Sáng kiến kinh nghiệm công tác chủ nhiệm lớp và chủ nhiệm lớp nguồn - Pdf 33

SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Đoàn Kết
……
Mã số:……………

ĐỀ TÀI:
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
VÀ CHỦ NHIỆM LỚP NGUỒN

Người thực hiện: Trang Sĩ Dũ
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn Vật Lý
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác:…………………………
Có đính kèm:
Mô hình

Phần mềm

Phim ảnh

Năm học: 2014- 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
…  …

Hiện vật khác


I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Trang Sĩ Dũ

Công tác chủ nhiệm là một phần quan trọng của một giáo viên trong nhà
trường. Chủ nhiệm là một nhiệm vụ khó khăn nhưng cũng rất nhiều ý nghĩa cao
cả. Chủ nhiệm lớp không đơn thuần như một giáo viên dạy bộ môn bình thường
là chỉ truyền thụ kiến thức cho học sinh, mà người giáo viên chủ nhiệm thực sự là
một người nghệ sỹ, một người thầy, một người cha, người mẹ định hướng, uốn
nắn các em học sinh trở thành một con người đúng nghĩa và dìu dắt các em bước
vào đời trở thành một người công dân tốt, một người có ích cho gia đình và xã
hội. Để hiểu được vai trò của một giáo viên chủ nhiệm thì dễ, nhưng để hoàn
thành được nhiệm vụ như yêu cầu thì thực sự rất khó. Nó đòi hỏi người giáo viên
không chỉ giỏi về chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt, lương tâm, trách nhiệm
mà còn có cả kinh nghiệm lẫn nghệ thuật giáo dục.
Đối với các giáo viên mới làm công tác chủ nhiệm thì đây quả thật là một
nhiệm vụ khó khăn. Bản thân tôi cũng không ngoại lệ, cũng đã học hỏi rất nhiều
từ các thầy cô đi trước, cũng đã trăn trở và suy nghĩ nhiều để tìm ra con đường tốt
nhất nhằm hoàn thành nhiệm vụ của mình. Dù kinh nghiệm làm chủ nhiệm chưa
nhiều, nghệ thuật chưa thật sự nhuần nhuyễn nhưng may mắn được sự tín nhiệm
của lãnh đạo trường, sự ủng hộ và giúp đỡ của đồng nghiệp, của phụ huynh học
sinh và của cả học sinh, bản thân cũng rút ra đựơc nhiều bài học quý báu trong
công tác chủ nhiệm lớp A1 niên khoá 2011 -2014.
Đề tài về công tác chủ nhiệm là một đề tài rất rộng và khó, song bản thân cũng
muốn mạnh dạn chia sẻ những trăn trở, những khó khăn cùng các đồng nghiệp để
học hỏi lẫn nhau và hơn hết bản thân cũng muốn lắng nghe những góp ý chân
thành về những hạn chế của mình để hoàn thiện hơn trong công tác chủ nhiệm về
sau. Với thời gian không nhiều, kinh nghiệm chưa sâu nên nhất định đề tài còn
rất nhiều chỗ hạn chế. Rất mong được sự cảm thông và chia sẻ của các thầy cô
đồng nghiệp.
II. Mục tiêu và hướng phát triển đề tài
Đề tài của tôi viết nên chỉ bằng những kinh nghiệm nhỏ của bản thân, muốn
đúc kết và hệ thống lại thành một bài học cho mình và những giáo viên mới làm
công tác chủ nhiệm. Vì thế những chia sẻ của quý thầy cô thật sự là niềm vui, là

Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng
cao chất lượng và hiệu quả của giảng dạy và giáo dục. Vận dụng các phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, chủ động và sáng
tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh.
Thực hiện điều lệ nhà trường, thực hiện quyết định của hiệu trưởng, chịu sự kiểm
tra, đánh giá của hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục.
Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; yêu
thương, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền, lợi
ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường
học tập dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh.
Xây dựng các kế hoạch giáo dục, thể hiện rõ mục tiêu, phương pháp giáo dục bảo
đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn cảnh và điều kiện thực
tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của lớp và của từng học sinh.
Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng.
Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh
niên, các tổ chức xã hội có liên quan trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn
luyện, hướng nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các
nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường.
Nhận xét, đánh giá, xếp loại học sinh cuối kì và cuối năm học, đề nghị khen
thưởng và kỉ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, kiểm
tra lại, rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kì nghỉ hè; học sinh phải ở lại lớp;
hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ của học sinh.
Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với hiệu trưởng.

Phần ba : NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Vai trò, trách nhiệm và yêu cầu đối với người GVCN
1. Vai trò giảng dạy kiến thức chuyên môn
Cũng như tất cả những giáo viên trong nhà trường, người GVCN cũng phải là
một người giáo viên đứng lớp, truyền thụ cho học sinh kiến thức về chuyên môn.
Qua đó có thể nắm bắt được khả năng học tập của từng học sinh, hiểu thêm về

nghệ, Thể dục thể thao, tư vấn…
Muốn làm tốt điều đó đòi hỏi người GVCN phải thật sự năng động, sáng tạo,
tích cực và linh hoạt trong công tác.. Biết cách phối hợp với các giáo viên bộ
môn ( sau đây viết tắt là GVBM), kết hợp với các đoàn thể …để nắm bắt thông
tin, cần phải gần gũi học sinh, vui vẻ, hoà đồng, sẵn sàng tham gia để làm hình
mẫu lôi kéo học sinh.
4. Vai trò cố vấn cho tập thể học sinh
Người GVCN cũng là một cố vấn, một chuyên gia. Phải biết vận động,
khuyến khích học sinh. Trong quá trình học tập lâu dài, với rất nhiều đòi hỏi, yêu
cầu về chuyên môn của các GVBM; hay các phong trào văn hóa văn nghệ… do
Đoàn trường tổ chức…và kể cả từ yêu cầu của gia đình học sinh. Nhất định học
sinh sẽ rất nhiều áp lực, lúng túng và đặc biệt tinh thần học tập, tham gia phong
trào giảm sút. Hoặc những vấn đề phát sinh trong quan hệ bạn bè trong lớp, trong
trường, học sinh với giáo viên, với bạn bè ngoài xã hội. Thậm chí là các tệ nạn xã
hội v.v…Lúc đó vai trò của người GVCN rất quan trọng. GVCN phải biết tư vấn,


phải biết chia sẻ với học sinh. Biết nhắc nhở học sinh, chỉ ra những cái lỗi, những
cái sai, những ưu điểm và khuyết điểm từ đó định hướng cho học sinh đi đúng
hướng. Để làm được điều đó đòi hỏi người GVCN không chỉ giỏi về chuyên
môn, mà đòi hỏi phải có kiến thức sâu rộng về nhiều mặt của cuộc sống. Người
GVCN cần có một mối quan hệ xã hội nhất định, mối quan hệ mật thiết với nhà
trường, với đồng nghiệp, giám thị …để có được sự đánh giá toàn diện.
Công tác tư vấn là cả một nghệ thuật, người GVCN sẽ trở thành một chuyên
gia tâm lý. Phải biết lắng nghe, lắng nghe từ nhiều phía; lắng nghe từ học sinh,
bạn bè xung quanh; lắng nghe đồng nghiệp và lãnh đạo. Phải biết cảm thông với
lỗi lầm của học sinh, phải biết chia sẻ, động viên và cũng phải mạnh mẽ, kiên
định.
II. Các nhiệm vụ giáo dục trọng tâm của GVCN và giải pháp chung của từng
nhiệm vụ



các em theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa và lập trường, đường lối kiên định
của Đảng Cộng Sản.
Giáo dục đạo đức, tư tưởng, lối sống cho học sinh có thể thực hiện thông qua
các tiết sinh hoạt, các tiết dạy và các hoạt động ngoài giờ, ngoại khoá…
3. Giáo dục tri dục
Giáo dục trí dục là giáo dục về tri thức nhằm mở mang kiến thức và phát triển
tư tưởng của con người. Ngoài việc là một giáo viên giảng dạy bộ môn, truyền
thụ cho học sinh kiến thức của môn học người GVCN cần truyền thụ, bổ sung
cho học sinh những kiến thức khác thuộc về tri thức của nhân loại, về cuộc sống,
xã hội, giáo dục, kinh tế, khoa học kỹ thuật, sức khoẻ, giới tính, lịch sử và địa lý
địa phương v.v…Có như vậy học sinh mới có thể có được kiến thức đầy đủ,
phong phú khi bước vào đời. Giáo dục trí dục cho học sinh chủ nhiệm có thể tiến
hành song song với tiết dạy bộ môn, tiết sinh hoạt, ngoại khoá, dã ngoại…Việc
này đòi hỏi người GVCN phải có kiến thức thật rộng, chính xác. Với thời đại
công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, học sinh cũng có thể dễ
dàng nắm bắt thông tin và biết nhiều kiến thức khác. Vì thế người GVCN phải
luôn học tập, trau dồi và cập nhật.
Xây dựng kế hoạch hoạt động 15 phút đầu giờ, tăng cường theo dõi, kiểm tra
đánh giá, phát động phong trào thi đua học tập…cũng là một giải pháp nâng cao
chất lượng giáo dục trí dục của lớp.
4. Giáo dục văn thể mỹ
Giáo dục văn thể mỹ cho học sinh sẽ giúp cho học sinh trở thành một con
người hoàn thiện. Giáo dục văn thể mỹ là một nhiệm vụ rất quan trọng mà người
GVCN cần phải thực hiện. Ngoài việc giáo dục trí dục để học sinh phát triển kiến
thức thì cần phải giáo dục cho học sinh kiến thức về thẩm mỹ. Dạy cho học sinh
tình yêu cái đẹp, và trân trọng giá trị tinh thần trong cuộc sống. Nếu học sinh chỉ
học kiến thức chuyên môn, chỉ giỏi về chuyên môn thì các em sẽ trở thành một
con người thực dụng, sống khô khan và cứng nhắc. Nhưng nếu các em được giáo

hướng cho học sinh. Đây là một nhiệm vụ không hề đơn giản.
Trước tiên người GVCN phải thật sự am hiểu học sinh của mình. Phải biết
được năng khiếu học tập, sở trường, kỹ năng của từng học sinh để xác định khối
thi, môn thi đại học. Phải biết được sở thích, tính cách, sức khoẻ và kể cả nguyện
vọng của học sinh để định hướng lựa chọn ngành nghề phù hợp với bản thân các
em. Phải biết được năng lực của từng học sinh, phải dự đoán được điểm thi mà
các em có thể đạt được để từ đó làm cơ sở chọn trường thi phù hợp.
Một phần không thể thiếu đó là sự quan tâm của gia đình học sinh với tương
lai con em. Sở thích của phụ huynh về nghề nghiệp của con em thế nào. Phải nắm
rõ điều kiện về kinh tế và kể cả lý lịch gia đình, nhu cầu của xã hội. Người
GVCN phải biết chan hoà giữa sở thích của phụ huynh, sự kì vọng của phụ
huynh vào con em và sở thích của học sinh. Dĩ nhiên phải đặt sở thích của học
sinh lên trên hết. GVCN và kể cả phụ huynh không nên áp đặt các em làm theo
sở thích của mình, vì tương lai các em chính các em phải chịu trách nhiệm.
Để làm tốt công tác tư vấn hướng nghiệp đòi hỏi người GVCN phải có nhiều
kĩ năng và kiến thức rộng, phải nắm rất rõ về các thông tin tuyển sinh đại học,
nhu cầu công việc của xã hội. Phải hiểu rõ gia đình và bản thân học sinh. Người
GVCN phải thật sự có trách nhiệm trong việc tư vấn cho các em, không thể xem
nhẹ, tư vấn qua loa, sơ sài. Cái khó của người GVCN là làm thế nào để biết được
nhu cầu của xã hội, sự phát triển kinh tế của đất nước và làm sao để có thể dự
đoán được tương lai. Một vấn đề cũng không dễ đó là làm sao để có thể phát hiện
sở thích và năng khiếu của học sinh. Trên thực tế có rất nhiều học sinh đã 18 tuổi
nhưng không hề biết mình thích cái gì, làm gì. Không hề biết mình có năng khiếu
gì. Vì thế khi lựa chọn ngành nghề đa phần các em lựa chọn theo cảm tính, theo
phong trào, theo sự động viên của gia đình và bạn bè xung quanh.
Để làm tốt công tác này đòi hỏi người GVCN phải thường xuyên tìm hiểu
tâm tư , nguyện vọng các em. Tìm hiểu thông qua chính các em, bạn bè, gia đình
và giáo viên dạy bộ môn. Phải chú ý đến những việc làm, hành động của các em
trong suốt quá trình học, đặc biệt là các giờ sinh hoạt ngoại khoá, các chương
trình giáo dục văn thể mỹ … để tìm ra năng khiếu và sở trường các em. Phải

túc, phải có kế hoạch trong từng tháng, đó là giáo dục kĩ năng theo chủ đề. Ngoài
ra có những kĩ năng cần phải giáo dục ngay tức thì khi xảy ra tình huống. Vì vậy
người làm công tác giáo dục kĩ năng sống phải thật sự mềm dẻo, khéo léo, linh
hoạt. Khi xảy ra một tình huống cần giải quyết thì ngoài việc giúp các em giải
quyết vấn đề, bên cạnh đó cần phải chỉ cho các em rút ra được bài học gì từ tình
huống đó; đó chính là đã giáo dục kĩ năng sống cho các em. Cần cho học sinh
tham gia nhiều phong trào, khơi dậy ở học sinh nhất là các học sinh cá biệt tham
gia vào các buổi sinh hoạt ngoại khoá, qua đó giáo dục kĩ năng sống cho các em.
7. Giáo dục pháp luật
Trong thực tiễn hiện nay, giáo dục pháp luật là hết sức cần thiết. Với sự tác
động , lôi kéo của phim ảnh, game, của những thành phần xấu trong xã hội…các
em rất dễ sa ngã, dễ dàng có những hành động thiếu suy nghĩ dẫn đến vi phạm
pháp luật một cách vô ý thức, gây hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của
bản thân, của gia đình và xã hội.
Giáo dục pháp luật không chỉ giúp các em có kiến thức về luật pháp, biết được
những điều được và không được làm của một người công dân. Biết được quyền


lợi của mình để tự bảo vệ bản thân và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một công
dân.
Những luật cần thiết giáo dục cho học sinh THPT như luật hôn nhân gia đình,
luật nghĩa vụ quân sự, luật giao thông đường bộ, luật bảo vệ môi trường, luật
phòng chống ma tuý, luật thực hành tiết kiệm, luật khiếu nại tố cáo, luật phòng
chống tội phạm… Trong các nội dung giáo dục pháp luật không nhất thiết phải
truyền đạt tất cả nội dung nhưng cần nhấn mạnh những điều vi phạm và hình
thức xử phạt tương ứng để học sinh có kiến thức sơ bộ để phòng tránh và bảo vệ
mình.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục pháp luật cho học sinh đòi hỏi người
GVCN phải có kiến thức về pháp luật. Phải tự trau dồi bổ sung kiến thức cho bản
thân. Hơn nữa GVCN phải là một tấm gương tốt về việc chấp hành pháp luật,

hợp với GVBM để nắm được thông tin về học lực của lớp; phối hợp với giám thị


trong việc theo dõi, xử lý vi phạm kịp thời. Một cầu nối không thể thiếu đó là
PHHS. GVCN cần chủ động liên lạc với gia đình học sinh để nắm bắt được thông
tin từ phía gia đình và phản hồi kịp thời về gia đình. Cùng với PHHS tìm ra giải
pháp kịp thời giáo dục con em. Cũng rất cần thiết phối hợp với các tổ chức có
liên quan đến giáo dục và hỗ trợ học sinh như Hội khuyến học, Công an…để hỗ
trợ giúp đỡ khi cần thiết.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ này GVCN nhất thiết phải chủ động, thường xuyên
liên lạc với lãnh đạo trường, với Đoàn thanh niên, với GVBM , với PHHS, quản
sinh và học sinh. Cũng cần chú ý thành lập và phối hợp với Hội PHHS, thường
xuyên liên lạc, trao đổi với Hội phụ huynh để được sự hỗ trợ. Một tập thể mạnh
không thể thiếu Hội PHHS nhiệt tình, tích cực.
III. Thực tiễn khi làm GVCN lớp A1 niên khoá 2011-2014
1. Đặc điểm tình hình:
a.Thuận lợi :
- Được sự quan tâm của lãnh đạo trường, của GVBM, Đoàn thể, Hội PHHS…
- Tập thể lớp đồng đều, năng động, tích cực. Ý thức rèn luyện và năng lực học
tập tương đối tốt.
- Hội PHHS nhiệt tình, sẵn sàng tham mưu, định hướng và giúp đỡ cả vật chất
lẫn tinh thần khi cần thiết.
- Tập thể có tinh thần cầu tiến, luôn cố gắng học hỏi, đoàn kết giúp đỡ nhau.
- Bản thân luôn nhiệt tình, hết mình vì tập thể học sinh. Luôn luôn lắng nghe và
học hỏi kinh nghiệm của phụ huynh và đồng nghiệp.
b.Khó khăn:
- Tập thể có số học sinh đông nhất trường: 50 học sinh
- Dù năng lực học tập của các em khá nhưng các em cũng rất cá tính. Một số
em có biểu hiện trầm cảm, tự kỉ.
- Nhiều học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Một số phải đi học rất xa,

dò… mà còn qua cả các phương tiện, ví dụ face book. Hiện nay hầu như các em
đều có face book và thường xuyên thể hiện tâm tư, nguyện vọng, trăn trở, suy
nghĩ của mình trên đó. Có rất nhiều vấn đề các em không thể nói ra được, nhưng
với mạng xã hội ta có thể biết được rất nhiều thông tin ở học sinh. Vì thế cần
thiết người GVCN cũng phải biết cập nhật khoa học , công nghệ.
b. Tổ chức lớp học
b.1. Trước hết là sắp xếp chỗ ngồi ổn định. Căn cứ vào tìm hiểu sơ bộ các em,
căn cứ vào tình hình sức khoẻ, thể trạng mà sắp xếp hợp lý. Khi bố trí chỗ ngồi
cần chú ý một số vấn đề:
+ Các em thể hình nhỏ, thấp và mắt yếu bố trí ngồi phía trên.
+ Không nên phân chia tách biệt nam và nữ thành hai dãy khác nhau, cũng không
nên sắp xếp nữ ngồi cạnh nam vì một số vấn đề tế nhị, trừ trường hợp cần thiết vì
những lý do học tập.
+ Cần chia đều học sinh mỗi bàn, tránh tình trạng một bàn 4 em, một bàn chỉ 1
hoặc 2 em.
+ Chia đều các tổ về số lượng nam, nữ, năng lực học tập và các năng khiếu khác.
Tránh tình trạng có tổ thì rất nhiều nữ, tổ rất nhiều nam, tổ nhiều em học tốt, tổ
thì nhiều em học yếu. Như vậy trong các tổ chức hoạt động nhóm, sinh hoạt tập
thể khả năng các tổ không được đồng đều.
+ Cần thiết sắp xếp các em giỏi ngồi cạnh em yếu hơn để các em giúp đỡ nhau
cùng học tập.
+ Cán sự lớp phải chia đều trong các tổ. Bí thư và lớp trưởng cần bố trí ngồi cuối
lớp để dễ dàng quan sát tình hình trong giờ học.
+ Các em yếu không nên bố trí ngồi phía trong, vì như thế các em khó có điều
kiện học tập và ít được sự quan tâm của giáo viên.
+ Một vấn đề có hơi tế nhị nhưng cũng là một nghệ thuật là nên sắp xếp các em
có gương mặt tươi, sáng, hóc tốt ngồi bàn trên để tạo “mặt tiền” cho lớp.
b.2. Bầu chọn Ban cán sự lớp:
Ban cán sự lớp là cánh tay đắc lực giúp GVCN quản lý và điều hành lớp. Một
tập thể muốn phát triển tốt cần thiết phải có người lãnh đạo tốt. Vì thế bầu chọn

và hiệu quả hơn.
c.2. Theo dõi thi đua phát biểu xây dựng bài:
Đối với các lớp chọn, dù năng lực học của các em khá tốt, song chưa hẳn giờ
học đã sôi động và phong trào học tập tích cực. Vì đa phần các em không quan
tâm đến phong trào chung của lớp. Các em chỉ học cho bản thân. Việc có phát
biểu xây dựng bài không quan trọng. Một phần vì các em nghĩ các bạn khác sẽ
giỏi hơn, và sẽ có câu trả lời hay hơn, một phần vì áp lực và đòi hỏi GVBM hơi
cao, một phần cũng vì cá tính… Từ đó dẫn đến không khí học tập không được sôi
động. Bản thân tôi cũng đã từng dạy qua rất nhiều lớp chọn, tôi cũng trăn trở vì
sao lớp A1 học giỏi hơn A2 nhưng lại không sôi nổi bằng A2? Từ đó tôi đã tìm ra
một giải pháp để phát động phong trào học tập xây dựng bài riêng cho lớp. Một
số GVCN khác cũng có nhiều sáng kiến và giải pháp khá hay, như cho tổ trưởng
theo dõi chéo tổ khác, mỗi lần phát biểu được một điểm cộng, mỗi tuần sinh hoạt
tổng kết xếp loại các tổ. Thiết nghĩ việc xếp hạng các tổ chưa thiết thực và gắn
liền với lợi ích các em, chưa là động lực mạnh lên các em. Và để các tổ trưởng
chấm chéo nhau dễ phát sinh thiếu sót, công bằng, mỗi tuần lại tổng kết thì tương
đối phiền phức bởi thực tế không hẳn tuần nào cũng có tiết sinh hoạt. Bản thân
tôi đã tiến hành như sau và thấy có hiệu quả tích cực:
Đầu tiên quy định mỗi học sinh trong một học kì phải phát biểu được ít nhất
60 lần. Như vậy mỗi tháng 15 lần. Một con số rất khiêm tốn. Nhưng tính tổng số


học sinh thì mỗi tháng ít nhất 750 lượt phát biểu. Chia đều ra các môn thì mỗi tiết
ít nhất 7 đến 8 lần phát biểu. Việc chấm theo dõi phát biểu chỉ giao cho lớp
trưởng và bí thư chấm theo dãy. Mỗi hai tháng sơ kết chặng thi đua và công bố số
lần phát biểu của từng học sinh. Nếu không đạt yêu cầu thì nhắc nhở, lấy đó làm
căn cứ xếp hạnh kiểm. Chọn ra 3 em có số lần phát biểu nhiều nhất tuyên dương
và khen thưởng.
c.3. Ý thức học tập cá nhân:
Thường xuyên nhắc nhỡ, động viên các em không được lơ là việc học tập. Thúc

và năng lực học tốt làm cho một số em có phần kiêu căng, ngạo mạn thậm chí
xem thường kỉ luật. Hoặc áp lực học tập và nhiều yếu tố khách quan khác làm các
em trở nên trầm cảm, thu hẹp mình thậm chí là tự kỉ. Nếu không kịp thời chấn
chỉnh, uốn nắn, giáo dục các em thì sẽ để lại một hậu quả nghiêm trọng cho
tương lai các em.
d.1. Đối với học sinh “cá biệt” :


Giáo dục các em có cá tính đặc biệt cũng không phải đơn giản. Có một số
trường hợp vì các em nghĩ mình quá giỏi nên bất cần mọi thứ, không chấp hành
các quy định của nhà trường, của GVCN. Các em muốn thể hiện mình có một sự
khác biệt với các bạn trong cái suy nghĩ chưa được chính chắn. Thậm chí đôi khi
xem thường các kỉ luật, không tôn trọng giáo viên. Đối với các học sinh này đòi
hỏi người GVCN phải uyển chuyển, linh hoạt, mềm dẽo và cũng nghiêm nghị,
mạnh mẽ khi cần thiết. Phải thuyết phục, giáo dục các em bằng tình cảm, bằng lý
trí và bằng sự cương nghị của mình. Không nên quát mắng các em, áp dụng biện
pháp cứng rắn ngay từ đầu vì như thế sẽ dễ thất bại. Để làm tốt công tác này cần
tuân thủ một số nguyên tắc:
- Theo dõi, thu thập thông tin một các chính xác, đầy đủ và thuyết phục nhất. Tìm
hiểu động cơ, nguyên nhân để nảy sinh hành động sai phạm của học sinh.
- Thông báo tình hình và mức độ vi phạm của học sinh với tập thể lớp và gia đình
học sinh, Hội PHHS và Ban lãnh đạo trường.
- Trao đổi riêng với học sinh đó. Bình tĩnh, kiên trì lắng nghe sự trình bày, suy
nghĩ và mong muốn của học sinh và sự tự nhận lỗi của học sinh.
- Đặt mình vào vị trí của học sinh đó để thông cảm cho các em. Tránh vội vàng
đánh giá em đó là một học sinh có ý thức thấp, một học trò hư.
- Dùng những nghệ thuật của hành động, cử chỉ, lời nói để giáo dục các em, chỉ
cho các em cái đúng, cái sai, cái nên làm, cái không nên làm. Tuy nhiên trước khi
chỉ cho học sinh cái sai, cái lỗi thì cũng nên tìm ra cái ưu điểm, cái hay của em đó
để khen ngợi động viên. Lời khen ngợi trước khi phê bình luôn rất cần thiết.

tâm đúng mực và biện pháp đúng đắn của GVCN. Giáo dục một học sinh trầm
cảm nhất định phải có một kế hoạch cụ thể và phải theo dõi các em thường
xuyên. Bởi thay đổi quan niệm của một con người không phải một sớm một
chiều, nhất là biểu hiện của một chứng bệnh tâm lý. Để làm tốt công việc này đòi
hỏi người GVCN phải :
- Tìm hiểu tính cách, quan niệm, đặc điểm, sở thích, nguyện vọng của học sinh
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến căn bệnh trầm cảm của học sinh. Cần trao đổi
với học sinh, trao đổi với gia đình và bạn bè các em để hiểu được điều đó.
- Lên kế hoạch để giáo dục và giúp đỡ các em đó.
- Thường xuyên gặp gỡ, trò chuyện, chia sẻ với các em. Lắng nghe các em tâm sự
như một người bạn, một người thân trong gia đình. Tránh làm cho học sinh hoảng
sợ, lo lắng. Phải tạo điều kiện thuận lợi để các em yên tâm, tin tưởng và gợi ý các
em nói về mình. Đặt cho các em nhiều câu hỏi để dẫn dắt các em vào câu chuyện
theo kịch bản của kế hoạch đề ra. Một trong những nghệ thuật cần thiết là cố
gắng lắng nghe để chắt lọc thông tin, hiểu được cái thật trong con người các em.
Tránh làm các em phải muốn dừng cuộc nói chuyện. Khi lắng nghe cũng phải
biết đồng tình với những suy nghĩ đúng đắn của các em.
- Khuyên bảo các em, chỉ cho các em chỗ đúng, chỗ sai, cái cần giữ lại và cái cần
thay đổi.
- Động viên và lôi kéo các em tham gia vào các hoạt động tập thể.
- Tích cực tổ chức nhiều buổi sinh hoạt ngoại khoá để tạo điều kiện cho các em
tham gia. Cần thiết phải giao cho em đó một nhiệm vụ nào đó để thực hiện trong
buổi sinh hoạt.
- Phối hợp với gia đình tìm biện pháp giúp đỡ, chia sẻ với các thầy cô bộ môn để
thầy cô hiểu, thông cảm và quan tâm học sinh hơn, tránh tình trạng làm tổn
thương đến học sinh càng tình trạng thêm phức tạp.
- Nhờ đến sự chia sẻ của các bạn học trong lớp, yêu cầu lớp quan tâm bạn nhiều
hơn. Tập thể lớp phải hiểu và biết những điều cần thiết phải làm để giúp đỡ bạn.
Thực tế trong khi chủ nhiệm lớp A1 vừa qua, cũng có vài em bị trầm cảm, có thể
nói là khá nặng. Chính phụ huynh cũng không thể biết được con họ thích gì và bị

có sự tư vấn của GVCN.
Thực tiễn cho thấy áp lực học tập là vấn đề phổ biến nhất và thường xuyên
nhất với các em. Là một thành viên của lớp A1 là một vinh dự, một sự tự hào
nhưng cũng là một áp lực rất lớn. Đa phần phụ huynh, nhà trường, Đoàn thanh
niên…đều đòi hỏi và yêu cầu rất cao ở các em. Đặc biệt là các thầy cô bộ môn.
Sự đánh giá cao các em học sinh A1 có mặt tích cực là tạo điều kiện để các em
phấn đấu học tập, thể hiện tài năng của mình. Nhưng nó cũng có mặt trái khi sự
yêu cầu quá sức học sinh. Bởi một tập thể đông thì khả năng của các em không
thể đồng đều nhau được. Sự yêu cầu và đánh giá cao đó phần nào làm các em
cảm thấy mệt mỏi, một số em có dấu hiệu buông xuôi và học lệch, nhất là năm
học 12. Có thể thấy lịch học các em quá dày đặc, thời gian học đã vắt kiệt sức các
em, từ đó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng tham gia phong trào của Đoàn
trường tổ chức.
Có nhiều Phụ huynh cũng chỉ đặt mục tiêu con em đậu đại học, không nhất
thiết phải là học sinh giỏi, không nhất thiết lớp xếp loại thi đua thế nào. Cũng đã
động viên con em chú ý học lệch để đạt được mục đích cao nhất. Đối với GVBM
cũng muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp nên phải yêu cầu các
em hơi cao. Đoàn thanh niên cũng không muốn tinh thần và kết quả thực hiện
phong trào thấp, chất lượng thi đua hàng tuần không đạt yêu cầu.
Cũng có GVBM trao đổi: “Các em học quá lệch, các em dường như xem
thường bộ môn, xem thường người dạy”. Đề nghị GVCN phải xem xét để nhắc
nhỡ các em. Khi lắng nghe ý kiến của học sinh thì có em tâm sự : “ Em đã cố
gắng để học suốt 11 năm hơn rồi. Đã 11 năm em là học sinh giỏi, bản thân em
cũng muốn năm cuối cùng của mình cũng là học sinh giỏi. Em đã tự cố gắng, em
đã cố gắng rất nhiều để học các môn theo yêu cầu của GVBM. Nhưng có lẽ yêu
cầu của thầy, cô quá sức tụi em, thực sự bài tập thầy, cô cho quá khó …”


Và còn rất nhiều những vấn đề tương tự. Đó quả thật là một bài toán khó đối
với một GVCN muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, một vấn đề hết sức trăn

vui vẻ nhất, trừ những tình huống rất quan trọng cần giải quyết.
Đối với vai trò là một giáo viên chủ nhiệm cũng vừa là một giáo viên bộ môn
thì đòi hỏi người giáo viên phải luôn học hỏi nâng cao trình độ, phương pháp dạy
tích cực, hiệu quả để nâng cao chất lượng của lớp về bộ môn mà còn xây dựng uy
tín, sự tôn trọng của học sinh thông qua kết quả dạy học góp phần vào mục tiêu
giáo dục toàn diện của GVCN.
3. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ của GVCN
a. Giáo dục tri dục – đức dục:
a.1. Giáo dục tri dục:
a.1.1. Năm lớp 10 (2011-2012)
Khi mới vào trường các em còn nhiều bỡ ngỡ, chưa quen với môi trường và
phương pháp học tập mới. Vì thế kết quả học tập chưa cao:


Học kì I:
- Học sinh giỏi : 19 học sinh, chiếm 38%
- Học sinh tiên tiến : 29 học sinh, chiếm 58%
- Trung bình : 2 học sinh, chiếm 4%.
Cả năm :
- Học sinh giỏi : 25 học sinh, chiếm 50%
- Học sinh tiên tiến : 25 học sinh, chiếm 50%
- Tham gia thi HSG tỉnh vượt cấp đạt 4 giải ở môn toán.
a.1.2 Năm lớp 11 ( 2012-2013)
- Học sinh giỏi : 29 học sinh, chiếm 59,19%
- Học sinh tiên tiến: 20 học sinh, chiếm 40,81%
- Trung bình : 0
- Thi HSG tỉnh vượt cấp đạt 5 giải ( 4 giải ở môn Toán và 1 giải ở môn Lý)
a.1.3. Năm lớp 12 ( 2013-2014)
- Học sinh giỏi : 28 học sinh, chiếm 57,14%
- Học sinh tiên tiến : 20 học sinh, chiếm 40,81%.


-

-

-

CHÂN, THIỆN, MỸ. Vì thế yêu cầu các em phải cố gắng học tập, cố gắng thực
hiện những bài học giáo dục kĩ năng sống, cố gắng tham gia hoạt động phong
trào, ngoại khoá…
Với sự giúp đỡ của nhà trường, của Hội PHHS, và sự nhiệt tình của các em
trong suốt 3 năm học đã thực hiện được rất nhiều hoạt động giáo dục thẩm mỹ và
kĩ năng sống ngoài các phong trào của trường và đã đạt kết quả rất cao.
b.1. Tham gia phong trào của Đoàn trường tổ chức:
Tập thể luôn hăng hái tham gia nhiệt tình và hiệu quả các phong trào thi đua,
học tập, TDTT do nhà trường tổ chức như các phong trào: thi đua thường xuyên,
hoa học tốt, giờ học tốt; phong trào nuôi heo tiết kiệm, gây quỹ ủng hộ. Tham gia
giải báo toán, viết thơ văn chào mừng ngày 20/11. Tham gia văn nghệ, diễn kịch
tuyên truyền phòng tránh ma tuý, bạo lực học đường… Tham gia Hội khoẻ Phù
Đổng cấp trường, cấp tỉnh v.v… tất cả đều đạt kết quả rất cao như:
Về thi đua thường xuyên: Cả 3 năm học đều là lớp xếp loại tốt, với thứ hạng thi
đua luôn trong nhóm 1,2,3 của trường.
Về Tham gia hoa học tốt, giờ học tốt chào mừng ngày 20/11 luôn dẫn đầu trường
hàng năm. Đặc biệt năm học 2012-2013 có số hoa điểm tốt và giờ học tốt đạt kỷ
lục với 613 hoa và 174 giờ học tốt.
Tham gia Hội khoẻ Phù Đổng cấp tỉnh đạt 3 HCV môn Võ Việt Nam
Tham gia cuộc thi tiếng hát học sinh, sinh viên cấp tỉnh đạt giải 3
Giải nhất hội trại Mừng Đảng Mừng Xuân năm 2014.
Tham gia hội thi Vũ Điệu Trẻ do Huyện đoàn tổ chức đạt giải 3
Và rất nhiều phong trào khác cũng đạt kết quả rất cao

+ Tổ chức thành công chương trình ngoại khoá Vật lý vui: Với mục đích cho các
em tham gia thi thố về kiến thức, về kĩ năng thực hành và vận dụng khoa học vào
cuộc sống. Một chương trình với rất nhiều nội dung tìm hiểu về kiến thực tự
nhiên, khoa học xã hội, về thực hành làm thí nghiệm và chế tạo, bắn tên lửa nước
đã thu hút được rất nhiều học sinh của lớp khác cùng tham gia và đạt một kết quả
rất tốt. Qua đó giúp các em kết thúc một năm học với một sân chơi thật sự bổ ích
và cần thiết.
+ Làm tờ báo tường kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Dù Đoàn trường
không phát động nhưng riêng tập thể lớp cũng tiến hành làm để các em có dịp thể
hiện năng khiếu, có dịp nói lên những suy nghĩ, những lời cảm ơn với thầy cô.
+ Tham quan du lịch Đà Lạt vào cuối HKI năm lớp 12. Đó vừa là phần thưởng
xứng đáng cho các em trong thành quả học tập. Qua đó cũng giúp cho các em rất
nhiều bài học về cuộc sống, về kinh nghiệm về kĩ năng và tình yêu với cái đẹp,
với quê hương đất nước.
+ Làm cuốn nội san với chủ đề “ Hạ Cuối” để các em ghi lại dấu ấn của thời học
sinh, ghi lại những cảm xúc của những ngày sắp chia tay, để các em làm hành
trang mang theo trong suốt hành trình còn lại của cuộc đời. Để làm món quà lưu
niệm đến Lãnh đạo nhà trường và các GVBM…
+ Đặc biệt là chương trình Thay lời muốn nói với chủ đề “Hạ Cuối” vào những
ngày cuối cùng của năm học cuối cấp. Một chương trình hoành tráng và rất nhiều
ý nghĩa. Đó là lúc để tổng kết tất cả những thành quả, những ưu và khuyết điểm
trong suốt 3 năm học. Là nơi để các em nói lời cảm ơn với Ban lãnh đạo trường,
với các thầy cô, để các em tri ân toàn thể phụ huynh của lớp đã gắn bó với lớp
suốt 3 năm học. Đó cũng là dịp để các em chia sẻ những tâm tư, những cảm xúc
của tuổi học trò, để các em nói lời xin lỗi, lời cảm ơn dành cho nhau. Là lúc để
chia tay với bạn bè, với thầy cô, với mái trường thân yêu Đoàn Kết. Là lúc để các
em lắng lòng mình lại để ghi lại những kỉ niệm của một thời đáng nhớ.
Có thể nói với những chương trình ngoại khoá, kết hợp với giáo dục kỹ năng
cho học sinh là rất bổ ích. Thông qua những lần đi chơi xa, những lần trải
nghiệm, những lần bên nhau các em mới thật sự hiểu được nhau, hiểu được thầy,

tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho toàn thể học sinh của khối 12 để chuẩn bị kì thi
đại học. Nhưng riêng lớp chủ nhiệm tôi đã tư vấn thường xuyên thông qua các
tiết học, sinh hoạt… Đặc biệt đã liên hệ với nhóm cựu học sinh của trường và
Báo Pháp luật TPHCM tổ chức riêng cho lớp một buổi tư vấn thật sự bổ ích .
Trước buổi tư vấn trên lớp đã lồng ghép cho các em xem bộ phim “3 Idiots” để
các em biết được giá trị của sở thích, tình yêu đối với nghề nghiệp và những bài
học về cuộc sống nhằm chuẩn bị tốt cho buổi tư vấn. Nội dung tư vấn không chỉ
gói gọn trong phạm vi học hành, thi cử, lựa chọn nhành nghề phù hợp mà còn cả
những nội dung về ý chí, nghị lực, cách vượt qua áp lực, cách vượt qua thử thách
và nỗi lo sợ…Có thể nói buổi tư vấn thật sự đã để lại trong lòng học sinh và cả
những phụ huynh tham dự một ấn tượng rất đẹp về các bài học và giá trị của cuộc
sống.


4. Một số hình ảnh tư liệu
4.1 Hình ảnh dã ngoại Rừng Nam Cát Tiên

1.
2.
3.
4.

Chia tổ quản lý và tham gia trò chơi
Thi cắm hoa, thuyết trình
Thi rung chuông vàng
Chơi vận động


4.2 Hình ảnh du lịch Mũi né


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status