Tiểu luận trình tự giao kết hợp đồng dân sự và một số vấn đề lí luận - Pdf 33

Trong cuộc sống hiện nay, việc trao đổi hàng hóa, tài sản giữa chủ thể này với chủ thể
khác là không thể thiếu. Vì vậy chế định về hợp đồng dân sự đã sớm ra đời nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, tài sản giữa các chủ thể với nhau. Trong đó,
giao kết hợp đồng dân sự là một phần quan trọng, đó là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau
theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và
nghĩa vụ dân sự. Vậy, trình tự giao kết hợp đồng dân sự được pháp luật quy định như thế
nào? Để trả lời cho câu hỏi này em đã chọn đề tài “ Trình tự giao kết hợp đồng dân sự và
một số vấn đề lí luận” để nghiên cứu làm bài tập của mình.
I. TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN:
1. Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự:
Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên có liên quan bày tỏ, thống nhất ý chí, nguyện
vọng của mình để qua đó xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự với nhau theo hình thức,
nội dung, nguyên tắc và trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận.
2. Trình tự giao kết hợp đồng dân sự:
2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng:
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đề nghị giao kết hợp đồng:
Đề nghị giao kết hợp đồng là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất trong quá trình
giao kết hợp đồng.
Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 quy định:
“ Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng
buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.”
Như vậy, thực chất đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên bày tỏ ý chí của mình cho
phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết hợp đồng với người đó.
Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng với các hành vi
khác như: lời mời đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, báo giá, quảng cáo, giới thiệu hàng
hóa, dịch vụ,…Trong khi đó, đề nghị giao kết hợp đồng tạo ra hậu quả pháp lý quan trọng
đối với cả bên đề nghị và bên được đề nghị. Vì vậy một đề nghị giao kết hợp đồng cần
phải thỏa mãn các điều kiện cần và đủ sau đây:


Thứ nhất, phải thể hiện rõ ý định của bên đề nghị muốn ký kết hợp đồng với bên được


-

Trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thì thời điểm đề nghị giao kết hợp
đồng có hiệu lực từ khi bên được đề nghị nhận được lời đề nghị. Vậy như thế nào
được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng?

Khoản 2 Điều 391 BLDS 2005 quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề
nghị giao kết hợp đồng:
a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được

chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương
thức khác.
2.1.3. Thay đổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng:
Việc người đề nghị xác định thời hạn hiệu lực của lời đề nghị thể hiện sự ràng buộc của
họ đối với lời đề nghị của mình. Thông qua đó thể hiện sự uy tín của mình và lấy được sự
tin cậy của bên đối tác. Như vậy, trong trường hợp lời đề nghị có ấn định thời hạn trả lời
thì người đề nghị không được rút lại hoặc thay đổi lời đề nghị trong thời hạn đó. Tuy
nhiên, để tạo sự linh động của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể tham
gia quan hệ hợp đồng pháp luật cũng có những điều khoản về thay đổi, rút lại đề nghị
giao kết hợp đồng.
Khoản 1 Điều 392 BLDS 2005 quy định bên đề nghị có thể thay đổi, rút lại lời đề nghị
giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau:
-

Khi thông báo về việc thay đổi, rút lại đề nghị đến tay bên được đề nghị trước

-


-

hợp đồng và thông báo này đã có hiệu lực.
Theo thỏa thuận giữa các bên về việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng.

2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
2.2.1. Khái niệm và đặc điểm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
Điều 396 BLDS 2005 quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của
bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.”
Theo quy định này thì sự trả lời đề nghị được coi là sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng khi thỏa mãn hai điều kiện cần và đủ sau:
-

Điều kiện cần: trong câu trả lời đề nghị phải thể hiện ý chí của bên được đề nghị

-

đồng ý với toàn bộ điều kiện mà bên đề nghị nêu trong đề nghị giao kết hợp đồng.
Điều kiện đủ: bên đề nghị phải nhận được câu trả lời trong thời hạn hiệu lực của
đề nghị giao kết hợp đồng.

Trong thực tế, nhiều trường hợp bên được đề nghị trả lời chấp nhận tuy nhiên trong câu
trả lời có đề xuất sửa đổi, bổ sung đề nghị sao cho phù hợp với mong muốn, nguyện vọng
của họ. Tức có sự thay đổi, không phụ thuộc vào sự thay đổi này là đáng kể hay không
đáng kể, chỉ cần có sự thay đổi thì coi như bên được đề nghị không chấp thuận lời đề
nghị và đã đưa ra lời đề nghị mới (Điều 395 BLDS 2005).
Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 có quy định: “Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao
kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im
lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.”



BLDS 2005 cũng quy định rõ hậu quả pháp lý của việc chấp nhận giao kết hợp đồng
trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự
(Điều 398) và trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực
hành vi dân sự (Điều 399). Nếu sau khi đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận hợp lệ
mà bên đề nghị hoặc bên được đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự , thì việc đề
nghị và chấp nhận đề nghị vẫn có giá trị. Khi đó, việc giao kết, thực hiện hợp đồng được
đảm bảo thông qua vai trò của người thừa kế hoặc người đại diện.
II. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ:
Thứ nhất, về khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng:
Khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng tại Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 còn chung
chung, so với các văn bản pháp luật về hợp đồng trước đây, BLDS 2005 đã đề cập đến
các điều kiện của một đề nghị giao kết hợp đồng, giúp các chủ thể dễ dàng hơn khi xác
định một thông tin là đề nghị giao kết hợp đồng. Nhưng hiện nay, BLDS 2005 chưa quy
định một cách cụ thể, rõ ràng về các điều kiện để một thông tin được coi là đề nghị giao
kết hợp đồng. Vì vậy, rất khó để phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao
dịch. Chúng thường bị nhầm lẫn vì đều có sự ràng buộc của người đưa ra đề nghị với nội
dung đã đưa ra. Sự khác biệt cơ bản là hậu quả pháp lý của chúng. Việc bên được đề nghị
chấp nhận đề nghị giao dịch không dẫn đến sự ra đời của một hợp đồng mà chỉ dẫn đến
sự hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng, trong khi đó chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng dẫn đến sự hình thành một hợp đồng.
Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về đề nghị giao dịch khiến cho thực tế có nhiều
trường hợp nhầm lẫn giữa đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch. Ví dụ: các tờ
rơi, báo giá, thư mời thầu,…có được coi là đề nghị giao kết hợp đồng không?
Vì vậy, để tránh sự nhầm lẫn khi ký kết hợp đồng, BLDS 2005 cần quy định cụ thể, rõ
ràng hơn những dấu hiệu nhận diện đề nghị giao kết hợp đồng và phân biệt đề nghị giao
kết hợp đồng với đề nghị giao dịch.
Thứ hai, về thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng:

A sẽ thiết kế tòa nhà văn phòng cho công ty X. Ông A chết sau khi đã trả lời chấp nhận


giao kết hợp đồng. Trong trường hợp này hợp đồng vẫn được hình thành và ràng buộc
các bên nhưng thực tế, việc thực hiện hợp đồng là không thể nếu ông A không có người
thừa kế hoặc có nhưng người thừa kế không thể thiết kế. Bên cạnh đó, quy định này cũng
mâu thuẩn với Khoản 3 điều 424 BLDS 2005 chấm dứt hợp đồng dân sự trong trường
hợp cá nhân giao kết hợp đồng chết mà hợp đồng phải do chính cá nhân đó thực hiện.
Pháp luật nên có quy định hợp lý và thống nhất hơn về hậu quả pháp lý của việc chấp
nhận giao kết hợp đồng trong trường hợp một hoặc hai bên giao kết chết hoặc mất năng
lực hành vi dân sự.
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Nguyễn Thị Ngọc Linh, Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam
hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 năm 2012.
- PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện – TS. Đoàn Thị Phương Diệp – ThS. Lê Nguyễn Gia
Thiện, Giáo trình Luật dân sự tập 2, NXB ĐHQG Tp.HCM.
- TS. Dương Anh Sơn, Các quy định của bộ luật dân sự 2005 về đề nghị giao kết hợp
đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng – nhìn từ góc độ luật học so sánh.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status