Mô hình thi hành án, thời hiệu thi hành án, thủ tục thi hành án trong Dự
thảo Luật thi hành án dân sự[1]
Việc tập hợp và pháp điển hoá các quy định về thi hành án dân sự hiện nay, thiết lập cơ
sở pháp lý cho việc thi hành án dân sự nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự là một yêu cầu cấp thiết. Để đóng góp ý kiến cho việc xây
dựng các quy định trong Dự thảo Luật Thi hành án dân sự (Dự thảo Luật THADS), chúng
tôi xin trao đổi một số vấn đề về mô hình thi hành án, thời hiệu thi hành án và các quy
định liên quan đến thủ tục thi hành án dân sự.
Dự thảo Luật THADS
1. Mô hình thi hành án
Tham khảo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới cho thấy, ở nhiều
nước, việc thi hành án do Thừa phát lại thực hiện. Chẳng hạn, ở Pháp, Bỉ, Hà Lan và
Luxembourg, Nhà nước trao cho Thừa phát lại trách nhiệm thi hành các bản án dân sự do
Toà án tuyên. Thừa phát lại không phải là công chức nhà nước, được hành nghề theo quy
chế tự do và hưởng thù lao từ lệ phí thi hành án thu được theo tỷ lệ nhất định. ở Pháp,
Thừa phát lại chịu trách nhiệm trước Toà án về những sai phạm chuyên môn và chịu
trách nhiệm trước các tổ chức chuyên môn của nghề hoặc trước Viện trưởng Viện công tố
bên cạnh Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng về những sai phạm kỷ luật của mình[2]. Ngược
lại, Thụy Điển, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Singapore và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu trước đây lại theo mô hình thi hành án công, tổ chức thi hành án bao gồm hệ
thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, các Chấp hành viên là công chức, viên chức
hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Còn một số nước như Nhật Bản, Đức, Hà Lan, Áo,
Thuỵ Sỹ... lại theo mô hình tổ chức thi hành án bán công, việc thi hành án do viên chức
thi hành án đảm nhiệm, trên nguyên tắc tự lấy thu bù đắp chi phí thi hành án.
Xét thực tiễn thi hành án ở Việt Nam dưới thời kỳ Pháp thuộc, việc thi hành án án
không do cơ quan thi hành án của Nhà nước thực hiện mà do Thừa phát lại đảm nhiệm.
Thừa phát lại do Nhà nước bổ nhiệm nhưng không phải là công chức nhà nước, không
hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà được trả thù lao từ các khoản lệ phí thu được từ
người được thi hành án theo một tỉ lệ nhất định. Từ năm 1950, trên cơ sở Điều 19, Sắc
lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng thì việc thi
việc triển khai áp dụng trên thực tiễn.
Cụ thể là, nếu cho phép thành lập tổ chức Thừa phát lại để cạnh tranh công bằng với
cơ quan thi hành án nhà nước thì cần phải xây dựng trong Dự thảo Luật THADS các quy
định về Thẩm phán chuyên trách đôn đốc, theo dõi công tác thi hành án dân sự có thẩm
quyền ra các quyết định liên quan đến thi hành án. Các quy định này nhằm gắn trách
nhiệm của Toà án trong việc xét xử và thi hành án, đồng thời khắc phục được sự lệ thuộc
của tổ chức Thừa phát lại vào cơ quan thi hành án nhà nước. Bởi vì nếu quan niệm Thừa
phát lại chỉ được thực hiện một số công việc thi hành án theo uỷ quyền của Chấp hành
viên, cơ quan thi hành án đồng thời chỉ có “một số quyền hạn của Chấp hành viên” và
trường hợp cần áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án thì “phải có quyết định của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án nơi thi hành án”[3] thì trên thực tế, tổ chức Thừa phát lại
không thể độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc thực thi nhiệm vụ thi hành án.
Có thể nhận thấy rằng, sẽ khó có sự cạnh tranh công bằng thực sự giữa các chủ thể có
mối liên hệ phụ thuộc. Do vậy, cần xem đây là vấn đề cốt yếu, mang tính đột phá trong
cải cách công tác thi hành án hiện tại cần được quy định trong Dự thảo Luật THADS chứ
không còn là vấn đề cần nghiên cứu trong tương lai nữa.
2. Thời hiệu thi hành án
Nghiên cứu pháp luật tố tụng nước ngoài cho thấy, nhiều nước trên thế giới như Pháp,
Đức, Thụy Điển, Nhật Bản... đều quy định thời hiệu thi hành án dài hơn so với pháp luật
về thi hành án dân sự hiện hành của Việt Nam. Cụ thể là theo pháp luật tố tụng của Cộng
hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức thì thời hiệu thi hành án là 30 năm kể từ ngày bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật. Pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản quy định thời hiệu thi
hành án là 10 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. ở Việt Nam, Pháp
lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định thời hiệu thi hành án là 3 năm kể từ ngày bản
án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Thực tiễn xét xử và thi hành án cho thấy, có những trường hợp người được thi hành án
không yêu cầu thi hành án trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà
án có hiệu lực pháp luật. Sau khi hết thời hạn này, đương sự mới có đơn yêu cầu thi hành
đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi
hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án”. Như vậy, theo quy định
này, nếu người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án thì
thời gian hoãn thi hành án không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Thiết nghĩ, các quy định về thời hiệu trong thi hành án dân sự phải được xây dựng phù
hợp với các nguyên tắc chung về thời hiệu được quy định trong Bộ luật Dân sự. Theo tinh
thần quy định tại Điều 161, Điều 162, Bộ luật Dân sự năm 2005 thì thời gian xảy ra sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan sẽ không được tính vào thời hiệu; thời hiệu
được bắt đầu lại nếu các bên đương sự thoả thuận được với nhau. Xét việc người được thi
hành án đồng thuận cho người phải thi hành án hoãn việc thực hiện nghĩa vụ là một hành
động thiện chí, nhưng không có nghĩa là người được thi hành án từ bỏ quyền yêu cầu thi
hành án của mình. Do vậy, chúng tôi cho rằng, sẽ là hợp lý hơn nếu coi trường hợp người
được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án là một căn cứ để bắt
đầu lại thời hiệu yêu cầu thi hành án.
3. Thủ tục thi hành án
Các thuật ngữ liên quan đến thi hành án
Trước hết, cần phải nghiên cứu thêm để xác định bản chất và làm rõ nội hàm của một
số thuật ngữ quan trọng liên quan đến thủ tục thi hành án trong Dự thảo Luật THADS,
như: từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án; trả lại đơn yêu cầu thi hành án; hoãn, tạm đình
chỉ thi hành án; đình chỉ thi hành án; kết thúc thi hành án. Đối với mỗi loại thủ tục cần
làm rõ thời điểm áp dụng, căn cứ áp dụng, hậu quả pháp lý khi áp dụng. Trên cơ sở đó
cần phải bổ sung vào Điều 4, Dự thảo Luật THADS phần giải thích về các thuật ngữ này.
Bản án, quyết định được thi hành
Theo điểm đ Khoản 1 Điều 3, Dự thảo Luật THADS thì những bản án, quyết định
được thi hành bao gồm: “Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ cạnh
tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi
hành, không khởi kiện ra Toà án”. Như vậy, theo logic thì cần sửa điểm e Khoản 1 điều
này theo hướng sau: những bản án, quyết định được thi hành bao gồm “... Quyết định của
Trọng tài thương mại Việt Nam mà sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết
định trọng tài mà các bên không yêu cầu Toà án huỷ quyết định trọng tài”.
không cần có đơn tiếp tục yêu cầu thi hành án của đương sự.
Từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án
Theo quy định tại Điều 36, Dự thảo Luật THADS thì cơ quan thi hành án từ chối nhận
đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp: người yêu cầu thi hành án không có quyền
yêu cầu thi hành án; cơ quan thi hành án được yêu cầu không có thẩm quyền tổ chức thi
hành án; đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án. Theo tinh thần của điều luật này thì việc từ
chối nhận đơn được áp dụng khi cơ quan thi hành án chưa ra quyết định thi hành án và
yêu cầu thi hành án không hội đủ những điều kiện để thụ lý mà pháp luật đã quy định.
Thực chất của việc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án là việc cơ quan thi hành án từ
chối không thụ lý vụ việc thi hành án mà đương sự yêu cầu. Việc sử dụng thuật ngữ “từ
chối nhận đơn yêu cầu thi hành án” là để phân biệt với trường hợp “trả lại đơn yêu cầu thi
hành án” mà chúng ta đã phân tích ở trên. Nếu coi các căn cứ “trả lại đơn yêu cầu thi
hành án” theo Điều 57, Dự thảo là căn cứ để hoãn thi hành án thì chúng ta hoàn toàn có
thể sử dụng thuật ngữ “trả lại đơn yêu cầu thi hành án” cho các căn cứ tại Điều 36, Dự
thảo Luật THADS hiện nay.
Theo điểm b Khoản 1 Điều 36, Dự thảo Luật THADS thì Cơ quan thi hành án sẽ từ
chối nhận đơn yêu cầu thi hành án nếu “Cơ quan thi hành án được yêu cầu không có thẩm
quyền tổ chức thi hành án”. Vậy cần phải làm rõ là “không có thẩm quyền” ở đây được
hiểu là sự việc không thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án nhận đơn theo lãnh thổ,
theo cấp hay sự việc hoàn toàn thuộc thẩm quyền của một cơ quan nhà nước khác. Nếu
sự việc không thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án nhận đơn theo lãnh thổ, theo
cấp thì cơ quan thi hành án này sẽ từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án và hướng dẫn
đương sự nộp đơn yêu cầu tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền hay ra quyết định uỷ
thác thi hành án? Thiết nghĩ, sẽ hợp lý hơn nếu sửa đổi quy định tại điểm b Khoản 1 Điều
36, Dự thảo Luật THADS theo hướng cơ quan thi hành án từ chối nhận đơn yêu cầu thi
hành án nếu “sự việc được yêu cầu không thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân
sự”. Nếu sự việc không thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án nhận đơn theo lãnh
thổ, theo cấp thì cơ quan thi hành án này sẽ ra quyết định uỷ thác thi hành án cho cơ quan
hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án và ra quyết định ủy thác cho nơi có
điều kiện thi hành. Tuy nhiên, Dự thảo Luật THADS lại thiếu vắng các quy định về cơ
chế uỷ thác tiếp khi cơ quan thi hành án nhận được uỷ thác không có điều kiện tổ chức thi
hành án. Do vậy, cần phải nghiên cứu bổ sung các quy định về cơ chế này trong Dự thảo
theo hướng, cơ quan thi hành án nhận ủy thác, nếu xét thấy người phải thi hành án không
có tài sản hoặc không cư trú, làm việc hay có trụ sở ở địa phương mình thì giải quyết như
sau:
- Trong trường hợp cơ quan thi hành án đã ủy thác chủ động ra quyết định thi hành thì
cơ quan nhận ủy thác phải ủy thác tiếp cho cơ quan thi hành án nơi có điều kiện thi hành;
- Trong trường hợp cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của
người được thi hành án thì ra quyết định trả lại đơn yêu cầu và hướng dẫn đương sự gửi
đơn yêu cầu đến cơ quan thi hành án nơi có điều kiện thi hành. Cơ quan thi hành án nơi
có điều kiện thi hành án phải ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự. /.
[1]Dự thảo tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo 11, Luật Thi hành án dân sự.
[2] “L'Huissier de Justice, Tài liệu do Hội đồng Thừa phát lai Pháp ấn hành tháng 2/1994, tr. 4.
[3] Điều 14 Dự thảo 11 Luật Thi hành án dân sự. Rất tiếc là hiện nay các quy định về xã hội hoá thi hành
án dân sự không còn được quy định trong bản Dự thảo tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện nữa.
[4] Báo cáo công tác ngành Toà án năm 2000 và phương hướng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2001, tr.
36, 37.