MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Người thầy giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của nước
nhà. Thầy giáo là chiếc cầu nối liền giữa nền văn hóa dân tộc và nhân loại với sự tái
sản xuất nền văn hóa ấy trong chính đứa trẻ. Hoạt động của người giáo viên gồm có
hoạt động dạy, hoạt động giáo dục, hoạt động tự hoàn thiện chuyên môn, nghiệp vụ và
hoạt động xã hội. Hoạt động chính của thầy giáo là tổ chức và điều khiển trẻ lĩnh hội,
thông trải những kinh nghiệm, những tinh hoa mà loại người tích lũy được và biến
chúng trở thành những nét nhân cách của chính mình. Không ai trong xã hội, ngay cả
cha mẹ là bậc vĩ nhân đi nữa cũng không thể thay thế được chức năng của người thầy
giáo. Nói như K.D. Usinxki: Thầy cô giáo những con người đang “Dùng nhân cách để
giáo dục nhân cách”.
Bản thân sinh viên ngồi trên ghế giảng đường phạm – những thầy cô giáo tương
lai bên cạnh phát huy ý nghĩa của hoạt động học tập chuyên môn nghiệp vụ, tu dưỡng
đạo đức, rèn luyện tác phong với chính bản thân mình chính là phát triển toàn diện
nhân cách, năng lực và tư duy sáng tạo. Sự hình thành và phát triển nhân cách là cả
một quá trình tu dưỡng văn hóa và rèn luyện tay nghề trong thực tiễn sư phạm. Nó là
cấu tạo tâm lý phức tạp và phong phú. Nhân cách hoàn thiện và có sức sáng tạo sẽ tạo
uy tín chân chính của người thầy giáo.
Mặt khác, hiệu quả của giáo dục và dạy học phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của
người thầy giáo. Học sinh có tin, nghe và làm theo thầy hay không cũng do uy tín của
thầy mà có. Thầy giáo có xứng đáng là đại diện cho nền văn minh nhân loại, cho nền
giáo dục tiến bộ, cho điều hay lẽ phải hay không cũng xuất phát lừ uy tín của người
thầy giáo.Uy tín ấy không phải tự nhiên mà có, nó gắn chặt chẽ với nhân cách người
thầy hay chính là bộ mặt chính trị - đạo đức của người thầy giáo, là công cụ chủ yếu để
tạo ra sản phẩm giáo dục. Vì vậy, uy tín là một yếu tố vô cùng quan trọng của công tác
sư phạm, theo đó sự cần thiết trau dồi nhân cách đối với mỗi người giáo viên là tất
yếu.
Tại sao lại nói sự cần thiết trau dồi nhân cách đối với mỗi người giáo viên là tất
yếu? Những phẩm chất và năng lực sư phạm cần có của người giáo viên cụ thể đó là
Giáo viên nam thường được gọi là thầy giáo, còn giáo viên nữ thường được gọi là cô
giáo.
2. Đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên
Hiểu được đặc trưng của lao động nghề nghiệp, một mặt chúng ta hiểu rõ yêu cầu
khách quan của xã hội đối với nghề mà ta đang làm, mặt khác chúng ta cũng tự ý thức
về yêu cầu đối với phẩm chất và năng lực (nói chung là nhân cách) khi thực hiện nghề
nghiệp đó. Để tìm thấy đặc trưng của một loại hoạt động nghề nghiệp nào, ta có thể
dựa vào các mặt, như đối tượng của hoạt động, công cụ của hoạt động, tính chất của
hoạt động... Dựa trên cơ sở đó, ta có thể nêu lên đặc điểm lao động cơ bản của người
thầy giáo như sau:
2.1. Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người
- Nghề quan hệ với con người đòi hỏi những nét tính cách: sự tôn trọng, lòng tin,
tình thương, đối xử công bằng, thái độ ân cần, lịch sự, tế nhị…
- Đối tượng của nghề dạy học là con người đang trong thời kỳ chuẩn bị, phát triển
xã hội tương lai phụ thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kỳ chuẩn bị này. Nội
dung của thời kỳ chuẩn bị là: hình thành những phẩm chất và năng lực của con người
mới đáp ứng yêu cầu của xã hội đang phát triển.
- Hoạt động chính của thầy giáo là tổ chức và điều khiển trẻ lĩnh hội, thông trải
những kinh nghiệm, những tinh hoa mà loại người tích lũy được và biến chúng trở
thành những nét nhân cách của chính mình. Không ai trong xã hội, ngay cả cha mẹ là
bậc vĩ nhân đi nữa cũng không thể thay thế được chức năng của người thầy giáo.
2
2.2. Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình
Nghề nào cũng bằng công cụ để gia công vào vật liệu tạo ra sản phẩm. Công cụ
càng tốt, càng hiện đại thì kết quả gia công càng cao. Công cụ đó có thể ở trong hay
ngoài người lao động.
- Trong dạy học và giáo dục, thầy giáo dùng nhân cách của chính mình để tác
động vào học sinh. Đó là phẩm chất chính trị, là sự giác ngộ về lý tưởng đào tạo thế hệ
phát triển trí tuệ... mới là công việc đích thực của một ông giáo. Dieterweg, một nhà sư
phạm học Đức, đã nhấn mạnh: “Người thầy giáo tồi là người mang chân lý đến sẵn,
người thầy giáo giỏi là người biết dạy học sinh đi tìm chân lý”. Thực hiện được công
việc dạy học theo tinh thần đó, rõ ràng đòi hỏi người thầy giáo phải dựa trên những
nền tảng khoa học giáo dục và có kỹ năng sử dụng chúng trong từng tình huống sư
phạm cụ thể, thích ứng với từng cá nhân hành động.
2.5. Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp
Đặc điểm của lao động tri óc: có hai đặc điểm nổi bật:
+ Phải có thời kỳ khởi động (tư duy, chuẩn bị), thời kỳ để cho lao động đi vào nền
nếp, tạo ra hiệu quả. Người công nhân đứng máy sau một phút, có khi xong một giây
đã có thể cho ra sản phẩm. Khác với người công nhân, người lao động trí óc trăn trở
đêm ngày, có khi trăn trở hằng tháng cũng không chắc cho ra sản phẩm gì. Lao động
3
của nhà giáo cũng có tính chất như vậy, nhất là khi phải giải quyết một tình huống sư
phạm phức tạp và quyết định.
+ Có “quán tính” của trí tuệ. Công việc của người thày không đóng khung trong
không gian lớp học, thời gian hành chính xác định, mà thể hiện ở khối lượng, chất
lượng và tính sáng tạo của công việc.
II. Sự cần thiết trau dồi nhân cách đối với ngươi thầy giáo
1. Sản phẩm lao động của thầy giáo là nhân cách học sinh do những yêu cầu
khách quan của xã hội quy định
Sản phẩm lao động của người thầy giáo là kết quả tổng hợp của cả thầy và trò nhằm
biến những tinh hoa của nền văn minh xã hội thành tài sản riêng (sự phát triển tâm lý,
nhân cách) của trò.
Những phẩm chất tâm lý tương ứng trong nhân cách người thầy (theo quy định một
cách khách quan của xã hội) sẽ tạo nên chất lượng cao của sản phẩm giáo dục.
Trau dồi nhân cách đối với người thầy giáo là yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp đào
tạo.
lặp lại. Công việc này phải dựa trên cơ sở nắm vững con đường mà loài người đã đi
qua trong khi phát hiện ra nền văn hóa đó, phải dựa trên cơ sở của những thành tựu
4
tâm lý học, giáo dục học hiện đại đồng thời lại phải am hiểu đầy đủ đặc điểm và trình
độ phát triển về mọi mặt của trẻ nhất là về mặt trí tuệ và đạo đức.
Tóm lại, sự cần thiết trau dồi nhân cách đối với một người thầy giáo là tất yếu.
Sự khẳng định ấy là một yêu cầu khách quan dựa trên đặc điểm cơ bản của nghề dạy
học, vai trò và chức năng của người thầy giáo. Đây là một quá trình lâu dài, phức tạp,
đòi hỏi một sự học tập và rèn luyện kiên trì và giàu sáng tạo về mọi mặt (chính trị,
chuyên môn nghiệp vụ) để từng bước hình thành lý tưởng nghề nghiệp cao cả và tài
năng sư phạm hoàn hảo.
III. Cấu trúc nhân cách người thầy giáo
Nói đến nhân cách là nói đến tổng thể những phẩm chất và năng lực tạo nên bản
sắc (nét đặc trưng) và giá trị tinh thần (giá trị làm người) của mỗi người. Như vậy trúc
nhân cách của mỗi người gồm: phẩm chất (đức) và năng lực (tài).
+ Phẩm chất là thái độ của con người đối vối hiện thực (tự nhiên, xã hội, người
khác, bản thân); là hệ thống những thuộc tính tâm lý biểu hiện các mối quan hệ xã hội
cụ thể của người đó; thường thể hiện qua hành động, hành vi, cách ứng xử…
+ Năng lực là mặt hiệu quả của tác động (tác động vào con người, vào sự việc).
+ Phẩm chất và năng lực đều bao hàm ba yếu tố cơ bản: Nhận thức, tình cảm, ý
chí. Phẩm chất của nhân cách gồm: Ý thức, niềm tin đạo đức (nhận thức), tình cảm
đạo đức, ý chí đạo đức (biểu hiện tập trung ở rính cách). Năng lực cũng vậy bao gồm:
Năng lực trí tuệ (nhận thức), tình cảm trí tuệ và hành động trí tuệ (ý thức).
Cả phẩm chất và năng lực làm thành một hệ thống. Chúng quyện vào nhau, chi
phối lẫn nhau và lạo nên một cấu trúc (với ý nghĩa là một tổ hợp những yếu tố cũng
như mối quan hệ giữa các yêú tố đó tạo ra một thể thống nhất toàn vẹn).
Những nội dung cơ bản tạo thành nhân cách nói trên là chung cho mọi người ở
mọi loại hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, trong mỗi thành phần của nó, ở mỗi loại
mạnh giúp người thầy vượt qua mọi khó khăn về tinh thần và vật chất, hoàn thành
nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ. Những điều đó cũng để lại dấu án đậm nét trong tâm trí
học sinh, có tác dụng hướng dẫn, điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân
cách trẻ.
Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ không phải là cái gì có sẵn, cũng không phải là cái gì
có thể truyền từ người này sang người khác bằng cách áp đặt. Trái lại, sự hình thành
và phát triển là một quá trình hoạt động tích cực trong công tác giáo dục. Chính trong
quá trình đó, nhận thức về nghề càng được nâng cao, tình cảm nghề nghiệp ngày càng
tỏ rõ quyết tâm cao.
Kết luận sư phạm: Vì tác dụng to lớn của lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ trong nhân
cách người thây giáo, cho nên mọi việc làm trong trường sư phạm phải nhằm xây
dựng lý tưởng nghề nghiệp cho giáo sinh. Nếu trường sư phạm không giáo dục lý
tưởng nghề nghiệp cho giáo sinh thì cũng như A.X.Macarenco đánh giá là: “Không
giáo dục gì hết”.
c.) Lòng yêu trẻ
Lòng yêu người, trước hết là yêu trẻ là một trong những phẩm chất đạo đức cao
quý của con người, là một phẩm chất đặc trưng trong nhân cách người thầy giáo, vì
lòng thương người đó và đạo lý của cuộc sống. Lòng thương người, yêu trẻ càng sâu
sắc bao nhiêu thì càng làm được nhiều việc vĩ đại bấy nhiêu.
Lòng yêu trẻ của thầy giáo thể hiện:
- Cảm thấy vui sướng khi được tiếp xúc với trẻ, khi thâm nhập vào thế giới độc
đáo của trẻ.
- Thái độ quan tâm đầy thiện chí và ân cần đối với trẻ, cả với những em học
kém và vô kỷ luật.
- Tinh thần giúp đỡ trẻ bằng ý kiến hoặc hành động thực tế của mình một cách
chân thành và giản dị, không có thái độ phân biệt đối xử, dù có những em chưa ngoan
hoặc chậm hiểu.
Kết luận sư phạm: Lòng yêu trẻ của người thầy giáo là như vậy song không thể
pha trộn với những nét ủy mỵ, mềm yếu và thiếu đề ra yêu cầu cao (quá dễ dãi) và
nghiêm khằc đối với trẻ (quá khắt khe), mà ngược lại (đúng mức). Tóm lại, có thể nói
Hơn nữa, người thầy giáo giáo dục học sinh không những bằng hành động trực
tiếp của mình mà còn bằng tấm gương của cá nhân mình, bằng thái độ và hành vi của
chính mình đối với hiện thực.
Để làm điều đó, thầy giáo, một mặt, phải biết lấy những quy luật khách quan làm
chuẩn mực cho mọi tác động sư phạm của mình, mặt khác, phải có những phẩm chất
đạo đức và phẩm chất ý chí cần thiết. Trong những phẩm chất đó, ta có thể nêu lên
những phẩm chỉ đạo đức và ý chí không thể thiếu. Đó là: tinh thần nghĩa vụ, tinh thần
“mình vì mọi người, mọi người vì mình”, thái độ nhân đạo, lòng tôn trọng, thái độ
công bằng, chính trực, tính tình ngay thẳng, giản dị và khiêm tốn, tính mục đích,
nguyên tắc, kiên nhẫn, tự kiềm chế, biết tự chiến thắng với những thói hư tật xấu, kỹ
năng điều khiển tình cảm, tâm trạng cho thích hợp với các tình huống sư phạm…
Kết luận sư phạm: Những phẩm chất đạo đức là nhân tố để tạo ra sự cân bằng
theo quan điểm sư phạm trong các mối quan hệ cụ thể giữa thầy và trò. Những phẩm
chất ý chí là sức mạnh để làm cho những phẩm chất và năng lực của người thầy giáo
thành hiện thực và tác động sâu sắc tới học sinh.
2. Động lực của người thầy giáo (năng lực sư phạm)
Hoạt động của người thầy giáo biểu hiện ở tất cả các hình thức khác nhau của
công tác sư phạm nhưng tựu chung lại ở hai dạng đặc trưng: công tác dạy học và công
tác giáo dục. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ là tương đối vì khi tiến hành công
tác dạy học thì cũng đã đạt mục đích giáo dục, ngược lại, muốn giáo dục thì cũng phải
dựa trên cơ sở dạy học. Vả lại dạy học hay giáo dục thực chất cũng là tạo ra những cơ
sở trọng yếu, cơ bản để “xây cất” nhân cách cho thế hệ trẻ.
Hiện nay việc xem xét cấu trúc của năng lực sư phạm cũng có nhiều cách khác
nhau. Chẳng hạn, có tác giả sắp xếp các năng lực sư phạm dựa vào các yếu tố chủ đạo,
hỗ trợ, điểm tựa và từ đó chia thành nhóm các năng lực sư phạm giữ các vai trò chủ
đạo, nhóm các năng lực sư phạm giữ vai trò hỗ trợ, nhóm các năng lực sư phạm giữ
vai trò điểm tựa.
Cách phân chia trên có mặt hợp lý và mặt chưa hợp lý. Cách phân chia này giúp
ta thấy mức độ ý nghĩa là hiệu quả khác nhau của năng lực trong hoạt động sư phạm.
Nhưng cách làm đó cũng bộc lộ một nhược điểm lớn là việc sắp xếp năng lực này hay
trong công tác dạy học hay giáo dục.
+ Trong quá trình dạy học sinh, căn cứ vào một loạt dấu hiệu do quan sát tinh tế
có thể hiểu được quá trình lĩnh hội của học sinh; như: từ ngữ, ánh mắt, hành vi…
+ Dự đoán được thuận lợi và khó khăn, xác định đúng đắn mức độ căng thẳng
cần thiết khi thực hiện các nhiệm vụ nhận thức.
Kết luận sư phạm: Năng lực hiểu học sinh là kết quả của một quá trình lao động
đầy trách nhiệm, thương yêu và sâu sát học sinh, nắm vững môn mình dạy, am hiểu
đầy đủ về tâm lý học trẻ em, tâm lý học sư phạm cùng với một số phẩm chất tâm lý cần
thiết như sự “tinh ý”, sư phạm (quan sát), óc tưởng tượng, khả năng phân tích và tổng
hợp.
b.) Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo
Đây là một năng lực cơ bản của năng lực sư phạm, một trong những năng lực trụ
cột của nghề dạy học. Vì sao vậy? Thầy giáo có nhiệm vụ phát triển nhân cách học
sinh nhờ phương tiện là tri thức, quan điểm, kỹ năng…mà loài người khám phá ra,
nhất là tri thức khoa học thuộc lĩnh vực giảng dạy của mình. Thầy giáo phải nắm vững
nội dung, bản chất cũng như con đường mà loại người đã đi qua. Chỉ có trong điều
kiện ấy, thầy giáo mới có thể tổ chức cho học sinh tái tạo và lấy lại những cái cần cho
sự phát triển tâm lý, nhân cách của học sinh, tạo ra những cơ sở trọng yếu để hình
thành phẩm chất và năng lực người mới.
Vì công việc của thầy giáo cũng là công việc của một nhà giáo dục, một dạng lao
động phong phú và đa dạng. Họ vừa dạy môn học, vừa bồi dưỡng cho thế hệ trẻ một
nhãn quan rộng, có những hứng thú và thiên hướng phù hợp. Do đó, cần ở thầy giáo
một tầm hiểu biết rộng, tâm hồn của thầy giáo phải được bói bổ rất nhiều tinh hoa của
dân tộc, của cuộc sống và của khoa học. Lúc đó, dù họ có cống hiến cho học sinh bao
nhiêu đi nữa thì vẫn luôn dư dật những “thức ăn tinh khiết” dành cho trẻ.
8
Do sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển nhanh của khoa học, xã hội ngày càng
yêu cầu cao đối với trình độ văn hóa chung của thế hệ trẻ, mặt khác cũng làm cho
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa làm cho tài liệu trở nên đơn giản, thô thiển; hạ thấp
trình độ học sinh. Óc sáng tạo khi chế biến tài liệu của người thầy giáo thể hiện ở chỗ:
+ Trình bày tài liệu theo suy nghĩ và lập luận của mình, cung cấp cho học sinh
những kiến thức tinh lọc và chính xác, liên hệ được nhiều mặt giữa kiến thức cũ và
kiến thức mới, kiến thức bộ môn với các môn khác, liên hệ vận dụng và thực tiễn cuộc
sống.
+ Tìm ra những phương pháp mới, hiệu nghiệm để làm cho bài giảng lôi cuốn và
giàu cảm xúc tích cực.
+ Nhạy cảm với cái mới và giàu cảm hứng sáng tạo cũng là yếu tố góp phần thúc
đẩy năng lực chế biến tài liệu ở người thầy giáo.
e.) Nắm vững kỹ thuật dạy học
Nắm vững kỹ thuật dạy học là nắm vững kỹ thuật tổ chức và điều khiển hoạt
động nhận thức của trò qua bài giảng, đạt đến mức năng lực.
Nắm vững kỹ thuật dạy học được biểu hiện ở chỗ:
+ Nắm vững kỹ thuật dạy mới, tạo cho học sinh ở vị trí “người phát minh” trong
quá trình dạy học.
9
+ Truyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với học sinh.
+ Gây hứng thú và kích thích học sinh suy nghĩ tích cực và độc lập.
+ Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập (khêu gợi sự chú ý cho học sinh,
khắc phục sự suy giảm của hoạt động trong giờ giảng…).
Kết luận sư phạm: Việc hình thành một năng lực như vậy, nắm vững được kỹ
thuật dạy học nêu trên quả không dễ dàng, trái lại, nó là kết quả của một quá trình
học tập nghiêm túc (cả lý luận cơ bản và lý luận nghiệp vụ) và rèn luyện tay nghê
công phu.
f.) Năng lực ngôn ngữ
Có thể nói không có năng lực dạy học nếu không có năng lực ngôn ngữ. Trong
dạy học, cũng như giáo dục, ngôn ngữ của thầy thường hướng vào việc giải quyết một
để lựa chọn hình thức trình bày sao cho dễ hiểu, có chiều sâu về tư tưởng, có sức lao
động được tâm hồn học sinh. Nếu lời nói cầu kỳ, với những từ hoa mỹ, kêu nhưng
rỗng tuếch thường không gây được ấn tượng tốt trong tâm hồn các em.
+ Năng lực ngôn ngữ của thầy giáo còn biểu hiện ở chỗ thúc đẩy một cách tối đa
sự chú ý và sự suy nghĩ của học sinh vào bài giảng. Vì thế, giáo viên nên tránh những
câu dài, cấu trúc từ phức tạp, những thuật ngữ và cách trình bày khó hiểu. Ngược lại,
giáo viên cân nhắc những lời nói quá ngắn ngủi, quá vắn tắt thường làm cho học sinh
10
quá khó hiểu. Ngoài ra, người ta còn thấy rằng sự khôi hài đúng chỗ, sự pha trò nhẹ
nhàng, sự châm biếm dí dỏm, có thiện ý sẽ có tác dụng giúp học sinh tích cực suy
nghĩ, học tập sôi nổi và tiếp thu tốt.
+ Nhịp độ ngôn ngữ của thầy giáo cũng có một ý nghĩa nhất định. Nếu ngôn ngữ
của thầy giáo đều đều, đơn điệu sẽ gây mệt mỏi rất nhanh chóng, làm cho người nghe
chán chường uể oải và thờ ơ. Nhịp độ quá gấp cũng gây khó khăn trong việc lĩnh hội,
chóng gây mệt mỏi, ức chế bảo vệ phát sinh nhanh. Ngược lại, nhịp độ quá chậm cũng
gây uể oải và tẻ nhạt. Ngoài ra, chúng ta còn thấy, ngôn ngữ quá to, quá mạnh hoặc
ngược lại quá yếu, giọng thé cũng đều gây ảnh hưởng tương tự. Cho nên, chúng ta
cũng thấy rằng nhịp độ tối ưu đối với sự lĩnh hội của học sinh là nhịp độ trung bình,
hoạt bát.
Kết luận sư phạm: Trong hoạt động dạy học, người thầy phải chú ý trau dồi
năng lực ngôn ngữ. Nhịp điệu ngôn ngữ tối ưu là nhịp độ trung bình, hoạt bát.
2.2. Nhóm năng lực giáo dục
a.) Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh
Là năng lực biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo hình dung trước cần
phải giáo dục cho từng học sinh những phẩm chất nhân cách nào và hướng hoạt động
của mình để đạt tới hình mẫu trọn vẹn của con người.
Năng lực này thường được biểu hiện ở chỗ:
+ Vừa có kỹ năng tiên đoán sự phát triển của từng học sinh, vừa nắm được
tìm ra đối tượng giao tiếp. duy trì nó, xác định dược hứng thú, nguyện vọng của đối
tượng. Kỹ năng này còn bao gồm các kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản
thân, biết sử dụng toàn bộ các phương tiện giao tiếp.
+ Kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân: Tức là biết kiềm chế trạng
thái xúc cảm mạnh, khắc phục những tâm trạng có hại, khi cần thiết có thể bộc lộ rõ
những tình cảm mà lúc này không có hoặc có nhưng yếu ớt, nói cách khác là biết điều
khiển và điều chỉnh các diễn biến tâm lý của mình cho phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp.
+ Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp: Trong giao tiếp phải biết chọn từ “đắt”
và biết biểu hiện ngữ điệu; giọng điệu phải phù hợp với tình huống giao tiếp nhất định,
biết phát huy hiệu quả của phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, ánh
mắt... có thể bổ sung, hỗ trợ cho thái độ của người thầy giáo trong quan hệ tiếp xúc với
học sinh.
Kết luận sư phạm: Việc rèn luyện năng lực giao tiếp không tách rời với việc rèn
luyện các phẩm chất nhân cách. Chỉ có những giáo viên nào có nhiệt tình, tôn trọng
nhân cách học sinh, thiện chí, quan tâm giúp đỡ học sinh, luôn lắng nghe và dân chủ
trong giao tiếp với họ thì thường dễ dàng thiết lập quan hệ tốt với học sinh, dễ đạt kết
quả cao trong hoạt động sư phạm của mình.
c.) Năng lực “cảm hóa” học sinh
Muốn hiểu được đối tượng giáo dục của mình, muốn cho các tác động sư phạm
của mình có ý nghĩa đến sự hình thành nhân cách của trẻ, trong hệ thống các năng lực
sư phạm không thể vắng mặt năng lực cảm hóa học sinh. Đó là năng lực gây được ảnh
hưởng trực tiếp của mình đến với học sinh về mặt tình cảm và ý chí. Là khả năng làm
cho học sinh nghe, tin và làm theo mình bằng tình cảm, niềm tin.
Năng lực “cảm hóa” học sinh phụ thuộc vào một tổ hợp các phẩm chất nhân cách
người thầy giáo như tinh thần trách nhiệm dối với công việc, niềm tin vào sự nghiệp
chính nghĩa cũng như kĩ năng truyền đạt niềm tin đó, lòng tôn trọng học sinh cũng như
sự chu đáo và khéo léo đối xử của giáo viên, lòng vị tha và các phẩm chất của ý chí…
- Xây dựng năng lực cảm hóa học sinh bằng cách:
+ Biết phát hiện kịp thời và giải quyết khéo léo những vấn đề xảy ra bất ngờ,
không nóng vội, không thô bạo.
+ Biết biến cái bị động thành cái chủ động, giải quyết một cách mau lẹ các vấn đề
phức tạp đặt ra trong công tác dạy học và giáo dục.
+ Ngoài ra, người thầy giáo khéo léo ứng xử sư phạm thường quan tâm chu đáo
đến trẻ, hiểu được đặc điểm tâm lý của cá nhân học sinh, quang minh chính đại.
Kết luận sư phạm: Tài ứng xử sư phạm không gì khác hơn là một bộ phận của
nghệ thuật sư phạm. Cho nên, cơ sở hình thành nên nó cũng là do lương tâm nghề
nghiệp, niềm tin yêu và lòng tôn trọng người mà mình dạy dỗ và kinh nghiệp sư
phạm.
2.3. Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm
Người thầy giáo vừa là người tổ chức lao động cho cá nhân và tập thể học sinh
trong những điều kiện sư phạm khác nhau, vừa là hạt nhân để gắn học sinh thành một
tập thể, vừa là người tuyên truyền và liên kết, phối hợp các lực lượng giáo dục. Vì thế,
năng lực tổ chức hoạt động sư phạm là tất yêu cần có trong năng lực của người thầy
giáo.
Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm thể hiện ở:
+Tổ chức và cổ vũ học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau của công tác dạy
học và giáo dục ở trên lớp cũng như ngoài trường, trong nội khóa cũng như ngoại
khóa, cho từng học sinh cũng như cho tập thể của chúng.
+ Biết đoàn kết học sinh thành một tập thể thống nhất, lành mạnh có kỷ luật, có
nề nếp đảm bảo cho mọi hoạt động của lớp diễn ra một cách thuận lợi, biến tập thể học
sinh thành thầy giáo thứ hai.
+ Biết tổ chức và vận động nhân dân, cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội tham
gia vào sự nghiệp giáo dục theo một mục tiêu xác định.
Để làm được điều đó đòi hỏi người thầy giáo cần:
+ Biết vạch kế hoạch: Người giáo viên biết vạch kế hoạch thường suy nghĩ một
cách chín chắn, sâu sắc các tình huống giáo dục và đặc điểm đối tượng nên kế hoạch
vạch ra biết kết hợp yêu cầu trước mắt và lâu dài, đảm bảo tính nguyên tắc và tính linh
hoạt của kế hoạch, biết vạch ra kế hoặc đi đôi với kiểm tra để đánh giá kết quả và sẵn
chính) và uy tín giả (uy tín quyền uy).
Thứ nhất, là uy tín thực, uy tín chân chính được thể hiện như khái niệm trên. Với
uy tín đó, người thầy giáo thường xuyên tỏa ra một “hào quang” hấp dẫn và soi sáng
các em đi theo mình. Lúc đó, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói cho đến tinh thần lao động, lí
tưởng, nghề nghiệp... đều là những bài học sống đối với các em. Do đó, đối với nhiều
học sinh, người thầy giáo có uy tín đã trở thành hình tượng lí tưởng của cuộc đời các
em và các em mong muốn xây dựng cuộc sống của mình theo hình mẫu lí tưởng đó.
Khác với uy tín nói trên, là uy tín giả (uy tín quyền uy). Chẳng hạn có giáo viên
xây dựng uy tín cho mình bằng các thủ thuật giả tạo như: bằng cách trấn áp em cho
các em sợ hãi mà phải phục tùng mình, bằng cách khoe khoang, khoác lác về những
cái mà mình không có, bằng lối sống xuề xòa dễ dãi, vô nguyên tắc, bằng những biện
pháp nuông chiều học sinh... Có thể nói răng mọi ý đồ xây dựng uy tín bằng các thủ
thuật đó trước
Bởi thế, có lúc A.X.Macarenco đã khuyến cáo chúng ta: “Nếu bạn có những biểu
hiện huy hoàng nổi bật trong công tác, trong hiểu biết và trong thành tựu, lúc đó bạn
sẽ thấy mọi học sinh đều hướng về phía bạn. Trái lại, nếu bạn tỏ ra không có năng lực
và tầm thường thì dù bạn có ôn tồn đến đâu, hiền lành đến thế nào đi chăng nữa, dù
bạn có săn sóc đến sinh hoạt và nghỉ ngơi của học sinh như thế nào, ngoài việc bị học
sinh khinh thị ra, vĩnh viễn bạn sẽ không bao giờ được cái gì hết” (A.X. Macarenco
toàn tập. T1. NXB Viện HLKHGD nước CHLB Nga, 1957, tr.189). Tuy nhiên, cũng
không có gì đáng sợ cả. Vì, uy tín được toát lên từ toàn bộ cuộc sống của người thầy
giáo. Nó là kết quả của việc hoàn thiện nhân cách, là hiệu quả lao động đầy kiên trì và
giàu sáng tạo, là do sự kiến tạo quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò.
3.) Điều kiện hình thành uy tín ở người thầy
Muốn hình thành uy tín, người thầy phải có những điều kiện sau:
+ Thương yêu học sinh và tận tụy với nghề.
+ Công bằng trong đối xử (không thiên vị, không thành kiến, không cảm tính).
+ Phải có chí tiến thủ (có nguyện vọng tự phát triển, nhu cầu về mở rộng tri thức
và hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp).
được một điều lao động sư phạm có ý nghĩa rất lớn lao trong đời sống của xã hội loài
người, đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, kết luận sư phạm của việc tìm
hiểu những phẩm chất và năng lực sư phạm cần có của người giáo viên cho bản thân
tôi với tư cách là một giáo viên trong tương lai tôi cần phải có một phương hướng rèn
luyện nhân cách cho bản thân:
+ Không ngừng học tập, nâng cao tri thức;
+ Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp;
+ Tham gia nghiên cứu khoa học và phong trào rèn luyện NVSP thường xuyên;
+ Rèn luyện tư cách, tác phong, trau dồi ngôn ngữ.
Mặt khác, hiệu quả của giáo dục và dạy học phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của
người thầy giáo. Uy tín ấy không phải tự nhiên mà có, nó gắn chặt chẽ với nhân cách
người thầy. Người thầy giáo có uy tín có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm
của học sinh. Tôi nhớ câu nói của K.D.Usinxki rằng: “Trong việc giáo dục, tất cả phải
dựa vào nhân cách của người giáo dục, bởi vì sức mạnh của giáo dục chỉ bắt nguồn từ
nhân cách của con người mà có. Không một điều lệ, chương trình, không một cơ quan
giáo dục nào dù có được tạo ra một cách khôn khéo như thế nào cũng không thể thay
thế được nhân cách của con người trong sự nghiệp giáo dục. Không một sách giáo
khoa, một lời khuyên răn nào, một hình phạt. một khen thưởng nào có thể thay thế ảnh
15
hưởng cá nhân người thầy giáo đối với học sinh” (K.D.Usinxki. Toàn tập. Tập II, Nxb
Viện KHGD Nước CHLB Nga, 1948. tr.63). Như vậy, việc trau dồi nhân cách đối với
người thầy giáo là rõ ràng với tư cách sinh viên dưới mái trường sư phạm tôi cần biến
phương hướng rèn luyện trên thành những hành động cụ thể. Việc tìm hiểu chủ đề
những phẩm chất và năng lực sư phạm cần có của người giáo viên với tôi mang ý
nghĩa như vậy.
C. KẾT LUẬN
Trên đây, chúng ta đã phân tích toàn bộ cấu trúc nhân cách người thầy giáo, trong
đó có hai phần lớn: các phẩm chất và các năng lực. Bằng tổ hợp này, bằng nhân cách
hình thành và phát triển nhân cách là cả một quá trình tu dưỡng văn hóa và rèn luyện
tay nghề trong thực tiễn sư phạm. Nhân cách hoàn thiện và có sức sáng tạo sẽ tạo uy
tín chân chính của người thầy giáo. Chính vì vậy, trường sư phạm có nhiệm vụ xây
dựng nên những cơ sở trọng yếu để hình thành nhân cách người thầy giáo tương lai.
Thời gian học tập chuyên môn, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện tác phong của giáo sinh ở
16
trường sư phạm là cực kỳ quan trọng để tạo ra những tiền đề cần thiết kiến tạo nhân
cách. Và không chỉ với giáo sinh mà với mỗi người giáo viên luôn cần phải có phương
hướng rèn luyện nhân cách cho bản thân. Nhưng mặt khác nó cũng đặt ra cho xã hội
phải dành cho nhà giáo một vị trí tinh thần và sự ưu đãi vật chất xứng đáng, như Lê
nin đã từng mong ước “Chúng ta phải làm cho giáo.viên ở nước ta có một địa vị mà từ
trước dấn này họ chưa bao giờ có” (V.I. Lê nin, Bàn về giáo dục. NXBGD, HN.
Tr.23).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Thị Bừng (chủ biên), Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Đức Sơn, Các thuộc tính
tâm lý điển hình của nhân cách, NXB Đại học sư phạm, 2008.
[2] Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa
tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2007.
[3] GS.TS Bùi Văn Huệ, Giáo trình tâm lý học tiểu học, NXB Giáo dục, 2005.
[4] GS.TS Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), TS. Nguyễn Văn Lũy, TS. Đinh Văn
Vang, Giáo trình tâm lý học đại cương, NXB Đại học sư phạm, 2005.
[5] ThS. Lê Thị Phi (biên soạn), Đề cương bài giảng tâm lý học sư phạm, Đại học
sư phạm - ĐHĐN, 2008.
[6] Http://thuvienphapluat.vn/luật giáo dục 2005.
17