SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÁC ĐỊNH MỘT CÁCH CHÍNH XÁC TÍNH QUỐC TẾ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA NGOẠI THƯƠNG - Pdf 33

Bài nghiên cứu

SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÁC ĐỊNH MỘT CÁCH CHÍNH XÁC TÍNH
QUỐC TẾ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA NGOẠI THƯƠNG
TS. Dương Anh Sơn
Giảng viên khoa Luật Quốc tế, Đại học luật TP.HCM

Hoạt động thương mại quốc tế hiện nay, mặc dù không còn bị giới hạn trong việc trao
đổi hàng hóa mà được mở rộng sang các lĩnh vực khác như thương mại dịch vụ,
thương mại đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, tuy nhiên hoạt động
trao đổi hàng hóa vẫn đóng vai trò chủ đạo. Và rõ ràng công cụ pháp lý được sử dụng
trong việc trao đổi hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay còn gọi
là hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương. Có thể nói rằng, hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế hiện nay đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động ngoại thương của Việt Nam
chúng ta. Kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta không ngừng được tăng cao trong
những năm gần đây, và đặc biệt sẽ được tăng cao hơn nữa khi Việt Nam chúng ta tham
gia vào các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tức là hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố
quốc tế hay tính quốc tế. Mặc dù loại hợp đồng này đã được sử dụng trong thực tiễn
thương mại ở nước ta, tuy nhiên việc đưa ra một khái niệm rõ ràng, tương đối chính
xác cho hợp đồng này chưa được quan tâm thích đáng trong khoa học pháp lý Việt
Nam. Điều này cũng có thể là do Việt Nam chúng ta mới tham gia vào hoạt động
thương mại quốc tế và trong thực tiễn chưa có vụ tranh chấp nào liên quan đến việc
xác định luật áp dụng căn cứ vào tính quốc tế của hợp đồng.
Các văn bản pháp luật của Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế ” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài”. Dưới góc độ pháp lý hai thuật ngữ “Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế ” và “Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” có cùng một
bản chất, đó là có sự tham gia của thương nhân nước ngoài hay nói cách khác hợp
đồng có yếu tố quốc tế.
Xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tức

quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thương nhân.
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế việc xác định
tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thương
nhân gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp và trong một số trường là không thể được, bởi
vì:
Thứ nhất, pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau xác định quốc tịch của pháp nhân
không giống nhau. Hiện nay trên thế giới có các cách thức xác định quốc tịch của pháp
nhân như sau:
1.

Thuyết nơi đăng ký (Anh, Mỹ, các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Anh Mỹ và
một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ), theo cách này quốc tịch được xác định theo
nơi đăng ký của pháp nhân.

2.

Thuyết địa điểm thường trú của pháp nhân (các quốc gia thuộc hệ thống pháp
luật châu Âu lục địa như Pháp, Đức và Ba lan, Ukraina), theo cách này, quốc tịch
của pháp nhân được xác định theo địa chỉ thường trú của pháp nhân - thường là
nơi thường trú của cơ quan điều hành. Địa chỉ thường trú của pháp nhân không
phải là nơi mà pháp nhân đăng ký thành lập mà là nơi có cơ quan quản lý thực tế
của pháp nhân.

Bài nghiên cứu - www.saigonluat.vn

Trang 2


3.


Hàng hóa phải được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc
gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác;

2.

Khi mà những hành vi thể hiện sự chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực
hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;

3.

Khi việc giao hàng phải được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác không
phải là nơi thực hiện những hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng.

Mặc dù được thông qua và đã có hiệu lực tuy nhiên Công ước La Haye năm 1964
không được áp dụng một cách rộng rãi cũng như không gây được ảnh hưởng trong
thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ngay cả khi Công
ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa được thông qua vì nhiều
lý do như: Công ước này được soạn thảo bởi đại diện của các quốc gia phát triển
Bài nghiên cứu - www.saigonluat.vn

Trang 3


phương Tây, thiếu sự tham gia của các quốc gia đang phát triển và vì vậy các quy định
của Công ước không tính đến quyền lợi của các quốc gia đang phát triển; Công ước La
Haye năm 1964 có cấu trúc bên trong hết sức phức tạp vì vậy gây nhiều khó khăn
trong việc áp dụng. Nhưng lý do quan trọng nhất là các tiêu chuẩn chủ quan và khách
quan được Công ước sử dụng để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế chồng chéo và không có ý nghĩa thực tế. Ví dụ, người bán có trụ sở thương
mại trên lãnh thổ của Việt Nam giao hàng cho người mua có trụ sở thương mại trên

được thiết lập ở các quốc gia khác nhau vi;

-

Thứ ba, nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc
chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua ở các quốc
gia khác nhau;

Bài nghiên cứu - www.saigonluat.vn

Trang 4


Sự hạn chế của việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế căn cứ vào ba tiêu chí nói trên đã được chúng tôi phân tích trong hai ví dụ
được đưa ra ở trên.
-

Thứ tư, đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên trong quan
hệ hợp đồng. Theo quan điểm của chúng tôi thì tiêu chí này chỉ cho phép xác
định hợp đồng mua bán không phải là hợp đồng trong nước (nội địa) mà không
cho phép xác định thương nhân nước ngoài thuộc quốc gia nào và như vậy, trong
một số trường hợp đặc biệt khó có thể xác định Luật áp dụng cho hợp đồng vii Vì
vậy chúng tôi cho rằng, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ của ít nhất một trong hai
bên của hợp đồng không phải là tiêu chí để xác định tính quốc tế của hợp đồng
thương mại quốc tế mà chỉ là một trong các đặc điểm của nó mà thôi.

-

Thứ năm, luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm các điều


Việc xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên yếu tố lãnh thổ cho phép
xác định tính quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản hơn. Tuy nhiên theo tiêu chí này
sẽ gặp khó khăn trong trường hợp, khi các bên có nhiều trụ sở thương mại. Để giải
quyết vấn đề này Điều 10 Công ước Viên 1980 quy định, trong trường hợp nếu một
trong các bên có nhiều trụ sở thương mại thì cần phải chú ý đên trụ sở thương mại liên
quan mật thiết với hợp đồng và với việc thực hiện nó xuất phát từ những hoàn cảnh mà
các bên đã biết trước và đã có dự liệu trước khi hay trong thời điểm ký kết hợp đồng,
còn nếu các bên không có trụ sở thương mại thì cần phải xác định địa điểm thường trú
của họ.
Từ những phân tích nói trên có thể khẳng định rằng, hiện nay trên thế giới đã có sự
thống nhất trong việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
và cũng từ sự phân tích đó theo quan điểm của tác giả, nội dung của điều 80 Luật
thương mại Việt Nam 1997 cần phải được sửa đổi để có sự tương thích với pháp luật
quốc tế về thương mại.

Bài nghiên cứu - www.saigonluat.vn

Trang 6


i

Xem: Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2000. Tr. 199-200; Giáo
trình luật thương mại Quốc tế của Trường Đại học kinh tế quốc dân, 1999. tr. 69 –102; Giáo trình Tư pháp quốc tế,
NXB Công an nhân dân. Hà Nội, 2001, Tr. 141-142
ii

Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, nhiều quốc gia cấm hợp tác với các công ty thù địch, tức là các
pháp nhân làm việc cho quốc gia thù địch. Ví dụ, một công ty cổ phần của Đức sang Thuỵ sĩ thành lập công ty trách




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status