ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - Pdf 33

ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM

Đề tài:
ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Nhóm thực hiện: nhóm 12.
Họ và tên:
MSSV:
1. Nguyễn Thị Mừng………………..……………....10258741 (NT)
2. Hồ Ánh Hồng……………………………………..10230421
3. Ngô Thị Thu Trang……………………………....10261791
4. Hồ Đình…………………………………………...10258731
5. Huỳnh Hoàng Nhu…………………………….....10250171
6. Nguyễn Linh Vương…………………………..…10272411
7. Nguyễn Thị Ngọc Giàu………………………...…10277861
8. Lê Thị Thúy……………………………………….10206581
9. Lê Ngọc Hiền…………………………………....10275301
10. Phan Thị Hậu…………………………………...10278081
11. Trần Thị Thu Hường…………………………..10253781
12. Nguyễn Thị Hạnh………………………………10259271
1


Thành phố, tháng 3, năm 2011

LỜI NÓI ĐẦU
Đường lối đối ngoại đã được Đảng đề ra sau cách mạng tháng Tám-1945 thành

quan điểm chiến lược, sách lược về quan hệ của Việt Nam với thế giới.
Ngày 3/10/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
“thông cáo về chính sách ngoại giao của nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam”,
trong đó nêu rõ:
Chính sách sách đối ngoại của Việt Nam được xây dựng trên các cơ sở; thực
tiển Việt Nam; tình hình quốc tế;thái độ của các liệt quốc. Điều đó có nghĩa là dân
tộc Việt Nam tự mình đặt ra đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, trên cở sở yêu
cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, nhưng đống thời phải phù hợp với chuẩn
mực quốc tế, thích ứng với xu thế thời đại.
Mục tiêu đối ngoại của Việt Nam là góp phần “đưa nước nhà đến sự độc lập
hoàn toàn và vĩnh viễn”. Đó là sự khặng định một cách nhất quán, nhiệm vụ đối
ngoại bảo đảm cảu lợi ích quốc gia dân tộc, bảo đảm các quyền dân tộc cở bản
như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước.

3


Về nguyên tắc đối ngoại, nền ngoại giao Việt Nam lấy nguyên tắc của Hiến
chương Đại Tây Dương làm nền tảng. Chỉ thị của ban chấp hành TWĐ về kháng
chiến kiến quốc ngày 25/11/1945 neu rõ “kiên trì chủ trương ngoại giao với các
nước theo nguyên tắc bình đẳng và tương trợ”. Phải đặc biệt chú ý đến điều này:
Một là thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đống minh
hơn hết; Hai là muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.
Giữ vững mục tiêu nguyên tắc đống thời sẵn sàng thực hiện chính sách đối
ngoại rộng mở là nét độc đáo trong đường lối đối ngoại của nước Việt Nam mới.
Về phương châm đối ngoại, nền ngoại giao của nước Việt Nam mới quán triệt
quan điểm độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Trong quan hệ quốc tế, phải nắm vững
phương châm kiên trì về nguyên tắc, giữ vững chiến lược, nhưng mềm dẻo, linh
hoạt về sách lược: “mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải

bước ngoặc hết sức quan trọng trong quan hệ quốc tế.
Sau 9 năm kháng chiến vô cùng gian lao và anh dũng buộc thực dân Pháp phải
đàm phán với nước ta tại Gionevo. Sau thất bại ở Điên Biên Phủ, Pháp đã kí với ta
hiệp định Gionevo vào ngày 21/7/1954, chấm dứt chiến tranh ở Đông dương. Việc
kí hiệp định Gionevo, “ngoại giao ta đã thắng lợi to” như lời khẳng định của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
Nội dung hiệp định Gionevo:
• Các nước tham gia hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc

cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của
ba nước Đông Dương.
• Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, tập kết, chuyển quân,
chuyển giao khu vực và lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương.

5


+ Ở Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội viễn chinh Pháp
tập kết ở hai miền Bắc- Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm
thời.
+ Ở Lào, lực lượng kháng chiến tập kết ở hai tĩnh Sầm Nưa và Phongxali.
+Ở Campuchia, lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ, không có vùng
tập kết.

• Hiệp định cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí vào ba

nước Đông Dương. Không đặt căn cứ quân sự ở ba nước này. các
nước Đông Dương không được tham gia bất kì khối liên minh
quân sự nào....
• Việt Nam tiến tới tổng tuyển cử tự do trên toàn quốc (7/1956) dưới

chính quyền Sài Gòn, ngày 17-7-1955, theo sự chỉ đạo của Mĩ, Diệm tuyên bố
không hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ngày 25-10-1955, với
những biện pháp lừa bịp và mua chuộc, Ngô Đình Diệm đã tổ chức “trưng cầu dân
ý”, phế truất Bảo Đại và tự lên ngôi Tổng thống ngụy quyền. hoàn cảnh mới của
thế giới và tình hình Việt Nam lúc bấy giờ không cho phép đế quốc Mĩ lừa bịp
nhân dân thế giới và nhân dân ta bằng cách dựng lên một chính quyền bản xứ có
đủ hình thức cần thiết, mà chúng coi là độc lập. chỉ trong vòng gần một năm, Mĩ đã
hoàn thành việc thay thế chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của Pháp và áp đặt chủ nghĩa
thực dân mới của Mĩ ở miền Nam Việt Nam. Chính quyền mới ra đời là kết quả
của sự đầu hàng của Pháp đối với Mĩ, khẳng định thất bại của đế quốc Pháp về
quân sự và chính trị trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Tuy nhiên, tư cách
pháp lý của chính quyền miền Nam không vì thế mà thay đổi: Ngô Đình Diệm kế
nghiệp Bảo Đại, chính quyền miền Nam vẫn chỉ có nhiệm vụ cùng với Pháp phụ
trách việc quản lý hành chính ở miền Nam để chờ đợi tổng tuyển cử, đồng thời
cùng với Pháp thi hành triệt để các điều khoản của hiệp định Gionevo. Như vậy,
đứng về mặt pháp lý cũng như thực tế lịch sử, không có một cơ sở nào để bè lũ

7


Ngô Đình Diệm thiết lập một nhà nước riêng biệt ở miền Nam Việt Nam. Và cái
“nhà nước” mà Mĩ-Diệm đã dựng lên ở miền Nam và đặt tên là “nước Việt Nam
cộng hòa” là kết quả trực tiếp của việc chúng phá hoại Hiệp định Gionevo. Nhà
nước đó hoàn toàn bất hợp pháp.
Để che đậy bản chất thuộc địa đã lỗi thời, lừa phỉnh nhân dân và dư luận thế
giới, Mĩ đã khoác cho chính quyền Ngô Đình Diệm một hình thức độc lập quốc gia
giả hiệu, có quốc hội, có hiến pháp, có quân đội…nhưng thực tế, chính quyền miền
Nam lúc bấy giờ không phải là một chính quyền độc lập. đế quốc Mĩ đã đặt cố vấn
khắp nơi, nắm các hoạt động quan trọng, liên tiếp đua các phái đoàn nhân viên
quân sự và vũ khí lập căn cứ quân sự miền Nam. Mỹ lấy danh nghĩa giúp đỡ Diệm

lương để nhằm ngăn trở việc thi hành Hiệp định Gionevo. Các tác giả đăng tài liệu
mật trên tờ Thời báo- Mặt trời Chi- Ca – Gô những người lãnh đạo ở Oa-sinh-tơn
đã hết sức thán phục việc Ngô Đình Diệm biết cách đàn áp nhanh chống và có hiệu
quả đến như vậy. chính vì vậy mà Aisenhao và Đa-lét đã tìm mọi cách duy trì chế
độ Ngô Đình Diệm mặc dù theo nhận xét của Cục tình báo Trung ương Mỹ về tình
hình miền Nam Việt Nam cho biết triển vọng thiết lập một “ chế độ vững chắc”
“hết sức nhỏ” và điều chắc chắn hơn là tình hình hiện nay sẽ tiếp tục xấu dần trong
năm tới.
Chủ trương can thiệp và xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ không được sự
nhất trí ủng hộ ngay trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ. vì lí do này hay lí do khác,
nhiều người đã sớm nhận ra hậu quả của việc can thiệp này. Ngày 23/10/1954, Bộ
trưởng quốc phòng Mỹ Uynxon đã lên tiếng phản đối việc Mỹ can thiệp vào Việt
Nam và cho rằng Mỹ nên rút khỏi khu vực này. đó là những tiếng nói thức thời , có
lương tri, biết cân nhắc đâu là lợi ích thật sự của nước Mỹ. việc Mỹ quyết tâm biến
miền Nam Việt Nam thành một vòng tuyến chống cộng bằng cách trực tiếp nắm
9


lấy bộ máy ngụy quyền, ngụy quân từ cơ sở, (do các cố vấn Mỹ quyết định mọi
vấn đề), còn tạo ra mâu thuẫn ngày càng tăng giữa Mỹ và chính quyền tay sai. Mặc
dù, chính quyền Ngô Đình Diệm phải dựa vào Mỹ để yo6n2 tại nhưng trong suốt
một thời gian dài, tập đoàn Ngô Đình Diệm vẫn tìm mọi cách đấu tranh, hạn chế
sự lấn át của Mỹ để vốt lại một phần quyền lực tương độc lập của mình.
Như vậy, rõ ràng đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại Hiệp định Gionevo từ khi nó
được kí kết như lời Tổng thống Aixenhao tuyên bố ngày 22-7-1954; Hoa Kỳ không
dự vào những quyết định của hội nghị và không bị ràng buộc vào những quyết định
ấy. cũng nhu Tổng thống của mình, khi còn là thượng nghị sỹ, Kennody đã nhấn
mạnh “ Việt Nam là hòn đá tảng của thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ
của chúng ta, chúng ta không thể từ bỏ nó”. Chính vì lẽ đó, trong học thuyết
Đimono của mình, Mỹ chọn Việt Nam làm trọng điểm của chính sách xâm lược.

cách mạng miền Nam tiến lên bằng con đường hòa bình hay bạo lực cách mạng?
con đường giải phóng miền Nam làm thế nào để giữ vững hòa bình ở miền Bắc,
không để lan thành chiến tranh khu vực hoặc chiến tranh biên giới?
Trước tình hình đó, đường lối cách mạng đảng đề ra trong thời kì này được triển
khai qua các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng và được hoàn thiện tại Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng(9-1960). Đại hội đã xác định: “cách
mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện hiehtuiywuoytue8ytuwoiutiw
Tháng 7/1945 Hiệp định Gionevo được kí kết, cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược và can thiêp Mĩ do Đảng lãnh đạo giành được thắng lợi song sự
nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên pham vi cả nước vẫn chưa hoàn
thành. Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác
nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kì quá độ đi lên xây dựng Chủ

11


Nghĩa xã hội; Ở miền nam, Mĩ thay chân pháp , âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt
Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự.
Lúc này tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, đặc biệt là xu thế hòa
hoãn có tác động tiêu cực đến đến chiến lược các nước Đồng minh của ta. Tất cả
các nước trên thế giới, kể cả Liên Xô và Trung Quốc, đều chưa ủng hộ Việt nam
dùng đấu tranh cách mạng thống nhất đất nước, mà đi vào xu thế hòa hoãn nhằm
giữ nguyên trạng Châu Âu và nguyên trạng thế giới.
Cũng cố và phát triển quan hệ ngoại giao với các nước Xã Chủ Nghĩa, đặt biệt
là Liên Xô, Trung Quốc.
Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa là thành viên của các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Việt Nam đã
nhận được sự viện trợ về vật chất và tinh thần, sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân
yêu chuộng hòa bình thế giới nói chung, các nước xã hội chủ nghĩa nói riêng. Đây
là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của Việt Nam.

Thừa nhận chính phủ của Lào và Campuchia đồng thời đặt quan hệ ngoại giao
với hai nước này. gắn lợi ích quốc gia với lợi ích chung của ba nước Việt Nam luôn
coi trọng sự ủng hộ, giúp đở với cuôc đấu tranh cua nhân dân Lào và Campuchia là
nghĩa vụ của chính mình. Kiên trì đẩy mạnh sự nghiệp đoàn kết, liên minh với
nhân dân Lào, nhân dân Campuchia theo nguyên tắc “luôn luôn tôn trọng độc lập
chủ quyền, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, đồng thời giữ vững
tinh thần độc lập, tự chủ của ta”.

13


Xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị với Vương quốc Lào và Vương quốc
Campuchia về mặt nhà nước, đồng thời duy trì quan hệ giúp đở các lực lượng cách
mạng của hai nước này. tăng cường phát triển hơn quan hệ ba nước trên cơ sở thi
hành Hiệp định đình chiến, ngăn chặn hai nước gia nhập “khối phòng thủ Đông
Nam Á”. Hội nghị khẳng định: quan hệ với các nước láng giềng phải “đặt trên cơ
sở năm nguyên tắc lớn là tôn trọng lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm
phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội bộ chính của nhau, bình đẳng và cùng có
lợi, chung sống hòa bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tuyên bố: Việt Nam dân chủ
cộng hòa sẵn sàng lập quan hệ hữu hảo với Vương quốc Lào và Vương quốc
Campuchia. Quan hệ ba nước Đông dương bước sang thời kì mới: chống sự can
thiệp, thống trị bên ngoài vì độc lập tự do của nhân dân mỗi nước.
Với Lào, nhân dân Việt Nam thực hiện một chính sách ngoại giao mềm dẻo có
nguyên tắc, kiên trì ủng hộ chính sách hòa bình, trung lập của Hoàng thân Xuvana
Phuma.
Với Campuchia, Việt Nam cố gắng xây dựng quan hệ chính quyền hữu nghị,
tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trong đường biên
giới hiện tại. Việt Nam khoan nghênh việc Campuchia thiết lập quan hệ ngoại giao
với Liên Xô, Trung Quốc, hướng Campuchia vào hành động chung chống đế quốc
Mỹ xâm lược, vì hòa bình, độc lập, thống nhất các dân tộc Đông Dương. Tháng

sáng tạo trong việc phân tích tình hình, xác định đường lối chiến lược của cách
mạng Việt Nam nói chung, đường lối đối ngoại nói riêng. Có thể nói, đường lối đối
ngoại Việt nam giai đoạn 1954 đến 1960 đã chứng kiến quá trình nhận thức yêu
cầu của lịch sử, hình thành về đường lối đối đối ngoại, đồng thời từng bước triển
khai thực hiện đường lối đó, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế nhằm phục vụ sự nghiệp
15


xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ ở miền
Nam.
Sự hình thành đường lối cách mạng Việt Nam nói chung và đường lối đối ngoại
của Đảng nói riêng giai đoạn 1954 đến 1960, tạo cơ sở vững chắc, đồng thời để lại
những kinh nghiệm quý báu cho những giai đoạn sau.
Từ sau năm 1954, đế quốc Mĩ can thiệp ngày càng sâu vào Việt Nam. Ngày
5/9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính
sách mới của Đảng. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu chính sách đối ngoại của Việt Nam
là chống chính sách chiến tranh của đế quốc Mĩ, chống Mĩ tổ chức khối xâm lược
Đông Nam Á, cũng cố hòa bình ở Đông Dương, bảo vệ hòa bình Đông Nam Á và
toàn thế giới.
Hội nghị toàn quốc lần thứ III (9/1960) xác định nội dung cơ bản chính sách đối
ngoại của Việt Nam “ mong muốn xây dựng và phát triển mối quan hệ tốt trên cơ
sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau…chúng ta sẵn sàng đặt quan hệ hữu nghị với tất cả các nước khác trên cơ sở
bình đẳng và hai bên cúng có lợi”.
Hội nghị trung ương lần thứ 13 của Đảng (27/1/1967) ra Nghị quyết về đẩy
mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến lên công địch, phục vụ sự nghiệp chống
Mĩ cứu nước cảu nhân dân ta. Khẳng định đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò
quan trọng. Nghị quyết chỉ rõ: Đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam là nhân
tố chủ yếu quyết định thang1 lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên
mặt trận ngoại giao… tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản

+ Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới.

17


+ Đẩy lùi khả năng Mĩ ngăn cản ta giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Thực tế cho thấy trong cuộc kháng chiến chống Mĩ với đường lối đối ngoại
đúng đắn, Đảng ta đã xây dựng một mặt trận nhân dân thế giới rộng rãi, đoàn kết
và ủng hộ Việt Nam chống Mĩ xâm lược bao gồm các nước XHCN, caca1 nước
độc lập dân tộc, các lực lượng yêu nước, trụ hòa bình dân chủ và tiến bộ trên thế
giới trong đó có cả bộ phận nhân dân Mĩ. Cách mạng Việt Nam đã tập hợp lực
lượng quốc tế mạnh mẻ góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mĩ đến thắng lợi
hoàn toàn.

III.ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TA THỜI KÌ 1975 ĐẾN
1985
Nhiệm vụ đối ngoại được Đại hội lần thứ 4 (12/1976) của Đảng ta đề ra là: “ra
sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi, để nhanh chóng hàn gắn những vết
thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học kĩ
thuật, cũng cố quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ở nước ta”.
Đại hội 4 còn chủ trương:
+ Củng cố và tăng cường đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác với các XHCN.
+ Bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia.
+ Sẵn sàng thiết lập và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trong
khu vực và trên thế giới.
Từ giữa năm 1978: tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô, coi quan hệ với
Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Đại hội lần thứ 5 của Đảng (3/1982) xác định:

18


Nổi bật trong quan hệ đối ngoại trong giai đoạn này là quan hệ Việt Nam-Trung
Quốc đang chịu ảnh hưởng của cuộc chiên tranh biên giới phía Bắc (17/02/1979).
Quan hệ Việt Nam-Liên Xô được coi hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của
Việt Nam. Việt Nam đã coi việc: “Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn
luôn là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta”.
Quan hệ Việt Nam-Lào-Campuchia được đánh giá cao, được coi là: “ Một qui
luật phát triển giữa ba nước, là điều có ý nghĩa sống còn dối với vận mệnh của ba
dân tộc”.
Đối với các nước khác trong cộng đồng XHCN được coi trọng hợp tác và phát
triển, nhất là các nước Hội đồng tương trợ kinh tế. Nước chúng ta ủng hộ cuộc đấu
tranh của nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ La Tinh, hợp tác với các nước thành viên
trong phong trào các nước không liên kết, quan tâm tới phong trào các nước không
liên kết, quan tâm tới phong trào đấu tranh của nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa
và các nước trong ASEAN: “ nhân đân Việt Nam chủ trương thiết lập những quan
hệ láng giềng tốt với các nước ASEAN, luôn luôn sẵn sàn phối hợp cố gắng để xây
dựng Đông Nam Á trở thành một khu vực hòa bình và ổn định”.

1.Đối ngoại 1986-1991:
*Đối với các nước XHCN và Liên Xô:
Việt Nam “tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước XHCN
khác”. Việt Nam và các nước XHCN hợp tác từ hình thức là viện trợ kinh tế kỹ

20


thuật tiến tới hợp tác toàn diện, trên mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội an ninh quốc
phòng. Việt Nam tiếp tục mở rộng hoạt động đối ngoại là không ngoài mục đích là
cho Việt Nam đứng vững trên đôi chân của mình mà tiến lên.
Trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, Liên Xô là đối tác quan trọng nhất, điều

ĐẢng và nhà nước chủ trương “bàn với Mỹ gaiir quyết các vấn đề do chiến tranh
để lại luôn sẵn sàn quan hệ với Mỹ vì lợi ích hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á”.
*Đối với các nước ASEAN:
ĐẢng chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị avf hợp tác với các nước Đong Nam
Á, bày tỏ mong muốn sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương luwqowngj để
giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hòa bình phấn
đầu cho một Đông Nam Á hòa bình hữu nghị và hợp tác.

2.Chính sách đối ngoại 1991-1995:
Đại hội VII ĐẢng cộng sản Việt Nam (họp từ 17-22/06/1991) trên cơ sở đánh giá
nhuwgnx nguyên nhân tạo nên những thành tựu-hạn chế của thực hiện nghị quyết
Trung ương (6,7,8) Đại hội VII chỉ những vấn đề mới nảy sinh. ĐẠi hội thông qua
cương lĩnh phương hướng cơ bản về thời kỳ quá độ đi leenc hủ nghĩa xã hội ở Việt

22


Nam và chiến lược oonnr định phát triển kinh tế-xã hội (đén năm 2000) của VIệt
Nam.
ĐẢng đã xác định nhiệm vụ đối ngoại bao trùm : “giữ vững hòa bình, mở rộng
quan hệ hữu nghị hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận cho conng cuộc xây dựng
CNXH và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung
của nhân ndaan thê sgiwowis vì hòa bình, độc lập dân tộ, dân chủ va ftieens bộ xã
hội”.
3.Chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước từ 1996 đến nay.
Nhiệm vụ đối ngoại “củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi
hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần vào cuộc
đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình độc dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội”. bên cacnhj đó chúng ta còn tiếp tục chính sách đối ngoại mở rộng. độc lập

từ truyền thống ngoại giao cah ông : “ lấy nhân nghĩa thắng hung tàn”, lấy chí nhân
để thay cường bạo” ( NGUYỄN TRÃI). Đó là sự tiếp tục của phương chân “thái
bình yên nên gắng sức, non nước ấy nghìn thu” ( trần quang khải). Truyền thống
ngaoij giao đó đã dược HCM, nhà ngoại giao kiệt xuất đúc kết thành châ lý “
không có gì quý hơn độc lập tự do”. Nhuwntgs tư tưởng lớn ấy đã trở thanhf những
nguyên tắc va phương châm ứng xử của chính sách ngoại giao.
Những thành tựu về kinh tế, chính trị và đối ngoại của Việt Nam Trong những năm
đổi mới đã khẳng định vị thế của nước ta đối với khu vực và thế giới, chứng minh
sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối nói riêng của Đảng Cộng Sản Việt Nam,
khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò lãnhđạo và tư duy chính trị nhạy cảm. sâu sắc bản
lĩnh lãnh đạo vững vàng của Đảng.

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………

2

I.ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG THỜI KÌ 1945 – 1954………

3

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status