực hành chế độ xét xử
tập thể và quyết định theo đa số”. Hội đồng xét xử bao gồm một Thẩm phán và
hai Hội thẩm nhân dân, trừ những vụ án nhỏ, đơn giản có thể không có Hội thẩm
nhân dân. Khi phúc thẩm thì Tòa án nhân dân địa phương phải có ba Thẩm phán,
trường họp đặc biệt có thể có thêm Hội thẩm nhân dân6. Khác với quy định ở sắc
lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 “Tòa phúc thẩm có hai Thẩm phán và ba Hội thẩm
nhân dân”7, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 chỉ để Hội thẩm xét xử phúc
thẩm trong trường họp đặc biệt, có thể vì tính chất quan trọng của phiên xử phúc
thẩm - là cấp xét xử cuối cùng, bản án có hiệu lực ngay, do đó càn những người

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

7

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


8
9

Điều 3, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992
Điều 19, Luật tổ

Với sự ra đòi của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992, chế
độ bầu Hội thẩm được thực hiện đối với Tòa án nhân dân địa phương, chế độ cử
áp dụng cho Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự 8. Vì ở giai đoạn này, Tòa
án nhân dân tối cao ngoài phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm còn có thẩm
quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm vụ án theo quy định của pháp luật tố
tụng9 nên mới có Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối cao. Hiện tại, theo Luật
tổ chức Tòa án nhân dân 2002 thì chế độ cử Hội thẩm chỉ áp dụng cho Tòa án
quân sự, vì lúc này Tòa án nhân dân tối cao không còn thẩm qyền xét xử sơ thẩm
nên việc xét xử của Tòa án nhân dân tối cao không có sự tham gia của Hội thẩm
nhân dân. Ngoài ra, do những thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

8

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


Luận văn tốt nghiệp

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

xét xử ngày càng trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi ở các chủ thể tiến hành tố tụng
những hiểu biết pháp luật nhất định để đảm bảo xét xử đúng đắn và hiệu quả.
Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 quy định cụ thể hom về tiêu chuẩn
Hội thẩm.về nguyên tắc, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm
chất, đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế
Xã hội chủ nghĩa thì có thể được bàu làm Hội thẩm nhân dân và hiện tại tiêu
chuẩn này không thay đổi.
Có thể nói, ở Việt Nam, đại diện nhân dân tham gia xét xử đã có từ rất sớm,

AlanB.
155.

Morrison

,

Những

vẩn

đề

Luận văn tốt nghiệp



bản

của

luật

pháp

Mỹ

,

NXB

phép phán quyết có thể là ý kiến của đa số.
Cũng có một số trường hợp khi tình tiết vụ án quá phức tạp hoặc khi bồi thẩm
không thể hiểu những chỉ dẫn của Thẩm phán về luật pháp, thì Thẩm phán sẽ
không đợi để nghe phán quyết của bồi thẩm, mà ngay khi kết thúc phần tranh
tụng, các bồi thẩm sẽ được yêu càu trả lời các câu hỏi liên quan đến vụ án, và
Thẩm phán sau đó sẽ áp dụng luật để ra phán quyết, trường họp này được gọi là
“phán quyết đặc biệt” nhằm bảo đảm rằng bồi thẩm đoàn sẽ tuân theo luật pháp.
Như vậy, dù bồi thẩm đoàn được coi là trọng tài cuối cùng, song tòa án vẫn giữ
quyền kiểm soát các vấn đề liên quan đến luật để chắc rằng bồi thẩm không lạm
dụng quyền của mình bằng cách đưa ra những phán quyết không công bằng mà
gây tác hại đến việc thực thi luật pháp.
1.2.1.2. Lựa chọn bồi thấm viên và sổ lượng bồi thấm viên
Tiếp theo là công việc của các luật sư và Thẩm phán, họ sẽ thẩm tra những
người đã được lựa chọn. Trên cơ sở linh cảm và trực giác, nếu tin tưởng rằng một
người sẽ không vô tư khi xét xử, chang hạn như họ là bạn bè hoặc thân thích với

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

10

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi



Nội,

2007,

Tr


bản

của luật pháp
Nội,
2007, Tr 105.
dân

một bên, thì sẽ bị coi là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị loại bỏ để có được bồi thẩm
đoàn cuối cùng. Tầm quan trọng của bồi thẩm đoàn đặt ra mối quan tâm rất lớn
trong việc lựa chọn ai sẽ là bồi thẩm viên. Theo lý tưởng, Bồi thẩm đoàn được
lựa chọn từ một bộ phận công dân được lấy ngẫu nhiên trong dân cư, thường là
những người có sự am hiểu nhất định về vấn đề liên quan đến vụ việc. Các bồi
thẩm viên được chọn trong khu vực địa lý thuộc thẩm quyền tài phán của tòa,
theo đó, quy định về “nơi chốn và địa phận” trong tu chính án thứ sáu (bảo đảm
rằng phiên xét xử sẽ mở tại nơi tội ác diễn ra) được áp dụng nhằm hạn chế tình
trạng thao túng khi lựa chọn bồi thẩm.
Bồi thẩm đoàn trong các vụ việc dân sự thường là bồi thẩm đoàn nhỏ gồm từ
6 đến 12 người. Bồi thẩm đoàn hình sự, nhất là các vụ án nghiêm trọng, phức tạp
thì thường sẽ là bồi thẩm đoàn lớn gồm 23 người11.
1.2.1.3. ưu điểm và nhược điểm của chế định bồi thẩm đoàn ở Mỹ
Ưu điểm của việc xét xử có bồi thẩm đoàn ở Mỹ là trước tiên thể hiện tinh
thần dân chủ của nước Mỹ. Với những công dân Mỹ bình thường, đến từ nhiều
tầng lớp xã hội, trình độ hiểu biết khác nhau và nhất là không chuyên về luật, sự
khác nhau về tôn giáo, sắc tộc, giới tính...và rất nhiều yếu tố khác không tương
đồng, họ sẽ đem đến phiên tòa những ý kiến đánh giá khách quan, vô tư và rất
phong phú. Nhờ vậy sẽ hạn chế được sự độc đoán, chuyên quyền của quan tòa.
Hơn nữa, chế định bồi thẩm còn thể hiện bản nét nhân đạo trong hệ thống pháp
luật Mỹ, nếu bản án được quyết định bởi những thẩm phán am hiểu luật thì họ sẽ
thiên về lý nhiều hơn và tuyên bị cáo có tội, nhưng nếu là bồi thẩm viên thì dù
cho vụ việc có sai hoàn toàn về lý nhưng lại họp tình thì họ có thể phán bị cáo vô

xử

các

vụ

án

hình

sự



đây

cũng



tòa

duy

nhất



sự


Cũng tương tự như nhược điểm của bồi thẩm đoàn ở Mỹ, do các bồi thẩm
viên đều không chuyên về luật, mặc dù kinh nghiệm sống phong phú, nhưng mỗi

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

12

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi

tham

gia

của

bồi


Luận văn tốt nghiệp

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

người am hiểu một mảng riêng biệt, cho nên cách đánh giá vấn đề cũng sẽ khác
nhau. Và đó chính là nguyên nhân dẫn đến bất đồng ý kiến.
Tóm lại, chế định bồi thẩm đoàn ở các nước khác nhau có vai trò khác nhau
và cũng có sự khác biệt nhất định với chế định Hội thẩm nhân dân ở Việt Nam.
Song, dù là Hội thẩm hay bồi thẩm thì họ cũng là đại diện cho nhân dân tham gia
vào công tác xét xử. Hoạt động này thể hiện tính nhân dân của một Nhà nước dân
chủ, đồng thời qua đó người dân có điều kiện nâng cao hiểu biết về pháp luật.
1.3.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

Việt Nam xã hội chủ nghĩa và được ghi nhận một cách chính thức, liên tục qua
các bản Hiến pháp Việt Nam. Với vai trò đại diện nhân dân, chế định Hội thẩm
nhân dân có ý nghĩa thiết thực trong việc đảm bảo tính dân chủ nhân dân đối với
bản án, quyết định của Tòa án. Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, ngang quyền
vói Thẩm phán, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là những nguyên tắc làm nền
tảng cho sự tồn tại của chế định này. Đe hoạt động của Hội thẩm nhân dân đi vào
trật tự và đạt hiệu quả, pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa những nguyên tắc kể
trên bằng những quy định của pháp luật liên quan đến cơ chế bầu, bãi nhiệm,
miễn nhiệm cũng như mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân
dân. Và nhiệm vụ của chương hai là làm rõ những quy định này.

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

15

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


13

Khoản
quyết

14

1,

Điều


ban

hành

kèm

theo

Nghị

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân 05/2005/NQLT/TANDTC

BNV UBTWMTTQVN.
Thông

liên
tịch
số
01/2004/TANDTC-UBTWMTTQVN
ngày
1/3/2004
của
Tòa
và Uỷ ban Trung ưcmg Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc chuẩn bị
Hội thẩm Tòa

CHƯƠNG 2

án


Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

trận Tổ quốc Việt Nam lập danh sách và hồ sơ nhân sự được giới thiệu và có văn
bản giới thiệu ra Hội đồng nhân dân cùng cấp để bầu Hội thẩm nhân dân.
Trong quá trinh chuẩn bị nhân sự, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh
án Tòa án nhân dân cấp huyện và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc báo cáo, xin
ý kiến chỉ đạo của cấp ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp để bảo đảm
việc bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân được tiến hành theo đúng pháp luật và đạt
kết quả tốt.
Như vậy, để có được danh sách những người sẽ được bầu làm Hội thẩm, pháp
luật yêu càu đại diện Tòa án phải phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc để làm
việc này. Như đã trình bày ở trên, Mặt trận Tổ quốc ở địa phương nào thì có trách
nhiệm giới thiệu danh sách để bầu Hội thẩm cho Tòa án ở địa phương đó. Vào
mỗi đợt bầu Hội thẩm, Chánh án sẽ đề xuất để đưa vào danh sách giới thiệu
những Hội thẩm đương nhiệm nhưng đủ điều kiện để bầu lại, đồng thời đề xuất
về cơ cấu, số lượng Hội thẩm phù hợp với nhu cầu của Tòa án ở thời điểm hiện
tại. Từ đó, danh sách giới thiệu sẽ họp lý hơn, đội ngũ Hội thẩm nhân dân trong
nhiệm kỳ tới sẽ vẫn đảm bảo về số lượng, hài hòa về cơ cấu, thành phần và hoạt
động sẽ hiệu quả hơn.
Thêm vào đó, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc là liên minh của các tổ chức chính trị
xã hội, xã hội nghề nghiệp, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, đại diện cho các
giới, các ngành, các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, tất cả các thành viên trong xã
hội, do đó có mối quan hệ gắn bó với nhân dân. Việc giao cho Mặt trận Tổ quốc
các cấp lập danh sách giới thiệu để bầu Hội thẩm có thể sẽ đảm bảo được ít nhiều
tính nhân dân trong khâu bầu chọn những người thực sự xứng đáng với tên gọi
“Hội thẩm nhân dân”. Bằng việc giao cho Mặt trận Tổ quốc các cấp nhiệm vụ
chính trị trong công tác bầu Hội thẩm cũng là cách biểu hiện sự tin cậy của Nhà
nước và nhân dân vào vai trò của Mặt trận Tổ quốc, một tổ chức phản ánh bản
chất dân chủ trong hệ thống chính trị của Nhà nước ta.

không tự mình ứng cử. Tuy nhiên, đơn ứng cử có thể có ý nghĩa thể hiện sự tự
nguyện của người được giới thiệu bầu làm Hội thẩm, bởi vì người làm công tác
Hội thẩm thì quyền lợi không nhiều, hoạt động của Hội thẩm phụ thuộc rất nhiều
vào ý thức trách nhiệm, lòng nhiệt tình của mỗi Hội thẩm nhân dân.
Phần sơ yếu lý lịch sẽ cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân và nhất thiết phải
có lý lịch tư pháp để xác định được người này có từng bị kết án hay không. Giấy
chứng nhận sức khỏe cũng là một nội dung rất quan trọng, bắt buộc phải có trong
hồ sơ bởi vì theo khảo sát thực tế ở nhiều Tòa án thì mật độ tham gia xét xử của
Hội thẩm là cán bộ hưu trí dày hơn so với Hội thẩm khác, mà các vị Hội thẩm là
cán bộ hưu thì tuổi tác đã cao, do vậy cần thiết phải có những giấy tờ chứng minh
tình trạng sức khỏe để hạn chế trường hợp Hội thẩm vừa mới bắt đầu nhiệm kỳ
đã bị miễn nhiệm vì lý do không đảm bảo sức khỏe, như thế sẽ làm mất kinh phí
và thời gian cho việc bàu bổ sung Hội thẩm.

GVHD: Ths.Huỳnh Thị Sinh Hiền

18

SVTH: Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi


15
16

Khoản 1, Điều 41, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
Hướng dẫn cùa
Uỷ
ban
Nâng
số

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhăn dân

nhân dân;
+ Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan
liêu, hách dịch, cửa quyền. Có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, bảo
vệ công lý;
+ Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật, các chủ trương của Đảng và
chính sách của Nhà nước. Chưa bị kết án (kể cả trường họp đã được xóa án tích).
Có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt cộng đồng. Tôn trọng
nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên kết chặc chẽ với nhân dân, lắng nghe ý
kiến và chịu sự giám sát của nhân dân;
+ “Có kiến thức pháp lý” là phải có trình độ hiểu biết pháp luật ở mức độ
nhất định. “ Có sức khỏe hoàn thành nhiệm vụ được giao” là người có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó
là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện
nhiệm vụ của Hội thẩm. Tuổi của Hội thẩm Tòa án nhân dân từ 70 tuổi trở xuống
đối với nam và từ 65 tuổi trở xuống đối với nữ;
+ Không thuộc trường họp quy định tại Điều 2 Chương 1 của Quy Định số
75/QĐ - TW ngày 25/4/2000 của Bộ Chính Trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính
trị nội bộ Đảng”;
+ Đối với những người làm công tác tại các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,
Cơ quan điều tra, thi hành án và những người đang làm việc tại các tổ chức luật
sư, tư vấn pháp lý thì không được giới thiệu để bầu làm Hội thẩm Tòa án nhân
dân;
Như vậy, công dân Việt Nam tuân thủ pháp luật, gương mẫu, có kiến thức
pháp lý, có đời sống trong sạch, giản dị, hòa đồng và được lòng tin của nhân dân
đồng thời ở trong độ tuổi quy định thì đủ điều kiện được giới thiệu để bầu làm
Hội thẩm nhân dân.
Sau khi hoàn tất khâu giới thiệu, Hội đồng nhân dân tiến hành bầu Hội thẩm
nhân dân. Để việc bầu Hội thẩm được thực hiện đúng đắn và hiệu quả, Hội đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status