MỞ ĐẦU
Trẻ em là tương lai của đất nước. Để tương lai của đất nước tốt đẹp, trẻ em cần
được sống trong một môi trường phát triển lành mạnh, để các ưm được phát triển lành
mạnh, đế các em được phát triển một cách bình thường và hài hòa về cả vật chất,tinh
thần và trí tuệ. Do vậy, trẻ em cần được gia đình, nhà trường , xã hội quan tâm, chăm
sóc, yêu thương, đây là trách nhiệm của những chủ thể này, mà trước tiên là trách
nhiệm của bậc cha mẹ. Xuất phát từ quan điểm này, pháp luật quốc tế đã có những văn
bản quy định về việc bảo vệ quyền trẻ em mà trực tiếp lá công ước quốc tế về quyền
trẻ em, trên cơ sở đó các văn bản pháp luật trong nước như luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000; luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và những văn bản khác
đã có những quy định về bảo vệ quyền trẻ em. Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng những
quy định này vào thực tiễn còn nhiều vấn đề khó khan, trẻ em chưa được bảo vệ một
cách tốt nhất, quyền trẻ em còn bị vi phạm, nhất là trong xã hội, còn có những trẻ em
kém may mắn, cha mẹ chúng vì lợi ích vật chất mà quên mất nghĩa vụ làm cha, làm mẹ
của mình, vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ đối với con cái họ, nhất là đối với con
chưa thành niên.
Vì vậy, để trẻ em nói chung và con chưa thành niên nói riêng được bảo vệ tốt
nhất thì những hành vi xâm phạm đến quyền lợi cảu các em cần được xem xét, để có
biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời. Trên cơ sở đó, Luật HN&GĐ năm 2000 đã kế
thừa quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 về hạn chế quyền của cha mẹ đối với con
chưa thành niên, đồng thời có làm rõ hơn và mở rộng hơn một số trường hợp. Vậy việc
áp dụng quy định này và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em được thực hiện như thế nào.Bài
viết sau đây sẽ đi tìm hiểu vấn đề này.
NỘI DUNG
I. Áp dụng quy định về hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên
1. Quy định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên trong Luật
HN&GĐ.
Theo Điều 34 Luật HN&GĐ 2000 quy định: cha mẹ có nghĩa vụ và quyền
thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con;
tôn trọng ý kiến của con chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh
đối với con, làm cho con bị rơi vào tình trạng nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng,
danh dự, nhân phẩm, hay không có một môi trường sống an toàn ảnh hưởng đến sự
phát triển bình thường của con.
Thứ ba: cha mẹ có hành vi phá hoại tài sản của con. Pháp luật nước ta công
nhận con có quyền có tài sản riêng, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì tài sản của
con dưới 15 tuổi do cha mẹ quản lý, như vậy cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ khối tài sản
của con, không được phá tài sản của con, cha mẹ không có quyền định đoạt tài sản của
con, nhưng hiện nay có vướng mắc với quy định này là như khi tài sản của cha mẹ
không đủ thì phải lấy tài sản của con để đảm bảo cho những nhu cầu thiết yếu của gia
đình và nhu cầu của con, vậy khi đó có được coi là phá tán tài sản hay không? Hay cha
mẹ dung tài sản của con vào đầu tư kinh doanh nhưng chẳng may bị phá sản, bị mất,
vậy có được coi là phá tán hay không:…Và vô số những trường hợp khác nữa. Vì vậy
nên coi trường hợp cha mẹ phá tán tài sản của con là việc cha mẹ dung tài sản của con
để đánh bạc, ăn chơi, không dùng vào nhu cầu chung cho gia đình và dùng vào những
mục đích không tốt khác.
Thứ tư: cha mẹ có lối sống đồi trụy, xúi giục, ép buộc con làm những việc tría
pháp luật, trái đạo đức xã hội. Cha mẹ có nghĩa vụ tạo cho con có một môi trường sống
lành mạnh và cha mẹ phải là những tấm gương sáng để con phát triển tốt về thể chất,
trí tuệ và đạo đức, nếu cha mẹ có lối sống đồi trụy, tức là cha mẹ đã tạo ra một môi
trường sống không lành mạnh, do vậy sẽ ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bình thường
của con, nhất là về đạo đức và tinh thần. Tuy nhiên rất khó để xem cha mẹ có lối sống
nào là lối sống đồi trụy để hạn chế quyền của cha mẹ. Ngoài ra, nếu cha mẹ xúi giục,
ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội cũng là một căn cứ hạn
chế quyền, đây là một hiện tượng xuất hiện nhiều trong những năm gần đây như ép và
lôi kéo con vào việc buôn bán ma túy, ép hay bao che cho con ăm trộm hay lôi kéo con
vào việc gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe cho người khác, ép con bán dâm… Đó là
một hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của cha mẹ, cha mẹ đã không bảo vệ con
mà còn tạo cho con hình thành nhân cách không tốt, ảnh hưởng tới trật tự công cộng.
trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp
luật cho con, tùy theo tùng mức độ vi phạm và tùy từng trường hợp mà thời hạn bị hạn
chế quyền này kéo dài từ 1 năm đến 5 năm. Việc chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con,
quản lý tài sản riêng của con và đại diện pháp luật cho con sẽ do người cha, hoặc người
mẹ không bị hạn chế thực hiện, nếu cả hai cha mẹ cùng bị hạn chế thì người thực hiện
những công việc này là do người giám hộ cho con thực hiện, việc cử giám hộ cho con
theo quy định của Bộ luật dân sự. Khi cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con thì những
người đó vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con tức là vẫn phải đảm bảo và cung
cấp cho con những nhu cầu vật chất.
4. Thực tiễn áp dụng quy định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành
niên:
Hiện nay, rất nhiều trẻ em bị những hành vi vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng xâm
phạm quyền của mình, nhưng bộ phân lớn xã hội coi đó là chuyện bình thường của gia
đình, cho đến khi có nhiều trường hợp cha, mẹ có hành vi bạo lực về tinh thần cũng
như về thể chất với con, ép buộc con làm những việc trái pháp luật mà được báo chí
đưa tin và vấn dề này đã trở nên báo động thì các cơ quan chức năng mới giật mình và
đặt ra câu hỏi làm gì với những bậc cha mẹ để bảo vệ các em, mặc dù trong Luật
HN&GĐ 2000 có hẳn các quy dịnh về việc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa
thành niên. Nhưng thực tế từ khi Luật 2000 có hiệu lực cho đến nay thì trường hợp cha
mẹ bị xử lý hạn chế quyền đối với con là rất ít so với các trường hợp trong thực tiễn, và
việc áp dụng quy định này còn rất lung túng, cụ thể như sau:
Thứ nhât: các chủ thể có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha mẹ, cũng
như những cơ quan chức năng chưa nhận thức và hiểu rõ về quy định này của pháp
luật nên chưa có nhiều trường hợp cha mẹ bị xử lý hạn chế quyền.
Theo quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ thì rất nhiều chủ thể có quyền yêu cầu
Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ khi mà người cha, người mẹ này có hành vi vi phạm
nghiêm trọng đối với con họ, hành vi đó thảo mãn căn cứ theo Điều 41 của Luật
HN&GĐ. Gần nhất là người cha hoặc người mẹ, cũng như những người thân thích của
sau bốn tháng đi bán dâm đã trốn thoát. Tại bản án của TAND quận Ninh Kiều đã
tuyên phạt mẹ của các em 9 năm tù nhưng không hề có nội dung tuyên hạn chế quyền
của người mẹ này đối với các em. Tương tự, là việc Nguyễn Thị Dung ở TP HCM đã
tổ chức mại dâm và môi giới mại dâm, trong đó có việc ép con đẻ của Dung (sinh năm
1993) bán dâm từ năm 2007, tháng 12/2009 trong bản án sơ thẩm của TAND TP HCM
tuyên 12 năm tù về tội chứa mại dâm và 7 năm về tội môi giới mại dâm, Tòa án phúc
thẩm TAND tối cao giống án sơ thẩm, và trong hai bản án đều không hề có nội dung
hạn chế quyền của Dung với người con này. Thấy rằng, mặc dù số năm phải thi hành
án phạt tù của những người mẹ này là thích đáng, và cũng sẽ không còn có thể bắt các
em làm việc này nữa. Nhưng thiết nghĩ trong các bản án này Tòa án cần phải có nội
dung hạn chế quyền của những người mẹ này, để phần nào răn đe và làm cho những
người cha, người mẹ này hiểu rằng không phải họ là cha, là mẹ mà có thể bắt con họ
làm gì cũng được, nhưng các thẩm phán đã quên mất quy định này.
Thực tế rất hiếm hoi có trường hợp Tòa án khi tuyên phạt về hình sự với người
cha, người mẹ có hành vi bạo lực đối với con và trong bản án đó cũng đã nêu phần hạn
chế quyền của cha, hoặc mẹ nhưng chưa hiểu rõ bản chất của việc hạn chế này. Chẳng
hạn trường hợp TAND tỉnh Bình Phước xử phúc thẩm vụ bé Nguyễn Thị Hảo bị mẹ đẻ
là bà Mỳ đánh đập, bà Mỳ bị xử phạt 2 năm tù giam về tội cố ý gây thương tích cho bé
Hảo, đồng thời “Tòa án còn hạn chế quyền nuôi dưỡng bé Nguyễn Thị Hảo cảu vợ
chồng Mỳ trong vòng 5 năm sau khi bà Mỳ ra tù”. Nếu theo bản án này thì Tòa án hạn
chế quyền nuôi dưỡng là không đúng mà vợ chồng bà Mỳ vẫn phải có nghĩa vụ nuôi
dưỡng bé Hảo, chỉ hạn chế quyền đối với việc chăm sóc, trông nom, giáo dục, quản lý
tài sản của bé, và đại diện pháp luật cho bé (theo Điều 43 của Luật HN&GĐ 2000).
Thứ hai: không có đủ điều kiện để thực hiện việc hạn chế quyền của cha mẹ đối
với con chưa thành niên vào thực tiễn.
Theo quy định của pháp luật thì khi hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa
thành niên tức là họ không có quyền chăm sóc, quản lý tài sản riêng của con cũng như
đại diện theo pháp luật cho con, nhưng họ vẫn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng người con
này. Như vậy, ở nước ta, ngay trong quy định của pháp luật cũng không có hướng dẫn
II. Nghĩa vụ của cha mẹ nhằm bảo vệ quyền cơ bản của các con, không đặt mình
rơi vào tình trạng bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên:
Thứ nhất: cha mẹ cần hiểu rõ quyền và nghĩa vu của mình đối với con, tránh lối
tư duy là cha mẹ là có tất cả quyền đối với con, nhất là con chưa thành niên, tránh tư
tưởng con luôn luôn phải nghe lời cha mẹ dù đó không đúng và cho rằng là cha mẹ thì
lời nói ra luôn đúng.
Thứ hai: cha mẹ phải thể hiện sự yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, trông nom
con. Cha mẹ cần tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của
mình để con được phát triển bình thường, lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần và trí
tuệ.
Thứ ba: cha mẹ cần tôn trọng, bảo vệ tính mạng. sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
của con.
Trẻ em phải được cha mẹ tôn trọng, thể hiện cho sự tôn trọng này là cha mẹ
không được áp đặt suy nghĩ của mình cho con, cha mẹ cần tôn trọng những suy nghĩ
của con, tôn trọng sự lựa chọn của con về sở thích, học tập và bạn bè. Mặc dù đôi khi
việc cha mẹ không tôn trọng con chưa tới mức đặt cha mẹ rơi vào tình trạng bị hạn chế
quyền nhưng sự không tôn trọng con của cha mẹ dễ dẫn tới ảnh hưởng về tinh thần của
con, làm cho con bị thụ động, không chủ động, tự ti trong cuộc sống.
Cha mẹ cần tôn trọng và bảo vệ tính mạng.sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của
con. Đối với những trường hợp cha mẹ có hành vi bạo lực đối với con mà diễn ra
nghiêm trọng, thường xuyên thì nên yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với
con, khi đó quyền lợi của các em mới không bị xâm hại nữa.
Cha mẹ cần tôn trọng và bảo vệ danh dự nhân phẩm của con. Việc không tôn
trọng danh dự, nhân phẩm của con cũng là một dạng bạo lực, đó là bạo lực tinh thần
đối với con, làm cho các em bị tổn thương về tâm lý.
Thứ tư: cha mẹ không dược xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp
luật, như phân tích ở phần 1 thì đây không chỉ là một căn cứ hạn chế quyền của cha
mẹ, mà hành vi này của cha mẹ còn xâm hại nghiêm trọng tới quyền trẻ em. Cha mẹ đã
của cha mẹ. Đồng thời Tòa án trong các bản án khi xử lý về mặt hình sự với người cha,
người mẹ thì cũng cần phân tích để người che, người mẹ này cũng như những người
khác biết và tìm hiểu thêm về hành vi trái pháp luật của người cha, người mẹ vi phạm,
đồng thời bên cạnh hình phạt về mặt hình sự, thì trong trường hợp cần thiết, Thẩm
phán nên tuyên hạn chế quyền của người cha, người mẹ này, để đảm bảo quyền lợi cho
những người con, đưa người con đó đến một nơi, hoặc một chủ thể tin cậy để chăm
sóc, để đứa trẻ được phát triển trong một môi trường sống lành mạnh.
KẾT LUẬN
Như vậy, khi cha mẹ thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình đối với con chưa thành
niên thì cũng là việc cha mẹ không đặt mình vào các trường hợp phải hạn chế quyền.
Bên cạnh đó, việc hạn chế quyền của cha mẹ khi cha mẹ có hành vi vi phạm nghiêm
trọng đối với con chưa thành niên cũng là một việc để bảo vệ quyền trẻ em, ngăn ngừa
hành vi vi phạm của cha mẹ, giúp các em có một môi trường sống lành mạnh đế các
em sống và phát triển lành mạnh, khắc phục dần những tổn thương về thể chất, tinh
thần mà cha mẹ đã gây ra cho các em.