Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất cam tại huyện nghĩa đàn, tỉnh nghệ an giai đoạn 2006 – 2010 - Pdf 33

MỤC LỤC

i


DANH MỤCCÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất cam ở một số nước vùng châu Á năm 2007
......................................................................Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất cam quýt giai đoạn 2001-2007..Error: Reference
source not found
Bảng 2.3. Dinh dưỡng trong lá cam 7 – 10 tuổi ( lá 4 – 7 tháng tuổi/ cành
không quả )...................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.1. các loại đất nông nghiệp tại Nghĩa Dàn – Nghệ An.Error: Reference
source not found
Bảng 4.2. Tình hình sử dụng quỹ đất ở Nghĩa Đàn như sau....Error: Reference
source not found
Bảng 4.3. Diện tích, sản lượng các loại cam quýt trồng...........Error: Reference
source not found
tại huyện Nghĩa Đàn từ năm 2007 - 2010.....Error: Reference source not found
Bảng 4.4. Đất trồng cam và kỹ thuật làm đất.........Error: Reference source not
found
Bảng 4.5. Một số kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ cỏ dại cho cây cam....Error:
Reference source not found
Bảng 4.6. Số lượng một số loại phân bón nông hộ thường sự dụng..........Error:
Reference source not found
Bảng 4.7. Thành phần và mức độ gây hại của các lọai dịch hại cam........Error:
Reference source not found
Bảng 4.8. Bảo vệ thực vật trong canh tác cam quýt của nông hộ..............Error:
Reference source not found
Bảng 4.9. Hạch toán kinh tế/ha của một số loại cây trồng trên địa bàn huyện Error:
Reference source not found

cây trồng ở nhiều địa phương.

1


Huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An, có đất đai phù hợp cho nhóm cây có
múi Citrus (cây cam, quýt, chanh, bưởi... ) sinh trưởng và phát triển tốt. Vì
vậy, Nghĩa Đàn có thương hiệu cam Vinh với chất lượng thơm ngon nổi tiếng
trong toàn quốc .
Tuy nhiên người nông dân trồng cây có múi, đặc biệt là cam chưa có
kiến thức tốt về kỹ thuật canh tác, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, cách bảo
quản và tiêu thụ để có hiệu quả kinh tế cao nhất. Do đó để tháo gỡ những khó
khăn nêu trên, cần phải có điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất cam, phân
tích những thuận lợi và khố khăn, những tồn tại để đề xuất các biện pháp khắc
phục nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế đối với cây cam là rất cần
thiết.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất, trong thời gian thực hiện chuyên
đề, chúng tôi tiến hành “ Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất cam tại
huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 – 2010”
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu
Đánh giá thực trạng sản xuất cam, những thuận lợi, khó khăn và biện
pháp khắc phục nhằm góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng
cam tại Nghĩa Đàn, Nghệ An
1.2.2. Yêu cầu
- Điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa của huyện
Nghĩa Đàn
- Điều tra tình hình sản xuất cam tại huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An
thông qua các chỉ tiêu về: diện tích đất trồng, cơ cấu giống cam, kỹ thuật
trồng, chăm sóc (bón phân, tưới nước, cắt tỉa cành, sự dụng thuốc bảo vệ thực

dẫn đến các loài mới sinh ra rất thuận lợi, nhưng không biết bố mẹ.
2.1.2. Phân loại cam quýt
Cây có múi thuộc nhiều chủng loại khác nhau, ngoài chi Citrus chỉ có 2
chi khác đã được trồng là chi Poncirus (cam ba lá) và chi Fortunnella (quất)
do đó công tác phân loại có gặp nhiều khó khăn nhất là phân loại nông
3


nghiệp. Có nhiều tác giả phân loại trên thế giới như: Swingle, Hodgson,
Bailey, Tanaka, Scora, Reece...
- Chi Poncirus (cam ba lá): không trồng ở Việt Nam mà chỉ mới được
nhập vào để dùng làm gốc ghép vì có nhiều ưu điểm: chống được rét, chống
được bệnh chảy gôm, chịu được bệnh tristeza, chịu đất ẩm nhưng không chịu
được đất hạn, đất mặn nhiều vôi.
- Chi Fortunellta (quất): trồng chủ yếu ở Nhật Bản, Trung Quốc và
Việt Nam. Giống quả nhỏ, màu vàng như cam nhưng ít múi (3-7) múi, mỗi
múi chỉ có 1-2 hạt. Quả chua nên không dùng ăn tươi mà chủ yếu trồng làm
cảnh hoặc lấy quả làm gia vị.
- Chi Citrus: gồm rất nhiều nhóm và nhiều giống.
+ Giống chanh yên và phật thủ (Citrus medica): được thuần dưỡng rất
sớm ở Trung Quốc, Ấn Độ, bán đảo Đông Dương.
Chanh có 2 loại chính là chanh vỏ mỏng và chanh núm.
Chanh núm (Citrus limon): gốc ở miền Trung và miền Tây Bắc Ấn
Độ, không ưa các khí hậu nhiệt đới ẩm mà thích những nơi khí hậu không quá
nóng nhưng không quá lạnh và hơi khô ít trồng ở Việt Nam, giá trị kinh tế
thấp.
Chanh vỏ mỏng (Citrus aurantifolia): nguồn gốc ở những vùng nóng
và mưa nhiều. Cây nhỏ, nhiều cành, nhiều gai, cuống lá gần như không có eo
lá, quả thường nhỏ, vỏ mỏng hình trái xoan, nhiều nước rất chua. Khi chín vỏ
quả còn xanh hoặc chỉ hơi vàng.

các vùng cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách
mạng công nghiệp ở các vùng. Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề
cam quýt cũng sớm phát triển và ngược lại.
Năm 2005 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 7.850.535 ha, năng
suất trung bình đạt 157,1 tạ/ha, sản lượng đạt 109.817.920 tấn. Đến năm 2007
diện tích là 8.322.605 ha và sản lượng là 115.650.545 tấn đều tăng, có năng
suất hơi giảm đạt 156,5 tạ/ha.

5


So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2007, châu Á có tổng diện tích
lớn nhất sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ
nhất là châu Đại Dương 39.662 ha
- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa,
Costarica, Braxin, Achentina... tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành
muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu
cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây
phát triển rất mạnh. Về năng suất được ổn định từ năm 2005 đến năm 2007
năng suất trung bình đạt trong khoảng 187,7 tạ/ha đến 194.9 tạ/ha. Tuy nhiên
vùng cam châu Đại Dương có diện tích nhỏ nhất nhưng năng suất trung bình
lại rất cao năm 2005 năng suất đạt 208,4 tạ/ha, năm 2006 đạt 195,5
tạ/ha, năm 2007 đạt 195,9tạ/ha.
Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc,
Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất
năm 2005 là 3.354.056 ha, chiếm 42,7%, năm 2006 là 3.710.888 ha, chiếm
45,7%, năm 2007 là 3.859.604 ha, chiếm 46,4% tổng diện tích của toàn thế
giới. Tuy nhiên năng suất và sản lượng đạt thấp hơn vùng châu Mỹ.
Năm 2005 sản lượng của vùng châu Á đạt 39.534.075 tấn, chiếm 35,9%, năm
2006 đạt 43.072.363 tấn, chiếm 37,7%, năm 2007 đạt 44.873.491 tấn chiếm


Năng suất

Diện tích

Năng suất

(ha)

(tạ/ha)

(ha)

(tạ/ha)

1

Trung Quốc

370.00

90,7

385.500

87,5

2

Ấn Độ


231,2

5

Philippin

1.936

27,0

2.000

30,0

6

Thái Lan

20.000

175,0

20.000

175,0

(Nguồn: FAO STAT/FAO Statistics – năm 2008)
Diện tích trồng cam lớn nhất ở châu Á là Ấn Độ năm 2005 có 421.500
ha năng suất đạt 81,4tạ/ha, năm 2007 diện tích và năng suất có tăng

cam có xu hướng giảm dần, những diện tích được trồng vào thời kỳ 19601965 thì nay đã già cỗi, sâu bệnh rất nặng. Vì vậy, đã chuyển sang trồng các
loại cây khác hoặc trồng lại. Tuy nhiên vào thời điểm đó, ở miền Nam, diện
tích và sản lượng cam quýt lại tăng lên nhất là khu vực tư nhân, các tỉnh có
diện tích cam nhiều như Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp...

8


Vào đầu những năm của thế kỷ 21 trở lại đây so với những năm 1975
của thế kỷ 20 thì diện tích, năng suất và sản lượng của cam được tăng lên rất
mạnh và dần ổn định.
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất cam quýt giai đoạn 2001-2007
STT

Chỉ tiêu theo dõi

Năm
2001

2004

2005

2006

2007

1

Diện tích (ha)

451.00

97,4
541.00

100,9
606.40

98,1
611.00

102,5

4

Sản lượng (tấn)

662.000
0
0
0
0
(Nguồn: Nguyễn Văn Nghiêm 19/02/2009)

Như vậy, diện tích sản xuất cam quýt được tăng vọt từ năm 2001 là
73.600 ha đến năm 2004 tăng lên 82.700 ha sau đó ổn định qua các năm từ
2004 – 2007. Diện tích cao nhất đạt 87.200 ha năm 2005, năm 2007 là
86.700 ha. Cùng với tổng diện tích thì diện tích cho thu hoạch sản phẩm
cũng tăng dần đều, thấp nhất năm 2001 là 51.000ha, cao nhất năm 2007
là 64.600 ha. Năng suất trung bình năm 2001 rất thấp chỉ đạt 88,5 tạ/ha và

biện pháp phòng trừ hiệu quả, chưa tạo ra được những giống tốt có khả năng
chống chịu sâu bệnh, để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
• Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam
- Vùng đồng bằng Sông Cửu Long
Gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh,
Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí địa lý từ 9 015’ đến 10030’ vĩ độ
Bắc và 1050 đến 1060 45’ độ kinh Đông. Đây là vùng tận cùng phía nam đất
nước thuộc châu thổ sông Cửu Long, địa hình rất bằng phẳng, bằng hoặc cao
hơn mực nước biển 3-5m. Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ lượng mưa, độ ẩm
không khí .... được phân bố theo 2 mùa trong năm khá rõ rệt: Mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11và mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau và sự
phân bố này tương đối ổn định qua các năm. Về chế độ nhiệt: vùng đồng bằng

10


sông Cửu Long có chế độ nhiệt cao và rất ôn hoà. Nhiệt độ trung bình năm
25,5-29,80C, tháng nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ
trung bình 24-250C, nhiệt độ tối thấp trung bình là 21 – 22 0C. Tháng nóng
nhất là tháng 4, nhiệt độ trung bình 28 – 29 0C, nhiệt độ tối cao không quá 38
-300C, bức xạ nhiệt lớn và ổn định.
Về chế độ mưa và độ ẩm: lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long dao động từ 1.300 – 1.600 mm, tập trung vào mùa mưa
90%, chỉ có 10% ở các tháng mùa khô, tháng 11 là mưa ổn định nhất, còn các
tháng khác đặc biệt là tháng 7 và tháng 8 số ngày mưa và lượng mưa rất biến
động. Mùa khô có 2 tháng, tháng 1 và 2 là mưa ít nhất, mỗi tháng chỉ có 2-3
ngày. Độ ẩm không khí trung bình 83-85%, tháng khô hạn nhất độ ẩm không
khí còn 75%.
Nói chung vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện thuận
lợi về khí hậu để phát triển sản xuất cây có múi.

Nhìn chung vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ưu thế về điều
kiện khí hậu nhất là chế độ nhiệt ổn định, ôn hoà, khả năng mở rộng diện tích
cam quýt còn lớn, có tập đoàn giống phong phú, đa dạng, nhiều giống hiện tại
được coi là những giống tốt, cho năng suất cao, cho hiệu quả kinh tế lớn. Tuy
nhiên, vùng đồng bằng sông Cửu Long còn có những hạn chế nhất định, đó
là:
- Chế độ nhiệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cao, ôn hoà trong suốt
cả năm cho sinh trưởng của cam quýt, song do không có mùa Đông lạnh, biên
độ nhiệt độ ngày đêm những tháng quả chín ngắn, nên khả năng hình thành
các sắc tố anthoxyan ở vỏ cam quýt kém, mã quả xấu, khi chín vỏ quả vẫn
còn xanh, cần phải có công nghệ degreening sau thu hoạch thì quả mới có mã
đẹp. Cũng do nhiệt độ cao, nên quả thường nhiều hạt, tỷ lệ xơ bã cao, vách
múi dai.

12


- Đất phù sa là loại đất tốt thích hợp với cam quýt, song ven các sông
Tiền, sông Hậu hoặc các cù lao mạch nước ngầm cao gây cản trở tới việc ăn
sâu của rễ cam quýt và ảnh hưởng tới tuổi thọ của chúng.
- Sâu bệnh sẽ phát triển rất nhanh, do vậy chi phí cho công tác bảo vệ
thực vật, phòng trừ sâu bệnh rất tốn kém.
- Vùng khu IV cũ
Gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ vĩ độ 18 đến
200 30’ vĩ độ Bắc. Trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ Nghệ An, gồm một cụm gồm các nông trường chuyên trồng cam, với
diện tích năm 1990 là 1.600 ha. Đây là vùng trồng cam tập trung có ưu thế về
tiềm năng đất đai, đặc biệt là kinh nghiệm sản xuất vì có đội ngũ đông đảo
cán bộ công nhân được đào tạo chuyên nghiên cứu và sản xuất cây có múi.
Vùng Phủ Quỳ nằm ở phía tây Bắc thuộc tỉnh Nghệ An, từ vĩ độ 19 009’ đến
19030’ vĩ độ Bắc và 105024’ độ kinh Đông, thuộc địa phận huyện Nghĩa Đàn

xuất cam là chính, ít chú ý tới các loại khác trong họ cam.
-Vùng miền núi phía Bắc
Gồm các tỉnh nằm trong dải vĩ độ từ 22-23 vĩ độ Bắc như:
Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn,
và Thái Nguyên, điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với 2 vùng kể trên.
Về điều kiện khí hậu, do vị trí địa lý nằm sát vành đai á nhiệt đới, lại có
địa hình đồi núi và độ cao so với mặt nước biển tương đối cao, cho nên điều
kiện khí hậu có mùa đông lạnh và mùa hè tương đối nóng. Nhiệt độ
trung bình năm vào khoảng 21-22 0C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất
(tháng1) từ 14-150C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng7) từ
27-280C. Tuy nhiên do ảnh hưởng của địa hình ở mỗi tỉnh và mỗi địa
phương trong tỉnh khác nhau cũng gây nên sự biến đổi phức tạp về điều kiện
khí hậu. Đây là một trong những khó khăn đối với việc bố trí cơ cấu giống
cây trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ 1.600 –
1.800mm. Riêng trung tâm Bắc Quang lượng mưa rất lớn từ 2.500 –

14


3.200 mm. Tuy nhiên, sự phân bố của mưa không đều, lượng mưa phần lớn
tập trung vào các tháng mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng
khác lượng mưa không đáng kể. Đặc biệt ở miền núi phía Bắc (trừ vùng
Đông Bắc) ít bão và chỉ bị ảnh hưởng của bão.
Đất đai rất đa dạng, gồm các loại đất Feralit phát triển trên đá biến chất
như: đá Gơnai, đá vôi, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, phù sa
không được bồi ven các sông suối, đất dốc tụ do quá trình rửa trôi xói mòn
tạo thành...
Địa hình phức tạp, chia cắt, độ dốc lớn. Phần lớn độ dốc từ 100 trở lên,
những đất có độ dốc nhỏ hơn 100 thích hợp với trồng cây ăn quả thâm canh

phía Nam, quả ít hạt hơn, mọng nước và ít xơ bã. Hạn chế cơ bản của việc
phát triển cam quýt ở vùng miền núi phía Bắc là:
Địa bàn phân tán, ít có vùng tập trung lớn như vùng Phủ Quỳ - Nghệ
An hoặc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mới chỉ có một số vùng tương đối
tập trung trồng nhiều cam quýt đó là: Bắc Sơn - Lạng Sơn (khoảng
trên 500ha), Hàm Yên – Tuyên Quang (trên 2000 ha); Bắc Quang – Hà
Giang (trên 2.000 ha).
Địa hình dốc, giao thông đi lại khó khăn, hạn chế nhiều đến việc mở
rộng vùng sản xuất cam quýt làm hàng hoá.
Việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất gặp niều khó khăn do
trình độ dân trí còn thấp, tính thích ứng với nền kinh tế hàng hoá còn chậm.
Sản xuất chủ yếu theo lối kinh nghiệm, thường chỉ độc canh một giống, nên
dễ bị ứ đọng sản phẩm, sâu bệnh phát sinh gây hại nhiều, công tác tuyển chọn
nhân giống chưa được chú trọng dẫn đến sự thoái hoá giống, phẩm chất ngày
càng xuống cấp.
Khắc phục những trở ngại trên, phát huy thế mạnh của các tỉnh
miền núi phía Bắc về điều kiện tự nhiên khí hậu để sản xuất hàng hoá quả có
múi, chỉ có thể làm từng bước và bắt đầu từ việc nghiên cứu, áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật mới, đặc biệt là những tiến bộ kỹ thuật về giống vào những vùng
sản xuất có kinh nghiệm, trên cơ sở đó phát triển ra các vùng khác.

16


2.3. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây cam
2.3.1. Yêu cầu về ngoại cảnh
Thực tế cho thấy; năng suất cao, chất lượng ngon, mẫu mã đẹp khi cam
quýt được trồng ở vùng á nhiệt đới cho dù có phổ thích nghi rộng.
Vũ Công Hậu (1996)cho rằng: Tuổi thọ của các cây có múi thường cao,
đặc biệt ở những nơi khí hậu ôn hoà, đất tốt nhưng có độ dốc thoát nước tốt.

trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển của chúng, cần nhiều nhất trong
thời kỳ lúc hạt nảy mầm và lúc ra hoa kết quả, tối thiểu phải đạt
1270mm/năm. Do đó vườn trồng cam đều phải chú ý tới hệ thống tưới tiêu
phục vụ tưới cho cây nhất là trong vụ khô.
+ A. Haury và cộng sự (1978) cho rằng: trong điều kiện rất ẩm, với
lượng mưa hàng năm cao hơn 4.000mm, các giống Osceola, Dancy cho mã
quả đẹp, thịt quả mềm nhiều nước, vị ngọt. Giống Tagelo mineola vị ngon
nhưng ít thơm. Giống Clementin vị ngọt nhưng mã quả xấu. Quýt King thịt
quả mềm nhiều nước, thơm nhưng nhiều hạt, vỏ xanh .
+ Việt Nam có tổng lượng mưa phù hợp với cây cam tuy nhiên do
phân bố trong năm không đều, nên mùa khô vẫn cần tưới nước cho cây.
Ngược lại cây cam không chịu được ngập úng (khi ngập úng rễ bị thối, lá
rụng và cây sẽ chết).
- Ẩm độ không khí: cam không ưa ẩm độ không khí quá thấp,
quả ngoài rìa tán chất lượng thường không bằng ở giữa tán do độ ẩm ở đó ổn
định hơn. Độ ẩm quá cao tạo điều kiện cho bệnh phát triển nặng, nhất là bệnh
chảy gôm. Độ ẩm không khí cần đạt ±70% đủ ẩm quả lớn đều, mã quả
đẹp, vỏ mỏng, múi nhiều nước ít rụng.
- Ánh sáng: cam là loại cây ưa sáng, nhưng thích ánh sáng tán xạ hơn
ánh sáng trực xạ. Đủ ánh sáng cây quang hợp thuận lợi, hình thành các chất
hữu cơ được tốt, tạo nên năng suất cao phẩm chất tốt. Ngược lại thiếu ánh
sáng làm cho cây yếu ớt, đậu quả ít, năng suất và phẩm chất đều giảm. Cường

18


độ ánh sáng không nên quá mạnh thích hợp nhất là ±2000 lux (tương ứng
với cường độ chiếu sáng của mặt trời lúc 16-17h trong ngày mùa hè).
2.3.2. Yêu cầu về dinh dưỡng của cây cam
Cây cam quýt mọc tốt ở nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất thịt

Theo các nhà nghiên cứu vè việc bón phân cho cam quýt cho rằng cơ
sở khoa học của việ bón phân có hiểu quả là dựa vào phân tich hàm lượng
dinh dưỡng trong đất và trong lá theo thang tiêu chuẩn của Chapman và các
tác giả, cần căn cứ vào đó để khi cung cấp phân bón cho cây tránh làm sao
không xảy ra hiện tượng dư thừa gây lãng phí và làm giảm năng suất và chất
lượng cây trồng ở nước ta phương pháp này đã được tiến hành thử nghiệm và
thu được kết quả tốt tại các nông trường cam quýt vùng Phủ Quỳ - Nghệ An
từ những năm 1974 và được công nhận đây là một tiến bộ khoa học trong sản
xuất cam quýt vậy chúng ta có thể thấy rằng các chất dinh dưỡng trong lá cây
có hàm lượng khác nhau, do vậy mà nhu cầu về hàm lượng các chất dinh
dưỡng là không giống nhau. Bón phân cho cam quýt cần có những hiểu biết
nhất định để khi bón làm sao không thừa hoặc không thiếu chất dinh dưỡng.
Nếu thơà hoặc thiếu đều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của
cam quýt. Đặc biệt là sự thừa đạm là một dấu hiệu xấu. khi hàm lượng dinh
dưỡng trong lá thích hợp thì cam sinh trưởng và phát triển tốt, vườn cam cho
năng suất cao.

20


Bảng 2.3. Dinh dưỡng trong lá cam 7 – 10 tuổi
( lá 4 – 7 tháng tuổi/ cành không quả )
Nguyên tố
Đạm ( N )
Lân ( S )
Kali ( K )
Canxi (Ca)
Magiê (Mg)
Lưu huỳnh ( S)
Bo ( B )

1,8-2,3
2,4
1,6-2,9
3,0-5,5
5,6-6,8
7,0
0,16-0,29
0,3-0,6
0,7-1,1
1,2
0,14-0,19
0,2-0,3
0,4-0,5
0,6
21-40
50-150
160-260
270
36-59
60-120
130-200
350
16-24
25-200
300-500
1000
16-24
25-100
110-200
300

+ Địa điểm: huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An
3.4. Phương pháp điều tra
- Điều tra, thu thập số liệu theo phiếu lập sẵn, phỏng vấn các hộ trồng
cam tại huyện (phụ lục)
- Các số liệu thứ cấp tiến hành thu nhập qua phòng nông nghiệp, phòng
thống kê, phòng tài nguyên môi trường, trạm khí tượng của huyện Nghĩa Đàn

22


4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nghĩa Đàn
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
Huyện Nghĩa Đàn nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An. Được chia
thành 24 xã với quy mô diện tích 61.785 ha đất tự nhiên. Vị trí trung tâm của
huyện được quy hoạch tại xã Nghĩa Bình, cách đường Hồ Chí Minh 1 - 2 km
về phía Đông, cách Thành phố Vinh khoảng 90 km và cách thị xã Thái Hoà 8
km về phía Đông - Bắc. Nghĩa Đàn có đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 48, quốc
lộ 15A đi qua, có sông Hiếu chảy qua; có vùng đất đỏ bazan màu mỡ rất thích
hợp để phát triển các cây ăn quả như cây cam, dứa..., công nghiệp dài ngày
như cao su, cà phê; mía …
Huyện Nghĩa Đàn có toạ độ địa lý 105 018’ – 105035’ kinh độ Đông và
19013’ – 19033’ vĩ độ Bắc. Diện tích tự nhiên 61.785 ha, dân số (đến
30/6/2010) là 134.122 người với 30.371 hộ, gồm 3 dân tộc Kinh, Thái và Thổ.
Dân số trong khối nông nghiệp năm 2010 có 114.773 người, chiếm 85,57%
tổng dân số. Nghĩa Đàn có đường giáp ranh chung với các huyện:
- Huyện Như Xuân và Như Thanh (tỉnh Thanh Hoá) phía Bắc.
- Huyện Tân Kỳ phía Nam.
- Huyện Quỳnh Lưu phía Đông.
- Huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu ở phía Tây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status