Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
LỜI MỞ ĐẦU
Cái đẹp hiện hữu ở khắp mọi nơi quanh chúng ta nó có trong thiên nhiên, trong
xã hội, trong nghệ thuật và được thể hiện qua nhiều hình thức: đó là những kết cấu
hài hoà về vật chất, về màu sắc, ánh sáng, âm thanh, cái đẹp về tâm hồn, về nhân
cách từ đó phát triển thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt sắc. Tuy nhiên, trong cuộc
sống nhiều người vẫn hay lầm tưởng trong một suy nghĩ hạn hẹp rằng cái đẹp chỉ
được biểu hiện trong những bức tranh, hay trong những cảnh vật trước mắt mà quên
đi một điều cái đẹp còn có trong cả xã hội. Nguyên nhân của sự thiếu sót đó là do
chưa tìm hiểu một cách kĩ lưỡng về khái niệm cũng như bản chất của cái đẹp, từ đó
đã không thể thấy được hết biểu hiện của cái trong từng lĩnh vực. Chính vì lí do đó
nên em quyết định chọn đề tài “Bàn về phạm trù "cái đẹp" và ý nghĩa của nó trong
đời sống tinh thần của sinh viên hiện nay “ để đưa ra những phân tích đánh giá và
cả những ví dụ trong thực tế để từ đó có thể giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về phạm
trù này.
NỘI DUNG CHÍNH
I.
1.
Bản chất của cái đẹp
Khái niệm cái đẹp
Trên thế giới có rất nhiều các quan điểm khác nhau về cái đẹp, nhưng trên góc
độ của bộ môn chúng ta đang theo học chúng ta có thể hiểu ở một số khía cạnh sau:
Cái đẹp là phạm trù chỉ những giá trị thẩm mĩ tồn tại khắp mọi nơi:
trong thiên nhiên, trong xã hội, ở con người, trong những sản phẩm vật chất và tinh
thần của con người và cả trong nghệ thuật.. Nó được biểu hiện dưới hình thức cảm
tính, đồng thời xác định giá trị thẩm mỹ của đối tượng theo quan điểm về sự hoàn
thiện, xem chúng là các hiện tượng có giá trị thẩm mỹ cao nhất . Cái đẹp tổng thể bao
1|Page
cứu về cái đẹp:
2|Page
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Thứ nhất, mỹ học duy tâm khách quan đều coi nguồn gốc của cái đẹp ở “thế
giới ý niệm” (Platông) hay “ý niệm tuyệt đối” (Hêghen), - đó là cái từ thế giới thuần
túy trừu tượng bên ngoài sự vật, truyền tính thẩm mỹ vào các sự vật chứ không có cơ
sở khách quan. Cái đẹp không phải là thuộc tính của vật chất mà là thuộc tính của
tinh thần có trước và quyết định tính thẩm mỹ của hiện thực.
Platông coi cái đẹp thuộc về thế giới tinh thần, nó tồn tại ở thế giới giới ý niệm
và chi phối cái đẹp trong tất cả các sự vật cảm tính. Platông đã nêu hai vấn đề của cái
đẹp: cái đẹp là gì và cái gì là đẹp? Theo quan điểm của Platông cái đẹp là một ý
niệm có sẵn, nó sản sinh ra cái đẹp của mọi sự vật và soi sáng cái đẹp nơi tâm hồn
con người. Cái đẹp tồn tại vĩnh cửu, nó không bị hủy diệt, không tăng không giảm,
nó không đẹp ở chỗ này mà xấu ở chỗ khác.
Ở một hình thức khác, Hêghen cho rằng “ý niệm tuyệt đối” vận động đến một
trình độ nào đó thì nảy sinh cái đẹp (cái đẹp trong nghệ thuật). Cái đẹp chính là sự thể
hiện đầy đủ của ý niệm trong một một sinh thể riêng lẻ, rằng cần phải loại bỏ cái đẹp
trong tự nhiên và nếu có cái đẹp trong tự nhiên thì nó chỉ là sự phản ánh cái đẹp tinh
thần.
Thứ hai, mỹ học duy tâm chủ quan cho rằng cái đẹp phụ thuộc vào ý thức chủ
quan của con người mà cụ thể hơn là ý thức chủ quan của mỗi cá nhân sản sinh ra cái
đẹp. Trong quá trình cảm thụ thẩm mỹ của các hiện tượng, sự vật cảm tính, con người
mang tính thẩm mỹ truyền vào nó và làm cho nó trở nên đẹp.
Một trong những đại diện tiêu biểu của mỹ học duy tâm chủ quan là Cantơ.
Theo Cantơ, vấn đề chủ yếu không phải cái gì là cái đẹp, mà phán đoán về cái đẹp là
gì. Phán đoán về cái đẹp là phán đoán về thị hiếu, không phải là sự phán đoán về
nhận thức, phán đoán về lôgíc mà phán đoán là tình cảm chủ quan. Phán đoán thị
mặc dù ông có cho rằng con người và cuộc sống của con người là tiêu chuẩn cao nhất
của cái đẹp, nhưng ông nhìn con người một cách chung chung, phi lịch sử, và không
đánh giá đúng vai trò của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên – xã hội và chính
bản thân con người.
4|Page
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Các nhà mỹ học duy vật trước XIX đã tách rời tính lịch sử cụ thể của các hiện
tượng thẩm mỹ của cái đẹp khi họ đi tìm bản chất của cái đẹp ở mối quan hệ nội tại
giữa các yếu tố, các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tượng trong khi lẽ ra phải tìm
cái đẹp, cũng như mọi hiện tượng thẩm mỹ khác, ở mối quan hệ giữa các sự vật, hiện
tượng với xã hội.
Trước khi có loài người, thì đã có sự tồn tại khách quan của các sự vật, hiện
tượng, hệ thống vật chất trong tính vô tận và vĩnh viễn của nó. Tất cả các hiện tượng
tự nhiên ấy đều có những thuộc tính đa dạng, phong phú và chúng không phải vì có
loài người hay không có loài người mà thay đổi cấu trúc tự nhiên của nó.
Trải qua một quá trình lâu dài, thông qua lao động con người phát hiện ra
những thuộc tính thẩm mỹ của sự vật hiện tượng và đồng hoá các thuộc tính ấy trong
đời sống thẩm mỹ. Sự đồng hoá này không chỉ giới hạn ở sự chiêm nguỡng mà còn
bao hàm cả sự sáng tạo thẩm mỹ nói chung của con người.
Thứ tư, mỹ học hiện đại, nhất là quan điểm mácxít đã khắc phục được những
thiếu sót trong những quan điểm siêu hình của tư tưởng mỹ học duy vật trước đó; đồng
thời cũng phê phán những quan điểm không đúng của mỹ học duy tâm về cái đẹp. Ý
nghĩa cách mạng trong quan niệm của mỹ học hiện đại là đã khẳng định bản chất của
cái đẹp trong tính biện chứng và lịch sử – xã hội của nó. Theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác –lênin thì: cái đẹp là nhu cầu tinh thần cô hạn của con người( còn nhu cầu vật
chất thì có hạn).Cái đẹp là một hiện tường vô cùng phức tạp và đa dạng. Nó là một
lĩnh vực tinh thần và tình cảm dù nó tồn tại dưới dạng vật chất hay tinh thần. Cái đẹp
là một loại giá trị giúp con người đánh giá thế giới và bản thân mình. Cái đẹp là nhu
độ khác nhau. Sự phong phú, đa dạng của cái đẹp cũng biểu hiện ở chỗ các quan
niệm về cái đẹp mang tính nhân dân, dân tộc, nhân loại. Chính sự khác nhau về nhân
dân, dân tộc, nhân loại mà cái đẹp dược hiểu hết sức phong phú và đa dạng.
- Tính nhân dân: cái đẹp phải phục vụ đại đa số nhân dân lao động. Ví dụ:
Chèo- Miền Bắc; Tuồng- Miền Trung; Cải lương- Miền Nam; nhạc thính phòng, giao
hưởng- Đô thị, thành phố lớn…
- Tính dân tộc: Cái đẹp mang đậm đà bản sắc dân tộc- đa nhân loại có thể phân
biệt anh là ai, thuộc dân tộc nào. Cái đẹp mang đậm chân dung diện mạo dân tộc. Ví
dụ: Bản sắc dân tộc Việt Nam là tuồng, chèo, ca trù.
- Tính nhân loại: Cái đẹp của từng dân tộc cộng lại- cái đẹp của nhân loại.
5. Nội dung của cái đẹp
7|Page
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Trong đời sống, ở đâu cái đẹp cũng làm chuẩn cho các giá trị. Nó giữ vị trí trung
tâm điều tiết cuộc sống, nó là nhu cầu sống, là hạnh phúc, là ước mơ cho mọi người.
Trong lĩnh vực nghệ thuật, cái đẹp là linh hồn sống của nghệ thuật. Công chúng
đến với nghệ thuật để nghệ thuật mách bảo con đường chiếm lĩnh cái đẹp.
Cái đẹp rất phong phú và đa dạng. Nó biểu hiện đa dạng trong thế giới tự nhiên
cũng như trong thế giới con người.
II. Các lĩnh vực biểu hiện của cái đẹp
1.Cái đẹp trong tự nhiên
Vẻ đẹp thiên nhiên là thước đo đầu tiên của vẻ đẹp trong đời sống và trong nghệ
thuật. Cái đẹp trong tự nhiên là cái đẹp do tạo hoá sinh ra, tồn tại một cách khách
quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Đó là những cái đẹp
thuộc về thế giới vô sinh như sông, núi, biển…
2. Cái đẹp trong xã hội
Cái đẹp trong xã hội là kết quả của hoạt động thực tiễn của con người. Cái đẹp
bộc lộ trong những cái bình thường nhất, từ những vật dụng nhỏ đến những công
trình đồ sộ. Đó là những sản phẩm do bàn tay và khối óc của con người làm ra theo
thước đo của sự hoàn thiện và tính lí tưởng.
10 | P a g e
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Hình ảnh: Tháp nghiêng Pisa
Cái đẹp cũng có mặt trong các hoạt động đa dạng của con người từ vui chơi
giải trí cho tới các hoạt động lao động sản xuất, đấu tranh xã hội và các mối quan hệ
xã hội phức tạp khác của con người.
Hình ảnh đẹp về lao động sản xuất
11 | P a g e
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Cái đẹp được thể hiện trong văn hóa ứng xử - chính là lối sống, lối sống suy
nghĩ, lối hoạt động. Là triết lý sống của con người với tự nhiên và xã hội trong một
phạm vi nhỏ gia đình (vi mô) tới phạm vi lớn- xã hội, cơ quan, đoàn thể (vĩ mô). Văn
hóa ứng xử của cuộc sống. Bản chất là chữ tâm và chữ nhẫn.Cái đẹp hết sức bình dị
bởi nó luôn tồn tại trong cuộc sống của của chúng ta.
Văn hóa giao tiếp
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Những tác phẩm văn học của Shakespeare, V.Huygo, Pushkin, L.tolstoi, Balza…là
những minh chứng hùng hồn cho lời khẳng định của nghệ sĩ Xerop… “Thời gian
đành phải bất lực trước cái đẹp chân chính trong nghệ thuật.”
Bức hoạ nàng monarliza- cái đẹp đi cùng năm tháng
14 | P a g e
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Kim tự tháp Ai Cập sống mãi với thời gian
Một đặc điểm khác làm cho cái đẹp trong nghệ thuật không đồng nhất với cái
đẹp trong tự nhiên và cũng khác cái đẹp trong sản phẩm do con người làm ra- đó là
tính biểu cảm của cái đẹp trong nghệ thuật.
Khi miêu tả cái đẹp của tự nhiên, người nghệ sĩ đã thổi hồn mình vào đối tượng,
làm cho cái đẹp khi được mô tả, tái hiện thì cũng gắn liền với nó là một thái độ, một
cảm xúc tình cảm của người nghệ sĩ.
Mặt khác, cái đẹp trong nghệ thuật là sự thống nhất giữa 2 mặt nội dung và
hình thức. Nội dung đẹp là nội dung của lí tưởng sống phải được chiếu sáng 1 cách
sâu sắc và lấp lánh, có thể xâm nhập đến tận cùng của tâm hồn con người, góp phần
định hướng hành động của con người. Còn hình thức đẹp là hình thái tổ hợp cấu trúc
và vật chất cái bản chất bên trong của nội dung bằng một ngoại hình có sức cuốn hút
mỹ cảm. Do vậy, bất cứ một yếu tố nào của hình thức cũng liên quan đến nội dung,
đều nhằm biểu hiện một mặt nội dung nào đó. Một gam màu trong hội họa, một âm
thanh trong nhạc, một từ ngữ trong văn học…đều gắn liền với chức năng biểu hiện
15 | P a g e
những quan niệm cụ thể về nó rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau đối với những
trường phái mỹ học khác nhau. Song có một điều chúng ta không thể phủ nhận là:
Bao giờ cái đẹp cũng được coi là tiêu chuẩn quan trọng nhất, phổ biến nhất, là điểm
tựa trung tâm để con người đánh giá đời sống về mặt thẩm mỹ.
Với tư cách là chủ thể thẩm mỹ con người luôn đi tìm cái đẹp, khám phá cái đẹp
và cao hơn là sáng tạo ra cái đẹp. Bởi vậy, con người cũng đánh giá các sự vật và hiện
tượng xung quanh mình theo tiêu chí đẹp hoặc không đẹp…Đánh giá một con người
tốt hay xấu, một hành động cao cả hoặc đớn hèn. Người ta cũng dựa vào cái đẹp và các
tiêu chuẩn xã hội của nó. Đặc biệt, đối với một tác phẩm nghệ thuật, cái đẹp chính là lí
do sống còn của nó. Nhu cầu cái đẹp của con người là vô tận, khát khao vươn tới cái
đẹp của con người là không cùng. Dù nhu cầu đó là chủ yếu hay thứ yếu, nhưng hầu
như không thể thiếu.
Cũng trong quan hệ thẩm mỹ nhưng xét từ góc độ khách thể, các phạm trù thẩm
mỹ như cái bi, cái hài, cái trác tuyệt đều ẩn chứa trong đó mối quan hệ với cái đẹp, dù
là trực tiếp hay gián tiếp. Cái bi không thể không liên quan đến cái đẹp bởi cái bi chân
chính chỉ gắn liền với sự bất hạnh, mất mát, tiêu vong của những nhân vật mang trong
mình những lí tưởng đẹp đẽ, những khát vọng chân chính. Bởi vậy, thực chất của cái bi
chính là sự mất mát, tiêu vong của cái đẹp, cái lý tưởng. Quan hệ giưac cái đẹp và cái
17 | P a g e
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
hài tỏ ra gián tiếp hơn, nhưng từ trong bản chất của nó, cái hài không thể liên quan tới
cái đẹp. Cái hài đó chính là những cái xấu, nhưng lại đội lốt cái đẹp, được che đậy,
giấu giếm, ngộ nhận bằng hình thức của cái đẹp và khi bị lộ tẩy, bị soi chiếu bởi chính
cái đẹp thì nó trở thành cái hài.
So với cái bi và cái hài thì cái trác tuyệt là phạm trù liên quan trực tiếp và gần gũi
nhất với cái đẹp. Cái trác tuyệt đó là cái đẹp ở mức tuyệt đỉnh; là cái đẹp mang một
tầm vóc lớn lao, phi thường; là cái đẹp quá mức bình thường. Như vậy, ở mức độ này
hay mức độ khác thì cái đẹp đều liên quan, chi phối đến các phạm trù khác, nó được
cũng có sự cách điệu cho phù hợp với phong cách của giới trẻ, nhưng không quá lố
bịch, kệch cỡm; họ có những hành vi ứng xử tốt thể hiện lối sống có văn hóa.
19 | P a g e
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Sinh viên rạng ngời với áo dài Việt Nam
Đưa cụ già qua đường
Cái đẹp trong lối sống của sinh viên ngày nay là họ đã tham gia tích cực các
phong trào xã hội để góp phần cống hiến cho xã hội: tham gia các hoạt động tình
nguyện, tiếp sức mùa thi, mùa hè xanh, vận động hiến máu…
20 | P a g e
Đỗ Thị Thanh Tuyết – MSSV 360553
Học tập đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa tốt, lối
sống lành mạnh. Hầu hết sinh viên đã thể hiện sự năng động, sáng tạo, ham học hỏi.
Điều này được minh chứng ở các điểm sau: trình độ học vấn, mong muốn được đi học,
ý chí tự lực tự cường, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, nỗ lực vươn lên trong cuộc
sống là xu hướng ngày càng được khẳng định trong lớp trẻ.
Lối sống đẹp của sinh viên còn được thể hiện trong lao động. Hầu hết sinh viên
đều rất quan tâm đến các vấn đề: tìm việc làm, mong muốn có việc làm phù hợp, có thu
nhập đảm bảo được cuộc sống của bản thân và gia đình sau khi ra trường.