TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
A – Lời mở đầu
Loài người từ khi ra đời đã trải qua biết bao biến động, thăng trầm.
Cùng với sự phát triển của xã hội, lịch sử thì những giá trị được coi là chuẩn
mực về nhân cách cũng dần dần được định hình, phát triển, biến đổi phù
hợp với đời sống. Xã hội càng phát triển lên cao thì những yêu cầu về nhân
cách càng được coi trọng. Khi mà nước ta đã mở cửa nền kinh tế thị trường,
khi mà ta đã gia nhập rất nhiều tổ chức thế giới như WTO, ASEAN... thì
những vấn đề nhân cách cần được đặt ra một cách cấp thiết. Bước vào thời
kỳ mới thì những giá trị chuẩn mực về nhân cách của ta trước đây cũng dần
thay đổi. Trong môi trường toàn cầu hoá, chúng ta có thể nói nhiều hơn đến
sự tự do với tính cách là dấu hiệu của sự phát triển nhân cách một cách đầy
đủ. Nhưng môi trường ấy cùng với sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố từ bên
ngoài vào cũng rất dễ dẫn đến sự phát triển méo mó về nhân cách gây khó
khăn cho việc xây dựng và phát triển nhân cách. Chính vì vậy, việc nghiên
cứu các yếu tố liên quan đến sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như
vai trò của chúng là rất cần thiết. Bởi có sự hiểu biết đó thì mỗi cá nhân có
thể dễ dàng hơn trong sự định hướng nhân cách cho mình. Vì vậy, hiểu biết
về “vai trò của các yếu tố đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách” càng cần thiết.
B – Nội dung
I – Khái niệm nhân cách
1. Định nghĩa
Nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng X.L.Rubinstein đã viết: “Con người là cá
tính do nó những thuộc tính đặc biệt, không lặp lại, con người là nhân cách
do nó xác định được quan hệ của mình với những người xung quanh một
cách có ý thức”.
Theo quan điểm tâm lý học Macsxit, không phải con người mới được sinh
ra đã có sẵn nhân cách và cũng không phải nó được bộc lộ dần dần từ các
bản năng nguyên thủy. Nhân cách là một cấu tạo tâm lý mới được hình
thành và phát triển trong quá trình sống, hoạt động và giao tiếp của mỗi
người. Như V.I Lênin đã khẳng định: “Cùng với dòng sữa mẹ, con người
hấp thụ tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên”. Nhà tâm lý học Xô
Viết nổi tiếng A.N. Lêonchiép cũng chỉ ra rằng: nhân cách cụ thể là nhân
cách con người sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài chuyển
vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn
hóa xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các quan hệ xã hội mà nó gắn bó.
Trong quá trình hình thành, nhân cách bị chi phối bởi nhiều yếu tố: di
truyền, hoàn cảnh sống, nhân tố giáo dục, hoạt động và yếu tố giao tiếp.
1. Di truyền
Không thể có nhân cách trừu tượng ở bên ngoài một con người bằng
xương bằng thịt mà là nhân cách của một con người cụ thể sống trong xã hội
cụ thể. Ngay từ lúc đứa trẻ sinh ra đã có những đặc điểm hình thái sinh lý
của con người bao gồm các đặc điểm bẩm sinh và di truyền. Theo sinh vật
học hiện đại, di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống đảm bảo sự tái
tạo ở thế hệ mới những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với thế hệ trước
và đảm bảo năng lực đáp ứng những đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế
đã định sẵn. Trong khi đó, những đặc điểm giải phẫu sinh lý của cá thể ngoài
những yếu tố do di truyền tạo nên, còn có những yếu tố riêng tự tạo do sự
2
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
vận động và phát triển của cá thể. Những yếu tố như thế đối với con người
năng lực không tốt mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh sống của họ nữa.
2. Yếu tố môi trường
3
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên
và xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con
người. Có thể phân thành hai loại: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
• Môi trường tự nhiên bao gồm các điều kiện tự nhiên – hệ sinh thái
phục vụ cho các hoạt động sinh sống của con người. Hoàn cảnh địa lý,
nước, không khí, đất đai, động vật, thực vật, khí hậu, thời tiết, … đều
thuộc môi trường tự nhiên. Điều kiện tự nhiên quy định phương thức
sống của con người. Ví dụ như người dân vùng biển thì không thể
sống bằng nghe trồng lúa được mà phải sống dựa vào nghề làm muối
và đánh bắt hải sản, còn người trung du đồng bằng thì họ trồng lúa,
trồng rừng. Khi phương thức sống của con người được quy định sẽ
hình thành nên các tập tục, lễ nghi hay những truyền thống của những
làng nghề, nó ngấm vào máu của họ ảnh hưởng đến nhân cách con
người họ. Nhưng nó không ảnh hưởng một cách trực tiếp mà nó ảnh
hưởng gián tiếp qua hoạt động xã hội của con người ở trong hoạt động
sống hàng ngày.
• Môi trường xã hội bao gồm cả một hệ thống quan hệ chính trị, kinh tế,
xã hội – lịch sử, văn hóa, giáo dục, … được thiết lập. Con người hòa
nhập được với xã hội qua môi trường này. Tác động của môi trường
xã hội đến sự hình thành và phát triển nhân cách qua các mối quan hệ
lý, nhân cách là môi trường xã hội, là yếu tố xã hội. Trong môi trường xã hội
rộng lớn đó thì giáo dục, hoạt động, giao tiếp với tư cách như là những
phương thức hay các con đường có vai trò quyết định quá trình hình thành
và phát triển nhân cách.
3. Nhân tố giáo dục
Môi trường xã hội tác động đến cá nhân một cách tự phát và tự giác nhưng
chủ yếu bằng con đường tự giác là giáo dục.
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
(Hồ Chí Minh)
Qua đoạn thơ trên chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của yếu tố
giáo dục. Theo quan điểm của tâm lý học Macxít và giáo dục học hiện đại
thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách.
Giáo dục là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và
phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những
giai đoạn lịch sử nhất định. Từ giáo dục thường được hiểu theo nghĩa rộng
và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình,
nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác đến
con người. Theo nghĩa hẹp, giáo dục có thể xem như là một quá trình tác
động đến thế hệ trẻ về mặt tư tưởng, đạo đức, hành vi … nhằm hình thành
thái độ, niềm tin, thói quen cư xử đúng đắn trong gia đình, nhà trường và xã
hội. Vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách của thế hệ trẻ được thể hiện ở những điểm sau:
5
chiều hướng mong muốn của xã hội. Chẳng hạn, những đứa trẻ chưa
đến tuổi thành niên mà vi phạm pháp luật, chúng sẽ được đưa đến các
trại giáo dưỡng để giáo dục, uốn nắn và loại bỏ những phẩm chất tâm
lý tiêu cực, … hoặc cải tạo lao động đối với người phạm pháp.
• Giáo dục có thể đi trước hiện thực, nó “hoạch địch nhân cách tương
lai” để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự phát triển của
xã hội. Như vậy, giáo dục không chi tính đến trình độ hiện tại của sự
phát triển nhân cách mà còn đưa đến bước phát triển tiếp theo. Chẳng
6
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
hạn, mục tiêu giáo dục của chúng ta là xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa. Đây chính là tính chất tiên tiến của giáo dục.
Những quan điểm trên cho thấy, không thể có sự phát triển tâm lý, nhân
cách của trẻ em ngoài dạy học và giáo dục. Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối
với sự hình thành và phát triển nhân cách, song không nên tuyệt đối hóa vai
trò của giáo dục. Giáo dục chỉ vạch ra phương hướng cho sự hình thành và
phát triển theo hướng đó. Còn cá nhân học sinh có phát triển theo hướng đó
hay không, phát triển đến mức độ nào – điều này giáo dục không quyết định
trực tiếp được mà cái quyết định trực tiếp lại chính là hoạt động và giao tiếp
của mỗi cá nhân. Trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa như hiện
nay thì giáo dục gia đình lại ngày càng có xu hướng bị xem nhẹ. Hầu hết các
bậc cha mẹ thường khoán trắng cho nhà trường trong việc giáo dục trẻ trong
khi giáo dục gia đình là lực lượng quan trọng. Ngoài ra, tự giáo dục cũng là
yếu tố quan trọng tạo nên điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về nhân cách
nhân cách. Mặt khác, cũng thông qua hoạt động, con người đóng góp lực
lượng bản chất của mình (sức mạnh của thần kinh, cơ bắp, trí tuệ, năng lực,
…) vào việc cải tạo thế giới khách quan. Đây là sự sáng tạo, là những đóng
góp của nhân cách vào sự phát triển của xã hội. Ví dụ: hai đứa trẻ cùng một
mẹ sinh ra, chúng đều có những tư chất giống nhau và đều được đặt trong
hoàn cảnh sống như nhau. Nhưng trong quá trình sống và làm việc, một đứa
thì thành đạt, giỏi giang còn một đứa thì không thành đạt và kém cỏi. Có sự
khác nhau như vậy, là do đứa trẻ thành đạt đã biết lĩnh hội kinh nghiệm xã
hội và lịch sử thông qua việc tích cực hoạt động để rèn luyện nhân cách; còn
đứa trẻ kém cỏi kia không chịu hoạt động, tiếp xúc với thế giới khách quan
nên nó không hình thành được những nhân cách tốt.
Hiểu được mối quan hệ giữa hoạt động và nhân cách nên hoạt động phải
được coi là một phương tiện giáo dục cơ bản. Nhưng không phải ở tất cả các
giai đoạn hay thời kỳ phát kỳ phát triển và cũng không phải các dạng hoạt
động đều tác động như nhau đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Theo
quan điểm của nhà tâm lý học nổi tiếng A.N. Leônchiép thì có những dạng
hoạt động đóng vai trò chủ yếu (gọi là hoạt động chủ đạo) trong sự phát triển
nhân cách còn các dạng hoạt động khác đóng vai trò thứ yếu. Do đó cần hiểu
rõ sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người vào các dạng hoạt
động khác nhau ở mỗi thời kỳ nhất định. Muốn hình thành nhân cách, con
người phải tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau, trong đó đặc biệt
chú ý tới vai trò của hoạt động chủ đạo. Vì thế phải lựa chọn, tổ chức và
hướng dẫn các hoạt động đảm bảo tính giáo dục và tính hiệu quả đối với
việc hình thành và phát triển nhân cách.
Hoạt động có vai trò quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển
nhân cách nên trong công tác giáo dục cần chú ý thay đổi làm phong phú nội
dung, hình thức, cách tổ chức hoạt động để lôi cuốn cá nhân tham gia tích
cực, tự giác vào các hoạt động đó.
5. Yếu tố giao tiếp
Hoạt động của con người luôn luôn mang tính chất xã hội, tính cộng đồng.
Qua con đường giao tiếp, con người gia nhập vào quan hệ xã hội, lĩnh hội
nền văn hóa xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực xã hội và “tổng hòa các quan hệ
xã hội” thành bản chất con người. Cụ thể, con người học được cách đánh giá
hành vi và thái độ, lĩnh hội được các tiêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống của
mình. Như vậy, những phẩm chất nhân cách quan trong như tinh thần trách
nhiệm, nghĩa vụ, tính nguyên tắc, tính trung thực, lòng nhân ái, … được biểu
hiện và được hình thành chính trong quá trình giao tiếp. Cũng nhờ có giao
tiếp, con người mới có thể đóng góp sức lực và tài năng của mình cho sự
phát triển xã hội.
Trong giao tiếp, con người không chỉ nhận thức người khác, nhận thức các
quan hệ xã hội, mà còn nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu so
sánh mình với người khác, với chẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thân mình
như là một nhân cách, để hình thành một thái độ giá trị - cảm xúc nhất định
9
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
đối với bản thân. Rõ ràng là qua giao tiếp, con người đã hình thành khái
niệm tự ý thức.
III – Liên hệ bản thân
Thông qua việc tìm hiểu các vấn đề nêu trên, em nhận thấy cá nhân hoạt
động và giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội, dưới tác động chủ đạo của
giáo dục sẽ đưa tới hình thành một cấu trúc nhân cách tương đối ổn định và
đạt tới một trình độ phát triển nhất định. Trong quá trình sống, nhân cách
tiếp tục biến đổi và hoàn thiện dần thông qua việc cá nhân tự ý thức, tự rèn
luyện, tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình ở trình độ cao hơn, đáp
ứng những nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống, của xã hội. Tuy nhiên, thì