LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại Trường Đại Học Vinh đến nay, em đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các Thầy Cô trong khoa
Giáo dục và đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn QLGD. Cùng với tri thức
và tâm huyết của mình, thầy, cô đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho
chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt với sự hướng
dẫn tận tình của các Thầy Cô ở cơ sở thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô đã tận tâm hướng dẫn chúng em từ
cái nhỏ nhất trong cách học đến thảo luận về lĩnh vực sáng tạo trong
nghiên cứu khoa học. Kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ
ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn học
cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin kính chúc Thầy Cô thật dồi dào sức khỏe, niềm
tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức
cho thế hệ mai sau.
Xin chân thành cảm ơn!
1
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
SGK
TH
THPT
UBNN
XHCN
Viết đầy đủ
Cán bộ quản lý giáo dục
Chất lượng giáo dục
Công nghệ thông tin
Cơ sở vật chất sư phạm
Dân tộc nội trú
Giáo dục – Đào tạo
Giáo dục thường xuyên
Giáo viên
Hội cha mẹ học sinh
Học sinh
Hiệu trưởng
Quy định
Quản lý
Quản lí hành chính nhà nước
Sách giáo khoa
Tiểu học
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
2
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra một số giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm
chất và năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng trên cơ sở tìm hiểu thực tế tại
Trường nhằm nâng cao chất lượng toàn diện trong nhà Trường Tiểu Học
Nguyễn Bá Ngọc, Tỉnh Quảng Trị.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng phẩm chất và năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng
trường Tiểu Học Nguyễn Bá Ngọc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng
lực lãnh đạo của hiệu trưởng Tiểu Học Nguyễn Bá Ngọc.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và
năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
- Thực trạng về công tác quản lí hoaatj động bồi dưỡng nâng cao
phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn
Bá Ngọc.
- Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng
lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc giai đoạn
hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Triển khai thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp quản lý công
tác bồi dưỡng nêu trong đề tài, sẽ nâng cao nâng cao phẩm chất và năng
lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4
Việc nghiên cứu trên nếu áp dụng vào công tác đánh giá thi đua của cá
Chương I. Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao
phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học
Chương II. Thực trạng về công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng
cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học
Nguyễn Bá Ngọc
Chương III. Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm
chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá
Ngọc giai đoạn hiện nay
6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƯỠNG NÂNG CAO PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC
1.1.Cơ sở pháp lý
Căn cứ Thông tư số: 41/2010/TT – BGDĐT ngày 30/12/2010 Thông
tư ban hành điều lệ trường tiểu học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT;
Quán triệt tốt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về lĩnh
vực giáo dục và đào tạo, chỉ thi 40/ CT/TW “Về việc xây dựng chất lượng
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD” và “cuộc vân động
nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.
Tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị số: 40/2008/CT – BGDĐT ngày 22
tháng 7 năm 2008 “V/v phát động phong trào thi đua xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” với chủ đề năm học 2014-2015 được xác
định là tiếp tục thực hiện: “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất
lượng giáo dục”.
Tiếp tục triển khai thực hiện quyết định số: 16/2008/CT – BGDĐT
ngày 16 tháng 4 năm 2008 “ V/v ban hành qui định đạo đức nhà giáo”.
1.4.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.4.1.1. Quản lý
Quản lý là “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý”.
1.4.1.2. Quản lý giáo dục
QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt
tới kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất. QLGD được hiểu một
cách cụ thể là QL một hệ thống GD, một trường học, một cơ sở giáo dục
8
hay một trung tâm dạy nghề,…Trường học là một tổ chức GD cơ sở, trực
tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ và các lực lượng lao động.
1.4.2. Năng lực, năng lực quản lý
1.4.2.1. Năng lực
Năng lực là một trong những vấn đề của tâm lý học có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn to lớn trong chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân
lực của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Vậy năng lực là gì?
Theo A.G Kôvaliốp: “ Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những
thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và
đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”. [1]
Theo Thái Duy Tuyên: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý của
nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt
động nhất định. Năng lực có liên quan với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng
của kết quả hoạt động, ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt
động”. [34]
Theo Đỗ Hoàng Toàn: “Năng lực là những thuộc tính tâm lý của cá
những cơ chế bù trừ làm chủ thể quản lý hoàn thiện hơn.
Năng lực quản lý còn gọi là chất sám quản lý, trong xã hội hiện đại
nó được đánh giá rất cao - Là một trong năm yếu tố để phát triển một quốc
gia giàu mạnh, đó là: Lao động, công nghệ, tài nguyên, tiền vốn và chất
sám quản lý. Trong đó yếu tố chất sám quản lý (Năng lực quản lý) được
xem là yếu tố quan trọng hàng đầu.
10
Sơ đồ 4: Vị trí năng lực quản lý trong các yếu tố phát triển quốc
gia
Năng lực quản lý
Lao động
Công nghệ
Tài nguyên
Vốn
Trong lĩnh vực giáo dục, năng lực quản lý được thể hiện cụ thể bằng:
- Năng lực chuyên môn nghiệp vụ: Am hiểu quá trình GD-ĐT và tổ
chức điều khiển quá trình này đi đến mục tiêu đã xác định, trong phạm vi
chức trách và nhiệm vụ cụ thể của chủ thể quản lý.
- Năng lực tổ chức, hợp tác tập thể sư phạm, điều hành và kiểm tra
giám sát mọi hoạt động giáo dục.
- Năng lực giao tiếp ứng xử trước các tình huống sư phạm và các
trong một vật này khác với vật khác. Phẩm chất chỉ tính chất và đặc điểm
vốn có của sự vật. Khái niệm phẩm chất vừa có nghĩa hẹp vừa có nghĩa
rộng. Theo nghĩa hẹp, phẩm chất là khái niệm sinh lý học, chỉ đặc điểm sẵn
có của cơ thể như hệ thần kinh, các giác quan và cơ quan vận động. Đặc
12
điểm sẵn có là cơ sở tự nhiên để con người tiếp nhận những hiện tượng tâm
lý và thuộc tính tâm lý. Theo nghĩa rộng, phẩm chất chỉ các đặc điểm tâm
lý như: tính cách, ý chí, hứng thú, tính khí, phong cách của con người.
1.4.3.2. Phẩm chất lãnh đạo
Có thể hiểu phẩm chất của người lãnh đạo không chỉ là những đặc
trưng đơn giản có sẵn của sinh lý học mà là tổng hòa các yếu tố bên trong,
trên cơ sở các phẩm chất sinh lý, hình thành các phẩm chất tâm lý thông
qua hoạt động, quan hệ giao lưu trong thực tiễn đời sống và trong công tác
của người lãnh đạo.
1.4.4. Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực của hiệu trưởng
1.4.4.1.Bồi dưỡng
Bồi dưỡng là “Làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Bồi
dưỡng thực chất là nhằm làm giàu vốn kiến thức, nâng cao hiệu quả lao
động từ việc bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ
sở “nuôi dưỡng”, “giữ gìn” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ
thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ.
1.4.4.2. Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo
Một là, người lãnh đạo, quản lý không nhất thiết phải có kiến thức quá
sâu về các lĩnh vực (điều này đã có cán bộ, chuyên gia bổ khuyết), nhưng
cũng cần phải nắm được những kiến thức cơ bản trên các lĩnh vực; đặc biệt
phải kiến thức về chính trị, kinh tế, xã hội, kiến thức về cuộc sống thực tế.
Hai là, người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng nhìn xa thấy rộng, nhạy
bén với cái mới, cũng như những chuyển biến thuận chiều, ngược chiều, có
thể lúc nào cũng đúng, nếu không cầu thị, không nhận biết sai sót, khuyết
điểm của mình thì dễ dẫn đến hỏng việc và vi phạm
Tám là, người lãnh đạo, quản lý phải có tâm đức, trung thành, chân
thật; theo triết lý phương Đông thì cái gốc là “Đức”, người không có đức
giữ vai trò lãnh đạo có thể phá hoại sự nghiệp, mất điều khiển, do vậy,
người lãnh đạo, quản lý trước hết phải trung thành tuyệt đối với Đảng, với
nhân dân, trung thực phản ánh với cấp trên những việc thực tế, không nói
thêm, không cường điệu, truyền đạt với cấp dưới phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ
14
làm, để mọi người tổ chức thực hiện có hiệu quả, tránh sự sợ hãi cấp trên
rồi làm dối, nói dối, dẫn đến vi phạm pháp luật.
Chín là, người lãnh đạo, quản lý phải nhiệt huyết và biết truyền nhiệt
huyết cho cấp dưới, để mọi người thực sự hăng hái, vui vẻ làm việc, cái
nhiệt huyết đó được thể hiện vì sự nghiệp chung, không vì một động cơ
nào khác; người lãnh đạo, quản lý nói hay nhưng hành động khác thì mọi
người sẽ biết ngay, không thể che lấp được, khi đó không ai dám nói nhưng
rồi đến một lúc nào đó sẽ bị phơi bày những tư tưởng cá nhân, khi đó sẽ
nguy hại cho bản thân. Đồng thời người lãnh, quản lý phải biết mình, biết
mọi người, đừng vì mình quá mà xem thường người khác, hoặc việc của
mình thì cho là quan trọng, việc người khác thì xem thường, bỏ qua, dẫn
đến sai lầm của người lãnh đạo, quản lý.
Mười là, người lãnh đạo, quản lý phải luôn giữ vững nguyên tắc lãnh
đạo, thực hiện nghiêm túc các quy định của tập thể, không được tùy tiện
thay đổi, làm khác khi không được tập thể đồng thuận; phải rất kiêng kỵ,
tránh xa điều này.
Mười một là, người lãnh đạo, quản lý phải hiểu biết cán bộ, cân nhắc
cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ. “Muốn hiểu biết cán bộ, trước
hết phải biết mình, nếu mình tự cao, tự đại, ưa nịnh, lấy lòng yêu ghét, chủ
thức và phương pháp làm việc, phương pháp quản lí.
Đối với cán bộ đương chức thì việc đào tạo, bồi dưỡng là yêu cầu tất
yếu. Phải kết hợp vừa bồi dưỡng tập trung theo kế hoạch và tự bồi dưỡng,
trong đó coi trọng việc tự bồi dưỡng là điều kiện tốt nhất để nâng cao phẩm
chất, năng lực. Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, định kì theo hình
thức tập trung, tại chức, tự bồi dưỡng, trao đổi kinh nghiệm. Đa dạng hoá
hình thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.
Đối với CBQL trong quy hoạch thì công tác đào tạo, bồi dưỡng trước
và sau quy hoạch đều có ý nghĩa quan trọng. Trước quy hoạch, việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ để tạo nguồn đưa vào quy hoạch. Trình độ cán bộ
được đào tạo càng cao thì nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch càng phong
phú và có chất lượng. Không có nguồn cán bộ đã được đào tạo sẽ phải quy
16
hoạch gượng ép hoặc làm một cách hình thức. Sau quy hoạch, việc đào tạo,
bồi dưỡng có vai trò quyết định kết quả thực hiện quy hoạch. Xây dựng
xong quy hoạch mới là bước khởi đầu, sau đó sẽ là một quá trình phải đào
tạo, bồi dưỡng, thử thách, rèn luyện đối với cán bộ trong quy hoạch. Vì
vậy, khi tiến hành quy hoạch cán bộ hàng năm, cần lựa chọn những giáo
viên có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết với nghề
nghiệp, thời gian công tác trong ngành ít nhất 5 năm trở lên, có tinh thần
cống hiến, có uy tín trong cán bộ, giáo viên. Việc đào tạo bồi dưỡng phải
gắn với bố trí, sử dụng cán bộ sau đào tạo bồi dưỡng.
1.4.4.4.Tính tất yếu phải tăng cường bồi dưỡng năng lực quản lý cho
đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Loài người đang bước vào kỷ nguyên mới với đặc trưng nổi bật nhất
của cuộc cách mạng công nghệ so với cuộc cách mạng công nghiệp trước
đây là vấn đề đưa yếu tố thông tin và tri thức là yếu tố quan trọng nhất,
đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế xã hội.
của trường tiểu học” Jean Valerien có ghi ý kiến của UNESCO như sau:
“Tiểu học không cần phải bàn cải gì nữa, là cấp đào tạo chính để cung
cấp nền giáo dục cơ bản mà mọi trẻ em có quyền được hưởng”.
Giáo sư Phạm Tất Dong đã từng khẳng định “ Giáo dục tiểu học là
một bộ phận nền tảng để trên đó chúng ta xây dựng tòa nhà học vấn cho
toàn dân”.
Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, thực hiện
trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5. Bậc học này nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, trí tuệ, thể chất thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
THCS.
Đối với mỗi con người trong qúa trình trưởng thành, trường tiểu học là
nơi con người chính thức được tổ chức học tập, rèn luyện một cách “ chính
18
quy” nghiêm túc nhất. Trường tiểu học lần đầu tiên tác động đến trẻ em
bằng phương pháp nhà trường (bao gồm cả nội dung, phương pháp và tổ
chức giáo dục) nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập với
tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em, nơi diễn ra cuộc sống thực
của trẻ em và là nơi tạo cho trẻ em có hạnh phúc đi học.
Như vậy, với tư cách là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc
dân, giáo dục tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây
dựng toàn bộ nền móng không những chỉ đạo cho giáo dục phổ thông mà
còn cho cả sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Điều 3 – Luật Phổ cập giáo dục tiểu học quy định mục tiêu giáo dục
tiểu học là: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kĩ
năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần tiết về thiên nhiên, xã
hội, con người, có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh
chị em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn bè,
và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
1.6. Người hiệu trưởng trong nhà trường tiểu học
1.6.1. Vai trò của người hiệu trưởng
Hiệu trưởng trườngTiểu học Hiệu trưởng trường Tiểu học là người
chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng GD của nhà
trường. Hiệu trưởng do Trưởng phòng GD&ĐT bổ nhiệm đối với trường
Tiểu học công lập, công nhận đối với trường Tiểu học tư thục theo quy
trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền.
Hiệu quả giáo dục, đào tạo của nhà trường nói chung phụ thuộc vào
các yếu tố chủ yếu sau đây:
+ Đội ngũ giáo viên, công nhân viên.
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học.
+Trình độ giáo dục ( đầu vào) của học sinh.
+ Tổ chức quản lí trường học đứng đầu là hiệu trưởng.
Khi xác định vai trò, vị trí của người hiệu trưởng – người được giao
quyền hạn và nhiệm vụ lớn lao đối với hoạt động quản lí nhà trường, luật
giáo dục ban hành năm 2005 ở điều 54 khoản I quy định “ HT là người
20
chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”.
Nhà trường thực hiện được mục tiêu nhiệm vụ của mình hay không
một phần quyết định là phụ thuộc vào những phẩm chất và năng lực của
người hiệu trưởng. Trong những hoàn cảnh thực tiễn gần nhau, có trường
với hiệu trưởng giỏi đã trở thành trường tiên tiến, đạt nhiều thành tích về
dạy học và giáo dục; nhưng với hiệu trưởng kém thì trường không phát
triển, chất lượng dạy học và giáo dục thấp. Vai trò tổ chức, quản lí của
hiệu trưởng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mọi hoạt động của nhà
trường.
1.6.2.1. Lập kế hoạch
Là tập hợp các MTGD có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau bởi
MTGD chung và hệ thống các biện pháp thích hợp, được xây dựng trước
cho một giai đoạn nhất định, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đã được
xác định, là chương trình hoạt động của tập thể sư phạm, được xây dựng
trên cơ sở những nhiệm vụ giáo dục đã được xác định, là chương trình hoạt
động của tập thể sư phạm, được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ giáo
dục đã được xác định, là chương trình hành động của tập thể thể sư phạm,
được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ chung của nhà trường, những
chỉ thị của Đảng, Nhà nước về Giáo dục – Đào tạo được vận dụng vào điều
kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm của nhà trường.
Điều quan trọng nhất trong lập kế hoạch là xác định đúng đắn các mục
tiêu , nhiệm vụ cụ thể của nhà trường trong năm học, trên cơ sở đó soạn
thảo ra các quyết định quản lí để các mục tiêu, nhiệm vụ đó từng bước
được thực hiện trong từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể.
Giai đoạn đầu của lập kế hoạch có ý nghĩa quan trọng và mất nhiều
thời gian, công sức vì phải tổng hợp, nghiên cứu tư liệu của năm học trước,
phải phân tích một cách khoa học các mặt thành công cũng như tìm ra
nguyên nhân của những mặt còn yếu kém. Trên cơ sở mục tiêu đã hoạch
định, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn, thông tư, chỉ thị, kế hoạch của
22
cấp trên, đồng thời tiến hành xử lí một cách khoa học hệ thống các thông
tin về thực tế nhà trường , về đội ngũ giáo, học sinh, điều kiện CSVC, về
thực trạng kinh tế – xã hội của địa phương đưa ra thảo luận trong bộ máy
lãnh đạo nhà trường để có sự thống nhất cao trong thực hiện.
Giai đoạn 2 là lập kế hoạch về từng bộ phận công tác của nhà trường,
bao gồm các yếu tố chuyên môn, các bộ phận tham mưu, các tổ chức đoàn
thể (công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên) trong trường. Hiệu trưởng
bộ về mọi phương diện, chủ động và sáng tạo trong tập hợp, xử lý các
nguồn thông tin một cách chính xác, kịp thời, để điều chỉnh trong quá trình
quản lí, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Trong quản lý trường học, rất nhiều tình huống có thể xảy ra từ nhiều
nguyên nhân đòi hỏi sự chỉ đạo, lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén, sâu sắc, kịp
thời của người hiệu trưởng.
- Kiểm tra.
Chức năng cơ bản của hiệu trưởng trường tiểu học là kiểm tra toàn
diện các hoạt động sư phạm diễn ra trong trường do mình phụ trách, phải
lấy các mục tiêu trong kế hoạch, mục đích cuối cùng của giáo dục làm tiêu
chí để đánh giá các khâu hoạt động. Hiệu trưởng căn cứ vào kết quả kiểm
tra cụ thể mà đánh giá từng khâu cho tới toàn bộ hoạt động giáo dục trong
nhà trường, kịp thời phát hiện những điểm sai lệch cần điều chỉnh để có
biện pháp phù hợp, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Phương pháp tiến
hành kiểm tra cần thiết thực, phù hợp và hiệu quả.
Các chức năng quản lý của hiệu trưởng có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau, phối hợp với nhau, bổ sung cho nhau cùng thực hiện một chức năng
chung là quản lý tốt hoạt động của nhà trường.
1.6.3.Nhiệm vụ của người hiệu trưởng
Điều 18 của Điều lệ trường Tiểu học xác định rõ: Hiệu trưởng trường
tiểu học có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học.
24
- Tổ chức bộ máy của trường: Thành lập và căn cứ các tổ trưởng chuyên
môn, tổ hành chính – quản trị, thành lập và cử chủ tịch các hội đồng trong
nhà trường.
- Phân công, quản lý, kiểm tra công tác của giáo viên, nhân viên; đề nghị