THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC - Pdf 33

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Pháp luật dân sự là một công cụ pháp lý của Nhà nước và công dân, góp
phần thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ dân sự
phát triển trong nền kinh tế - xã hội. Trong đó thì thừa kế là một quan hệ pháp
luật dân sự, các chủ thể tham gia bao gồm người người để lại di sản và người
thừa kế. Người để lại thừa kế chỉ có thể là một cá nhân, không thể là pháp
nhân hay một cơ quan Nhà nước nào khác, nhưng người nhận thừa kế có thể
là cá nhân, hoặc bất kì một pháp nhân nào khác.
Người để lại di sản thừa kế phải để lại di chúc, di chúc có thể là di chúc
bằng văn bản hay bằng lời nói. Điều 649 Bộ luật dân sự 2005 đã quy định rất
rõ ràng về di chúc. Di chúc là sự bày tỏ, thể hiện ý chí, nguyện vọng của một
con người cụ thể sẽ định đoạt tài sản của mình ra làm sao. Sự bày tỏ này có
thể được thể hiện dưới các hình thức bằng chúc thư hoặc là những lời dặn dò,
những lời trăng trối lúc hấp hối. Hình thức của di chúc là sự thể hiện ý chí của
người lập di chúc ra bên ngoài cho người khác biết, để sau này đó sẽ là những
căn cứ pháp lý mà thực hiên ý chí của người đã chết. Tóm lại di chúc phải
được lập theo quy định của pháp luật.
Di chúc trước hết phải được lập thành văn bản, Điều 5 Hiến pháp 1992
đã có quy định: " Các dân tộc ít người có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ
gìn bản sắc dân tộc...của mình". tuy nhiên di chúc có thể được viết bằng tiếng
dân tộc mình hoặc bất kì dân tộc nào khác. Di chúc miệng chỉ được lập ra khi
người để lại thừa kế không có điều kiện để lập di chúc bằng văn bản.

1


B.LÝ LUẬN CHUNG.
1.Di chúc.
Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người (người để lại di sản) nhằm
định đoạt toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc một phần
tài sản của mình được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi người

động là 15 tuổi trở lên.
Người từ đủ 15 tuổi trở lên có thể có tài sản riêng, bởi vậy họ có quyền
lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Tuy nhiên, vì người 15 tuổi trở lên
và chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho người chưa thành niên, pháp luật quy định việc lạp di chúc phải
được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ về việc lập di chúc.
Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ nhưng đã
thành niên cũng có quyền lập di chúc,. Tuy nhiên, việc lập di chúc của đối
tượng này phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận
của cơ quan công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban xã, phường, thị trấn.
Tiếp theo, ngưòi để lại di sản khi lập di chúc chỉ được phép định đoạt
tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, quyền sử dụng hợp pháp (là quyền sử
dụng đất..), một phần trong khối tài sản chung với đồng chủ sở hữu khác.

b.

Di chúc hợp pháp.

Thứ nhất, người để lại di sản lập di chúc phải ở trong tình trạng minh
mẫn, sáng suốt. Lập di chúc là hành vi của chủ sở hữu (chủ sử dụng tài sản)
định đoạt tài sản của mình nên họ phải nhận thức được hành vi đó khi thực
hiện quyền định đoạt tài sản. Đây là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc đánh giá giá trị pháp lý của di chúc, đảm bảo tính chính xác
theo ý chí của chủ thể - người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của
mình..
Thứ hai, người để lại di chúc phải hoàn toàn tự nguyện, không bị chi
phối về mặt tinh thần , tâm lý hoặc thể chất, không bị ép buộc phải lập di chúc
theo ý chí của người khác. Đây là điều kiện rất qun trọng vì di chúc là sự thể
3



4


1.Các hình thức của di chúc.
Hình thức của di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản ra bên
ngoài cho người khác biết, để sau này có căn cứ vào đó mà thực hiện ý chí của
người để lại di sản sau khi người đó chết. Vì vậy trước hết di chúc phải được
lập thành văn bản. Di chúc bằng văn bản được chia ra làm nhiều loại:


Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.



Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.



Di chúc bằng văn bản có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã,

phường, thị trấn.


Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Mỗi loại di chúc khi được lập ra đều có giá trị pháp lý như nhau , đều
phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật. Tuy nhiên, khi lập di chúc
bằng văn bản người lập di chúc cần lưu ý là phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập
di chúc. Vì pháp luật có quy định rằng người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ

này được Nhà nước cho phép sử dụng và ghi nhận như mực in, giấy in, giấy
viết
I.Di chúc bằng văn bản.
Di chúc bằng văn bản bao gồm ( Điều 650. Bộ luật dân sự 2005):
1

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

2

Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

3

Di chúc bằng văn bản có công chứng;

4

Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Người lập di chúc bằng văn bản có quyền, tùy theo ý muốn của mình

và tùy theo hoàn cảnh cụ thể chọn một trong những hình thức bằng văn bản
nói trên khi lập di chúc bằng văn bản. Các hình thức nói trên đều có giá trị
pháp lý như nhau. Tuy nhiên, khi lập di chúc bằng văn bản người lập di

6


chúc phải ghi rõ ngày tháng, năm lập di chúc. Vì pháp luật có quy định,
người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế di chúc. Do đó,

sản sau khi chết nói lên người lập di chúc ở trong trạng thái minh
mẫn, sang suốt khi lập di chúc.
Việc lập di chúc không có người làm chứng phải tuân thủ theo quy định
tai Điều 652 của Bộ luật dân sự.
3.Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
Trương hợp này người lập di chúc không thể viết được như cụt tay
hay tay bị liệt..thì nhờ người khác viết hộ lại nội dung mà người lập di chúc
công bố và phải có ít nhất là hai người làm chứng cho nội dung của di chúc
đúng theo ý chí của người lập di chúc.
Di chúc bằng văn bản có người làm chứng được quy định tại
Điều 656 như sau:
“ Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di
chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất hai người làm
chứng. Người lập di chúc phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước
mặt những ngời làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký của
người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654
của Bộ luật này.”
Có hai khả năng xảy ra trong trường hợp này: Thứ nhất, là hai người
làm chứng cùng có mặt chứng kiến việc người lập di chúc công bố ý chí và
người khác ghi lại nội dung.
Thứ hai, người lập di chúc nhờ người khác ghi lại nội dung của di
chúc, sau đó người lập di chúc nhờ hai người làm chứng đọc nội dung đó
8


cho người lập di chúc nghe và chứng kiến nội dung đó có đúng với ý chí của
người lập di chúc hay không.
4.Di chúc bằng văn bản có chứng thực của UBND xã,
phường, thị trấn, chứng nhận của Công chứng nhà nước.

để có .
Di chúc của người đang làm công việc nghiên cứu, khảo sát, thăm dò,
ở các vùng rừng núi, hải đảo thì phải có xác nhận của người phụ trách đơn vị
đó.
Di chúc của người Việt Nam đang ở nước ngoài ( người có quốc tịch
Việt Nam và không cư trú ở trong nước ), thì phải có xác nhận của cơ quan
lãnh sự hoặc đai điện ngoại giao của Việt Nam ở nước đó.
Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành các hình phạt tù,
người đang chấp hành các biện pháp xử lý hành chính tại các cơ sở giáo dục,
cơ sở chữa bệnh thì phải có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.
Như vậy pháp luật dân sự Việt Nam đã dự liệu các trường hợp người
để lại di sản không có điều kiện để công chứng, chứng thực di chúc, điều này
thể hiện một sự tiến bộ lớn của chế định thừa kế của luật dân sự Việt Nam,
đây cũng là tất yếu khách quan, nhu cầu bức thiết vì không phải lúc nào người
để lại di sản cũng có đầy đủ các vì nhiều lí do và hoàn cảnh khác nhau nữa.
II.Di chúc miệng.
Di chúc miệng là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản, thong qua
lờ nói và được những người làm chứng ghi lại bằng văn bản. Tuy nhiên không
phải bất cứ cá nhân nào cũng có thể được lập di chúc miệng. Bộ luật dân sự
2005 đã có quy định rất rõ rang về việc lập di chúc miệng tại Điều 651 như
sau: “1. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật
hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể

10


lập di chúc miệng. 2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người
lập di chúc còn sống, minh mẫn, sang suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy
bỏ.” Từ các căn cứ trên, có thể đưa ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, chỉ có thể lập di chúc miệng nếu cá nhân đang bị đe dọa về


D.THỰC TIỄN ÁP DỤNG.
Thực tiễn cho thấy không phải lúc nào di chúc lập ra cũng được coi là
hợp pháp vì rất nhiều trường hợp người lập di chúc đã vi phạm các nguyên tắc
về hình thức hay nội dung của di chúc. Trải qua nhiều năm xét xử các vụ kiện
tụng, tranh chấp về thừa kế đã kéo dài, không chỉ gây phiền hà đến những
người liên quan, mất thời gian và tiền bạc của công dân. Điển hình như một
vụ kiện đã kéo dài đến mười năm về thừa kế ở tỉnh Tiền Giang 1 vẫn chưa
được giải quyết ổn thỏa theo như nguyện vọng của nguyên đơn, cuối cùng Tòa
án nhân dân tối cao đã ra quyết định giám đốc thẩm số 04/UBTP – DS ngày
08/02/2001, vì một lí do là di chúc không khách quan và không hợp pháp. Ở
đây người lập di chúc đã không thể dự đoán được rằng di chúc mà họ đã lập ra
lại có nhiều phiền phức đến vậy. Ý nguyện của người lập di chúc thì muốn di
chúc họ lập ra phải được làm đúng như vậy. Tuy nhiên vì nhiều lí do khác
nhau mà di chúc lập ra hoàn toàn tự nguyện nhưng không thể hợp pháp vì đã
vi phạm nội dung của di chúc. Cũng có rất nhiều trường hợp người lập di chúc
miệng lại có thể tưởng tượng ra rằng di chúc mà họ để lại có thể gây nhiều
phiền phức cho người liên quan đến vậy, nhiều trường hợp nhất là ở vùng sâu
vùng xa vì sự hiểu biết của pháp luật còn hạn chế, hoặc rất sơ sài. Một số
trường hợp người hấp hối, nhất là những người già thường gọi con cháu đến
dặn dò trước khi chết và vì không có điều kiện lập di chúc bằng văn bản nên
những câu dặn dò đấy có thể coi là di chúc miệng. Nhưng vì nhiều lí do khác
1

/>
12


nhau nên những người có liên quan đến nội dung của di chúc lại là người ghi
chép và là người làm chứng, vì vậy đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của di

8. Xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật.
Nếu nghiên cứu dưới góc độ lý luận; kỹ thuật lập pháp và thực tiễn thì
có nhiều vấn đề của luật thực định cần phải được xem xét, sửa đổi cho rõ
ràng, cho phù hợp với thực tế cuộc sống. Tuy nhiên những sai sót, vướng mắc,
thiếu thống nhất hoặc tuy có thống nhất nhưng là sự tự “thống nhất” không áp
dụng quy định nào đó của luật trong thực tiễn xét xử thời gian vừa qua như
sau:
Có bản di chúc không ghi đầy đủ các nội dung như quy định của Điều
653 (không ghi nơi cư trú, thậm chí có trường hợp không ghi rõ nơi có di sản)
nhưng vẫn được các Tòa án chấp nhận di chúc đó là hợp pháp, nếu có căn cứ
kết luận đó chính là di chúc do người để lại di sản viết ra khi minh mẫn, sáng
suốt, không bị ai ép buộc.
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, có rất nhiều trường
hợp không phải tự tay người để lại di sản viết mà họ đánh máy, điểm chỉ hay
ký rõ ràng, hoặc di chúc có người làm chứng, nhưng những người làm chứng
đều là các thừa kế ký vào bản di chúc, còn số người không phải trong diện
thừa kế tuy họ có chứng kiến nhưng họ không ký bản di chúc, có trường hợp
chỉ có một người ký. Sau này các thừa kế công nhận đó là di chúc của người
để lại di sản thì hầu hết được Tòa án công nhận di chúc đó là hợp pháp. Nếu
không công nhận di chúc, rất dễ bị Tòa án cấp trên cho là xét xử sai, sửa hoặc
hủy án.
Cũng có trường hợp (di chúc viết hoặc di chúc miệng) nội dung di
chúc chỉ giao quản lý, sử dụng di sản có điều kiện, nhưng khi điều kiện đã
thay đổi, Tòa án vẫn sử dụng theo di chúc; một bên lập di chúc đã định đoạt
14


toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, nhưng có thẩm phán khi xét xử vẫn công
nhận toàn bộ di chúc chúng tôi cho là không đúng; nhưng nếu công nhận một
phần di chúc thì được ngành coi là xét xử đúng (Trong luật chưa quy định rõ

thức tuyên truyền và phổ biến sinh động hơn, phù hợp với từng vùng miền
khác nhau.
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến hình thức của di chúc
diễn ra ở khắp mọi vùng miền của đất nước, mọi tần lớp nhân dân. Vì vậy
ngay bây giờ, và trong thời gian tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như
Bộ Tư pháp cần phải tích cực vận động, tuyên truyền, đưa pháp luật nói
chung và pháp luật dân sự nói riêng trong đó có pháp luật thừa kế vào thực tế
đời sống nhân dân bằng nhiều hình thức và việc làm khác nhau hơn nữa.

.KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
Quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật có nội dung kinh tế, xã
hội sâu sắc, tồn tại và phát triển song hành cùng với sự phát triển của loài
người. Di chúc là hình thức để cá nhân tuyên bố ý định của mình sau khi chết
thì di sản sẽ được giải quyết như thế nào thong qua hai hình thức di chúc bằng
văn bản và di chúc miệng.
Chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự 2005 và 1995 đã có sự tiến bộ
và bình đẳng, chặt chẽ và hoàn thiện hơn. Tuy nhiên để đáp ứng sự phát triển
không ngừng của xã hội loài người chế định này cần phải hoàn thiện hơn nữa,
trong đó có hnhf thức của di chúc; đồng thời tạo điều kiện cũng như khuyến
khích mọi người tạo ra của cải vật chất nhiều hơn nữa cho xã hội.

16


Danh mục tài liệu tham khảo
1.

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt

Nam, Tập I, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009.

Và một số tài liệu khác…

17


MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. LÝ LUẬN CHUNG.

Trang
1
2

1. Di chúc........................................................................................................................2
2. Điều kiện của di chúc..................................................................................................2
1. Các hình thức của di chúc...........................................................................................5

C. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HÌNH THỨC
CỦA DI CHÚC.
6
I.Di chúc bằng văn bản.......................................................................................................6
2. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng......................................................7
3. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.................................................................8
4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn, chứng nhận
của Công chứng nhà nước...............................................................................................9
5. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc đã được chứng nhận.............................9
II.Di chúc miệng...............................................................................................................10

D. THỰC TIỄN ÁP DỤNG.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status