NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Vẽ theo mẫu là một phân môn quan trọng, còn có thể nói là xương sống, trọng
tâm và là nòng cốt của bộ môn mĩ thuật. Hơn nữa, với môn mĩ thuật ở tiểu học chúng
ta đang hướng dẫn học sinh cảm thụ mĩ thuật ở mức cảm tính thì phân môn vẽ theo
mẫu lại đóng vai trò quan trọng hơn cả. Khi học sinh nắm vững kiến thức cơ bản ban
đầu của phân môn này một cách vững vàng sẽ là điều kiện và khả năng để phát huy
các phân môn khác. Khi nói tới bộ môn mĩ thuật chúng ta sẽ hiểu rằng nó được bắt đầu
từ “cảm” sau “cảm” mới là “lý” hay nói cách khác nó bắt nguồn từ “cảm tính” dần
chuyển thành “lý tính”. Chính vì vậy, ở tiểu học mới chỉ dừng ở mức “cảm tính” mà
thôi. Chúng ta dạy học sinh nhằm đạt được mục tiêu là học sinh có kiến thức ban đầu
về mĩ thuật. Để bắt đầu cảm nhận mĩ thuật các em sẽ hình thành khái niệm mĩ thuật
qua cách quan sát, nhận xét sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Và tất thảy những sự
vật hiện tượng ấy được sắp xếp, tổ chức trong 45 tiết (bài) vẽ theo mẫu ở tiểu học.
Trong những bài này là những mẫu vẽ đã được chủ động nghiên cứu để nó trở thành
những mẫu đại diện điển hình cho mọi sự vật hiện tượng.
Vẽ theo mẫu ở tiểu học là một phân môn tạo nên ý thức quan sát để cảm nhận
cái đẹp, cái mĩ của sự vật hiện tượng. Đó sẽ là một trong những kiến thức ban đầu
quan trọng của chương trình mĩ thuật tiểu học, và từ đây, sẽ dần hình thành các kĩ
năng cần thiết để giúp học sinh hoàn thành được các bài tập theo chương trình, và vận
dụng những kiến thức ấy vào học tập, sinh họat hàng ngày. Kiến thức vẽ theo mẫu ở
tiểu học, cũng như các phân môn khác của bộ môn mĩ thuật đều được thiết kế theo
chương trình đồng tâm từ dễ đến khó, đó không phải là những mẫu vẽ, bài vẽ khó và
đòi hỏi trình độ cao siêu mà được bắt đầu từ cách vẽ những nét thẳng, nét cong (đối
với lớp 1), đến vẽ những đồ vật thông dụng như cái xô, cái phích, cái bát… (đối với
lớp 4,5).
phân môn vẽ theo mẫu phần nào đó bị tác động bởi điều kiện dạy học mà giáo viên
chưa chú ý tới phương pháp hiệu quả của phân môn này. Giáo viên dạy còn phụ thuộc
vào nói “suông” hay còn gọi là dạy “chay”, mà dạy “chay” kiểu này rất không hiệu
quả, mà còn ảnh hưởng lớn tới ý thức ban đầu về bộ môn. Yêu cầu của phân môn vẽ
theo mẫu là cho học sinh vẽ mẫu thực, quan sát mẫu thực. Nhưng cũng có nhiều lí do
mà giáo viên vẫn chưa chuẩn bị mẫu thực cho học sinh vẽ được. Chính điều đó, khiến
mỗi học sinh không nhận thức được đầy đủ kiến thức, cũng như kết quả của bài vẽ
kém hiệu quả. Ngoài thực trạng trên vẫn còn nhiều giáo viên sử dụng phương pháp cũ
mà giờ đây đã trở thành lạc hậu, đã tạo nên sự áp đặt kiến thức một cách cứng nhắc và
chưa phù hợp với đại trà đối tượng học, khiến cho học sinh tiếp thu một cách thụ động,
qua loa chiếu lệ, có thái độ không cần thiết. Một số giáo viên vẫn coi bộ môn mĩ thuật
là môn phụ, môn có cũng được, không có cũng không sao, dạy thế nào cũng xong, học
sinh tiếp thu được bao nhiêu cũng mặc kệ, khiến cho việc khích lệ các em khá, giỏi có
năng khiếu và các em yếu, trung bình bị hạn chế. Phương pháp giảng dạy của bộ môn
mĩ thuật nói chung và phân môn vẽ theo mẫu nói riêng là rất đặc thù, rất riêng. Đòi hỏi
người thầy phải hiểu rõ mình đang dạy đối tượng đại trà không có năng khiếu bằng
một môn năng khiếu. Cái khó là rất khó nếu những người đóng vai trò gợi mở cho học
sinh không biết cách tìm tòi, sáng tạo và sử dụng linh họat nhiều phương pháp; cái dễ
lại rất dễ nếu chúng ta sử dụng các phương pháp linh họat có sáng tạo một chút, học
sinh sẽ tiếp thu bài một cách độc lập, hiệu quả cao.
Vì là một phân môn đòi hỏi học sinh phải tập chung quan sát mẫu là chính mà
giáo viên một mặt không chuẩn bị mẫu thực, một mặt chưa hướng dẫn kĩ (kể cả lúc
học sinh thực hành). Hầu hết học sinh sau khi nghe giảng cách vẽ theo mẫu nhưng vẫn
chưa vẽ được theo mẫu, bởi lời giảng của giáo viên còn trừu tượng, chưa phù hợp với
cảm tính ở lứa tuổi của trẻ. Nhiều khi giáo viên còn coi học sinh như những người học
chuyên về họa, lời giảng còn nhiều lý tính, gần như để dạy học sinh trở thành họa sỹ.
Trong khi đó mục tiêu của chúng ta lại không phải là như vậy.
Nói tóm lại, để giảng dạy tốt phân môn vẽ theo mẫu ở tiểu học. Giáo viên cần
hướng học sinh theo định hướng tích cực, truyền tải cho học sinh những khái niệm mĩ
thuật hết sức cụ thể, đơn giản và dễ hiểu. Kết hợp lời giảng với ví dụ, chứng minh thực
có khi vẽ lệch sang trái, sang phải, thậm chí có khi lại vẽ tụt xuống tận dưới đáy của
trang vẽ khiến bài vẽ bị lệch lạc về bố cục, không cân đối với trang giấy. Qua thực tế
giảng dạy rôi nhận thấy yếu điểm này của học sinh chiếm tỷ lệ tương đối lớn (khoảng
20 đến 30 %).
Từ cơ sở lí luận và một số vấn đề thực tế còn hạn chế, vướng mắc đối với cả
giáo viên và học sinh, đã ảnh hưởng ít nhiều tới kết quả dạy học phân môn vẽ theo
mẫu của bộ môn mĩ thuật. Tôi xin mạnh dạn đưa ra biện pháp nhằm khắc phục để
nâng cao chất lượng cho phân môn này bằng đề tài kinh nghiệm: “Một số kinh
nghiệm dạy phân môn vẽ theo mẫu ở tiểu học”.
B/. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I/. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH.
Vẽ theo mẫu rèn luyện cho học sinh khả năng quan sát, nhận xét và kĩ năng vẽ
nét, vẽ bố cục và vẽ hình. Vẽ theo mẫu còn giúp học sinh hiểu được vẻ đẹp của mẫu,
tạo điều kiện để học sinh học các bài vẽ trang trí, vẽ theo đề tài, vẽ tự do, thường thức
mĩ thuật thuận lợi và hiệu quả hơn
Phân môn vẽ theo mẫu xuyên suốt chương trình mĩ thuật tiểu học được thiết kế
theo qui trình đồng tâm, các đơn vị kiến thức được lặp lại nhưng có nâng cao hơn qua
mỗi bài, mỗi lớp. Từ lớp một cho tới lớp năm bao gồm 45 bài vẽ theo mẫu . Với những
mẫu vẽ đơn giản thường là những hình khối, đường nét quen biết như: nét thẳng, nét
cong, các hình cơ bản (hình tròn, hình vuông, tam giác, chữ nhật …); khối đơn giản
(khối hộp, khối cầu, trụ…); vật dụng phổ biến, gần gũi (cái xoong, cái ấm, cái chén,
cặp sách, lá cây, quả cây …). Khi học vẽ theo mẫu học sinh sẽ nắm được cách vẽ cân
đối, vẽ từ bao quát đến chi tiết. Vẽ từ những hình cơ bản tới những đồ vật cụ thể, bước
đầu so sánh kích thước, hình dáng, đậm nhạt, màu sắc của vật mẫu. Từ đó học sinh sẽ
cảm nhận được mẫu, vẽ mẫu theo sự “cảm” và so sánh để hình vẽ gần đúng với mẫu
hơn.
Trong bộ môn mĩ thuật bao gồm năm phân môn: vẽ theo mẫu ; vẽ trang trí; vẽ
theo đề tài và vẽ tự do (nay là vẽ tranh); xem tranh (nay là thường thức mĩ thuật) và
tập nặn (nay là tập nặn tạo dáng tự do). Trong năm phân môn này chúng ta thấy vẽ
theo mẫu là phân môn rất quan trọng và cần thiết cho các phân môn còn lại. Bởi vì,
+ Hướng dẫn học sinh quan sát nhận xét.
+ Hướng dẫn học sinh cách vẽ.
+ Hướng dẫn học sinh thực hành.
+ Nhận xét đánh giá bài của học sinh.
+ Củng cố bài giảng bằng trò chơi phù hợp.
Sáu vấn đề này được giải quyết tốt thì hiệu quả sẽ đem lại một bài giảng thành
công cho một phân môn quan trọng của bộ môn mĩ thuật. Cụ thể từng vấn đề một sẽ
được giải quyết ở phần III dưới đây.
III/. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT.
1/. VẤN ĐỀ THỨ NHẤT: CÔNG TÁC CHẨN BỊ CẦN THIẾT CHO BÀI GIẢNG.
Chuẩn bị cho một bài giảng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Cả giáo viên (người
dạy) và học sinh (người học) đều phải có sự chuẩn bị chu đáo cho một bài học. Mọi
yếu tố của bài được chuẩn bị tốt thì tiết dạy sẽ hiệu quả, thành công, ngược lại nếu
không chuẩn bị tốt sẽ lúng túng mất thời gian và không hiệu quả.
a/. Sự chuẩn bị đối với giáo viên.
Giáo viên cần chủ động chuẩn bị hai nội dung cụ thể đó là: Đồ dùng dạy học
(mẫu vẽ, trực quan các bước vẽ theo mẫu) và chuẩn bị phương pháp giảng dạy (theo
từng bài, từng lớp).
* Đối với việc chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên: Đối với môn mĩ thuật
nói chung và phân môn vẽ theo mẫu nói riêng, việc sử dụng đồ dùng dạy học (ĐDDH)
là đặc biệt cần thiết. Bởi vì, dạy mĩ thuật là dạy trên những gì cụ thể, hiện diện một
cách rõ ràng trước học sinh. Học sinh phải được quan sát một cách cụ thể về hình
dáng, đậm nhạt, mầu sắc, đường nét, bố cụ và tương quan vật mẫu (đối với bài hai
mẫu). Đó cũng chính là kiến thức cơ bản của bộ môn mĩ thuật. Vì thế, để dạy tiết học
vẽ theo mẫu cần phải chú ý nhiều tới ĐDDH và phương pháp sử dụng đồ dùng dạy
học.
Khi nói tới dạy mĩ thuật tức là nói tới việc sử dụng phương pháp “trực quan”.
Vì học sinh phải quan sát, nhận xét thì mới hình thành được khái niệm. Hơn thế vẽ
theo mẫu lại phải trực quan cụ thể, thực tế. Thực tế ở chỗ vẽ theo mẫu phải có mẫu
cụ thể như giá vẽ cho học sinh. Thì với sỹ số trên (trên 30 em/lớp), cùng với phòng
học chưa đủ tiêu chuẩn về diện tích và ánh sáng thì học sinh vẫn chưa thể quan sát
hiệu quả và vẽ hiệu quả được. Vì điều đó, cho nên giáo viên chuẩn bị mẫu chu đáo
theo nhóm là cần thiết và thực tế nhất. Nhưng bên cạnh cũng có những bài chỉ cần một
mẫu mà học sinh đông và ngồi học tại lớp học “thông thường” nhưng cũng vẫn vẽ
được bài tốt như bài: Vẽ lá cờ tổ quốc (Bài 9 MT lớp 2 trang 20).
- Giáo viên phải có khả năng thị phạm tốt bởi vì, học sinh rất thích và rất “tâm
phục”, “khẩu phục” khi giáo viên minh họa bảng đẹp và nhanh. Giáo viên chuẩn bị tốt
khả năng này, bài giảng của giáo viên sẽ rất hấp dẫn và hiệu quả cao. Đặc biệt sẽ định
hướng cho học sinh vẽ bài của mình. Khi giáo viên giảng tới cách vẽ phần nào thì
minh họa ngay bước đó đồng thời bám sát hình với mẫu thực. Việc đó, sẽ dẫn tới học
sinh dần hình thành ý thức một cách có hệ thống.
- Giáo viên cần chuẩn bị mẫu để so sánh với mẫu chính thức. Với một bài vẽ
theo mẫu ngoài việc giáo viên chuẩn bị một mẫu vẽ chính thức thì giáo viên cần chuẩn
bị thêm một số mẫu tương tự, hoặc mẫu đối lập để học sinh so sánh, nhận xét nhanh
chóng và dễ dàng hơn.
Ví dụ: ở bài vẽ quả có dạng hình tròn: Ngoài vệc chuẩn bị một mẫu chính thức
là quả táo lê chẳng hạn thì giáo viên cần chuẩn bị thêm một số quả cũng có dạng hình
tròn khác như quả cam, quả quýt, dưa lê, ổi, …
- Giáo viên cần chuẩn bị cho bài giảng của mình những tranh vẽ các bước dựng
hình, cách vẽ cụ thể, hoặc để quan sát nhận xét… Tất cả đều thể hiện trên giấy khổ lớn
để học sinh dễ quan sát (trực quan đủ rõ, đủ to). Việc chuẩn bị này có tác dụng trực
tiếp tới giáo viên rất lớn. Có nó, giáo viên thao tác các bước trên bảng rất linh họat,
làm cho giờ giảng lí thuyết không mất nhiều thời gian, không bị lúng túng… Việc
chuẩn bị trực quan tốt còn giúp học sinh hình thành khái niệm mẫu vẽ một cách nhanh
nhất, đơn giản nhất, hiệu quả nhất. Phần chuẩn bị này giáo viên có thể chỉ việc phóng
5
ngoài bao kín vật mẫu tạo thành một khung hình bao quanh. Khung hình đó được gọi
là khung hình chung.
Mọi phương pháp giáo dục của giáo viên tuy cùng nhằm cung cấp kiến thức và
phải theo những qui định chung nhưng khi vận dụng, giáo viên không đòi hỏi, không
bắt buộc tất cả học sinh làm bài như nhau và tuân thủ một cách máy móc, rập khuôn
theo cái chung. Học sinh tuy vẽ cùng một mẫu nhưng sản phẩm sẽ rất khác nhau về
nét, về hình, về mầu, về cách bố cục, cách nhìn, cách hiểu, cách cảm nhận của mỗi học
sinh khác nhau sẽ tạo ra những sản phẩm có nhiều vẻ khác nhau. Vì thế, có thể nói, kết
quả học tập của học sinh phụ thuộc vào sự “giàu có” kiến thức, vào “nghệ thuật truyền
đạt” của giáo viên. Nhưng quan trọng hơn cả là khả năng cảm nhận của học sinh. Bởi
lẽ học sinh có thích thú thì mới chịu khó suy nghĩ, tìm tòi và thể hiện bằng cảm xúc
của mình. Vẽ có cảm xúc bao giờ cũng có hiệu quả cao. Vì thế dạy học mĩ thuật nói
chung và dạy vẽ theo mẫu nói riêng không đơn giản là dạy và học kĩ thuật vẽ mà còn
phải kết hợp với dạy và học cảm thụ thế giới quan xung quanh. Bắt buộc, gò ép học
sinh trong học mĩ thuật sẽ dẫn đến khuôn mẫu, đồng điệu.
Phương pháp giảng dạy của giáo viên cần phát huy được tính tích cực, sự độc
lập suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh và đây cũng là tư tưởng chủ đạo của
phương pháp dạy học mĩ thuật nói chung và daỵ vẽ theo mẫu nói riêng. Kết quả cuối
cùng của việc “dạy” là kiến thức phải “đến” phải “vào” người học. Hơn nữa, học sinh
phải là người chủ động tiếp nhận kiến thức từ giáo viên. Vì thế khi giảng dạy, giáo
viên không chỉ quan tâm đến phương pháp dạy của giáo viên mà còn phải chú ý tới
6
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
vẽ tốt được yêu cầu của bài (vẽ một lá cây), thì học sinh nên quan sát trước lá cây ở
nhà và chuẩn bị ít nhất một lá cây để đến lớp làm bài thực hành vẽ lá cây mình đã
chuẩn bị. Việc chuẩn bị này giúp học sinh tư duy nhanh hơn, so sánh dễ dàng hơn và
đặc biệt tiếp thu bài cũng nhanh hơn.
+ Việc chuẩn bị đồ dùng học tập cũng là một yếu tố rất cần thiết đối với học
sinh. Bởi vì, cũng như thầy (T) nếu chuẩn bị thiếu mẫu thì không phải là dạy vẽ theo
mẫu, còn trò (H) nếu thiếu đồ dùng học tập cũng coi như là không phải học mĩ thuật.
Những đồ dùng của học sinh không thể thiếu được đó là: Vở mĩ thuật (Vở tập vẽ đối
với lợp 1,2,3); bút vẽ (bút chì, bút dạ mầu, bút sáp mầu…). Học sinh mà đã chuẩn bị
được đồ dùng học tập tức là giờ giảng đã được góp một phần lớn vào hiệu quả của giờ
dạy.
Như chúng ta thấy nếu học sinh không có vở dẫn tới học sinh không làm bài,
hoặc làm lấy lệ và chắc chắn phần chuẩn bị ở nhà là học sinh không hề chú ý, không
muốn nói là không cần chuẩn bị, và nếu học thiếu mầu, hoặc bút chì các em sẽ thực
hành một là bằng bút mực, hai là chờ để mượn của bạn khác. Như vậy chúng ta thấy
rất rõ học sinh không chuẩn bị đồ dùng học tập dẫn tới hai hiện trạng đó là ở nhà thì
7
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
không chuẩn bị, ở lớp thì lười làm bài. Do mượn đồ dùng học tập lớp học sẽ rất mất
trật tự và ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tiết dạy.
* Như vậy việc chuẩn bị tốt của T và của H cho bài học vẽ theo mẫu sẽ đem lại
hiệu quả cao cho tiết học và khắc phục được cách Dạy-Học cũ và lạc hậu.
2/. VẤN ĐỀ THỨ HAI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH QUAN SÁT, NHẬN XÉT MẪU
Trong phương pháp giảng dạy cũ: Giáo viên thường vấn đáp học sinh và học
sinh trả lời câu hỏi máy móc thậm chí vu vơ bởi học sinh thường không chú ý tới mẫu.
Do đó, việc đầu tiên để dạy tốt và hướng dẫn tốt học sinh quan sát, nhận xét thì giáo
viên cần chủ động khắc phục cách bày mẫu và chuẩn bị mẫu cũng như phương pháp
cho học sinh quan sát mẫu.
- Giáo viên bầy mẫu: lớp học thường đông cho nên giáo viên nên bầy mẫu vào
giữa lớp và kê bàn ghế theo hình chữ u để học sinh nào cũng có cự ly gần với mẫu, và
đảm bảo các em được quan sát mẫu 100%, không có hiện tượng học sinh này quan sát
“mẫu” tại “gáy” học sinh ngồi trước mình.
- Giáo viên chuẩn bị mẫu: Nếu là những mẫu nhỏ, như cái cốc, cái lá, quả
cây… Giáo viên nên chuẩn bị nhiều mẫu gống nhau để học sinh quan sát theo nhóm
(số lượng nhóm tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế lớp học để giáo viên quyết định). Khi
học sinh quan sát theo nhóm, học sinh sẽ nhận xét, so sánh mẫu rất hiệu quả, khắc
8
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
phục được việc học sinh không quan sát mẫu, nói chuyện và đùa nghịch. Nhưng cái
lớn nhất đạt được là học sinh đều nhận xét và có khả năng mô phỏng lại được mẫu gần
giống thực.
- Giáo viên chủ động đối với phương pháp dạy quan sát mẫu: Việc hướng dẫn
của giáo viên dạy vẽ theo mẫu là rất khéo léo, học sinh tiểu học do tâm lý lứa tuổi các
em chỉ nhận thức vấn đề từ cảm tính, nhìn thấy thực tế. Vì lý do này, giáo viên cần
hình tượng, cụ thể hoá mẫu vẽ thành những hình phải đơn giản, cụ thể và dễ mô
phỏng. Ví dụ: Vẽ cái cốc trước hết phải hướng dẫn học sinh vẽ một hình học giống cái
tam giác.
- Giáo viên đưa một số mẫu giống hình tam giác (cái nón, ê ke, khăn quàng…)
rồi giáo viên đặt câu hỏi: Những vật này giống hình gì ? Học sinh sẽ tư duy so sánh
nhận xét đua ra kết quả là giống hình tam giác.
- Giáo viên cho học sinh nhận xét, trong gia đình mình còn có những vật dụng
gì giống hình tam giác ?
Lúc này do học sinh được chuẩn bị kĩ ở nhà và cách gợi tả của giáo viên qua
câu hỏi thứ nhất về các đồ vật, học sinh sẽ nhận biết và kể rất nhiều thứ ở gia đình
mình giống hình tam giác. Với hình học đơn giản này giáo viên không cần hướng dẫn
9
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
học sinh vào cấu tạo của tam giác . Bởi vì, hình tam giác các em đã được làm quen và
biết rõ từ khi các em học mẫu giáo lớn, và từ đầu lớp 1 qua môn toán. Vì vậy, giáo
viên sẽ tập trung để học sinh hiểu được vẽ một hình tam giác cần vẽ như thế nào (cách
vẽ) và để hiểu được thì học sinh phải biết quan sát và nhận xét hình.
Do yêu cầu của bài đối với phần thực hành (giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ
một bức tranh về biển bằng những hình tam giác). Nên ở phần chuẩn bị giáo viên chú
ý tới trực quan của bài (hình vẽ thuyền buồm, núi, các con cá), những trực quan đều
phải bắt nguồn (giống hình tam giác). Tới lúc này, sau khi giáo viên cho học sinh kể
được tên của nhiều đồ vật giống hình tam giác, giáo viên sẽ treo một số tranh gợi ý mà
giáo viên đã chuẩn bị như: Tranh vẽ một thuyền buồm, học sinh sẽ nhận xét phần nào
của thuyền buồm gống hình tam giác. Tương tự như vậy đối với các hình khác giáo
viên cũng đưa học sinh vào hoàn cảnh có vấn đề (tức là cho học sinh nhận xét và nêu
để bầy mẫu, chú ý cho học sinh nhỏ đứng (ngồi) trước học sinh lớn.
- Trước khi vào phần hướng dẫn học sinh quan sát nhận xét, giáo viên đặt câu
hỏi: Mẫu hôm nay vẽ có gì khác với mọi khi ?. Mục đích để học sinh hiểu được đây là
một mẫu khó, đòi hỏi học bài cần tập trung cao, có tư duy so sánh, tạo không khí thích
tìm tòi, khám phá của học sinh, và gây chú ý cho học sinh đối với mẫu bầy phía trước.
10
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
- Đối với phần quan sát hình chung: Giáo viên nên chuẩn bị hai miếng bìa: Một
miếng được đục lỗ hình chữ nhật bao quanh cả hai mẫu, có thể làm cả ba hướng thì
cần ba miếng đục lỗ ca chiều rộng khác nhau; và một miếng bìa đục thủng hình chữ
nhật bao quanh vừa cái bát, hình nhỏ này chỉ cần một bởi cái bát nhìn ở hướng nào
cũng có tỷ lệ giống nhau. Mục đích của sự chuẩn bị này là khi đặt câu hỏi đối với học
sinh về hình chung và hình riêng của vật mẫu trông giống hình gì?, hình riêng của cái
bát nhỏ bằng một phần mấy của hình chung ? ; hoặc hình riêng của các vật so sánh với
nhau. Khi giáo viên cụ thể hoá bằng cách đục lỗ miếng bìa thì học sinh nhận xét hình
rất nhanh và so sánh rất tốt bởi vì, trẻ ở tiểu học thường cảm nhận trực quan là chính.
Nếu chúng ta hướng dẫn học sinh bằng cách chỉ vào mẫu và yêu cầu học sinh so sánh,
cho biết hình chung, hình riêng thì e rằng học sinh ước lượng, tính toán rất khó chính
xác được. Việc đục lỗ miếng bìa làm đơn giản ở chỗ học sinh sẽ chỉ nhìn thấy một lỗ
thủng mà trong nó (phía sau) chứa chọn vẹn mẫu vẽ, đương nhiên khái niệm về hình
chung, hình riêng hình thành rất nhanh.
- Đối với việc quan sát so sánh từng phần của từng vật mẫu: Do đây là mẫu
ghép (hai mẫu) nên hai đồ vật sẽ có rất nhiều chi tiết: Như miệng của tích, vòi tích,
sự quan sát của học sinh theo cách tương tự.
11
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
* Qua hai ví dụ cụ thể trên chúng ta thấy để bắt đầu học vẽ nói chung và vẽ theo
mẫu nói riêng thì việc quan trọng đó là phải quan sát, nhận xét. Khi quan sát nhận xét
đầy đủ mẫu việc tiến hành vẽ của học sinh sẽ dễ dàng và ít mắc phải lỗi sai lớn về tỷ
lệ, hình dáng. Có thể nói phần hướng dẫn quan sát nhận xét là điều kiện bất biến để
hướng dẫn tiếp học sinh cách vẽ.
3/. VẤN ĐỀ THỨ BA: HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VẼ.
Cấu tạo của tiết vẽ theo mẫu được chia làm hai phần: Phần một là hướng dẫn;
phần hai là thực hành. Thời gian cho hai phần này cũng khác nhau: Phần hướng dẫn
rất quan trọng nhưng giáo viên lại không được giảng quá nhiều chỉ nên chiếm 1/4 hoặc
1/3 tiết học (khoảng 10 - 15 phút) trong đó lại gồm 2 phần hướng dẫn đó là: hướng dẫn
quan sát, hướng dẫn cách vẽ. Phần quan sát chúng ta vừa được tìm hiểu xong. Riêng
phần cách vẽ giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh cụ thể và đơn giản theo một số
nội dung sau:
a/. Hướng dẫn về bố cục (cách sắp xếp): Trước hết bài vẽ bao giờ giáo viên
cũng cần phải hướng dẫn học sinh xây dựng ý đồ với một bố cục đẹp, tức là sắp xếp
phải cân đối, thuận mắt. Ở phần hướng dẫn này giáo viên vẫn thường xuyên không chú
ý tới vai trò của nó, mà thường hướng dẫn qua loa, không cơ bản và nhất quán khiến
cho các em hay vẽ nhỏ quá (phổ biến) và vẽ lệch trang giấy. Như vậy kết quả bài vẽ
chưa đẹp mắt không dám nói nhiều bài còn thấy khó chịu. Vì vậy, tôi đưa ra một
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
Việc hướng dẫn vẽ kung hình chung này được đơn giản và hiệu quả thì phần
quan sát nhận xét sẽ đóng một vai trò tương đối quan trọng. VD như trong phần vẽ
khung hình chung này đã được giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bằng cách đục
lỗ trên tấm bìa. Do đó, khái niệm hình chung đến với học sinh sẽ dễ dàng hơn. Nếu ở
phần hướng dẫn quan sát nhận sét giáo viên không sử dụng phưng pháp đó. Khi giáo
viên hướng dẫn học sinh vẽ khung hình chung cần đặc biệt chú ý tới tỷ lệ (tức là chiều
rộng so với chiều cao). Nếu khung hình có tỷ lệ chuẩn thì việc mô phỏng mẫu sẽ khó
giống thực.
Ngay từ đầu, khi giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ hình chung cần phải yêu cầu
học sinh không được dùng thước kẻ để kẻ hình chung. Thông thường khi giáo viên
minh họa trên bảng học sinh thấy hình chung vốn thường là hình chữ nhật hay hình
vuông cho nên tiện thể dùng thước kẻ để kẻ cho thẳng, đó thực sự là một thói quen cần
phải định hướng lại ngay từ bây giờ bởi lúc này các em mới đang bắt đầu làm quen với
mĩ thuật. Vẽ theo mẫu trong chương trình mĩ thuật tiểu học còn có rất nhiều bài có
dáng hình dạng nét thẳng cho nên giáo viên không uốn nắn ngay từ bây gì thì các em
sẽ tạo thành thói quen, lối mòn khó gỡ bỏ. Phân môn vẽ theo mẫu luyện tập khả năng
vẽ nét và đậm nhạt, trong đó vẽ nét là yếu tố rất quan trọng. Khi tay đã vẽ luyện nét
thuần thục rồi thì việc vẽ các phân môn khác là rất khả dĩ. Chính vì vậy , mà giáo viên
không được để các em (học sinh) dùng thước kẻ hoặc compa để vẽ theo mẫu nếu vẽ
như vậy thì nét vẽ của học sinh không mềm mại, thay vào đó là nét vẽ cứng nhắc, đơn
điệu, việc tạo nên nét vẽ đơn điệu và cứng nhắc là điều gây cản trở lớn khi học sinh
học cao lên, đòi hỏi vẽ mẫu khó hơn.
c/.Tìm và xác định vị trí của các bộ phận chi tiết trên mẫu vẽ.
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm
Xu©n Ngäc
dùng bút chì, nhưng vẽ nhẹ tay để tạo thành nét mờ. Một lần nữa giáo viên nhắc lại vẽ
phác bằng nét thẳng chứ không phải kẻ nét thẳng bằng thước kẻ.
Phần này việc quan trọng là làm thế nào để cho học sinh hiểu có bước vẽ nét
thẳng thì hình vẽ sẽ chuẩn và dễ đẹp hơn là chúng ta vẽ nét cong ngay. Lúc đó giáo
viên sẽ sử dụng phương pháp trực quan bằng thị phạm, giáo viên vẽ minh họa hai kiểu
vẽ cùng thể hiện một hình tròn: kiểu thứ nhất lấy tay ngoáy luôn hình tròn tất nhiên
giáo viên phải ngoáy hơi méo, hơi vẹo (bởi lẽ học sinh khó có thể vẽ được tròn bằng
cách này, còn giáo viên minh họa nhiều thì có thể vẽ đơn giản); kiểu thứ hai, cũng vẽ
hình tròn nhưng giáo viên vẽ một hình vuông trước sau đó vát cạnh, góc vuông dần
dần cuối cùng tạo được hình tròn đúng với khung hình và hình tròn sẽ chuẩn và đẹp.
Mục đích của cách minh họa này là học sinh so sánh được 2 cách vẽ: một cách có
khung hình chung và một cách không có khung hình chung và để học sinh thấy cách
thứ hai là cách nên làm theo. Lúc này giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi: Nếu ta vẽ
theo mãu nếu cứ vẽ hình luôn vào vở không cần xác định khung hình gì thì kết quả
theo em sẽ như thế nào ?. Giáo viên sẽ để cho học sinh thoả mái trả lời theo suy nghĩ
của mình, sau nhiều ý kiến giáo viên sẽ giải thích thêm và hướng dẫn các em vẽ phác
nét thẳng theo mẫu bầy trên bảng. Việc giáo viên vẽ phác sẽ tác động trực tiếp tới ý
thức của học sinh cũng có khi là tích cực cũng có khi là không tích cực: VD như:
Nhiều em thấy giáo viên vẽ phá nét thẳng thì mình cũng bắt trước vẽ nét thẳng nhưng
bằng bút mực, khiến hình vẽ bị bẩn và rất rối mắt nếu vẽ tiếp các bước khác. Điều đó
chứng tỏ học sinh vẫn chưa hiểu thật sâu là nét thẳng chỉ để làm khung xương sau lại
tẩy đi ngay.
Vì vậy, mà giáo viên nên cho học học sinh được trả lời vấn đáp nhiều giúp các
em hiểu rõ tác dụng cũng như hiệu quả của vẽ phác nét thẳng, để tránh tình trạng học
sinh vẽ vu vơ, hay vẽ nét tự do.
e/. Hướng dẫn vẽ chi tiết (vẽ mô phỏng giống mẫu):
Bước vẽ này có thể coi là bước cuối (hoàn thiện hình) đối với các lớp nhỏ
họa bảng. Vì nét vẽ bằng phấn của giáo viên ở bước vẽ phác nét thẳng vẫn còn mờ,
khiến hình vẽ minh họa bảng sẽ bị nét chồng. Giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh vẽ nét
chi tiết xong cần phải tẩy bỏ các nét chờm ra ngoài (nét phác) để hình vẽ gọn gàng
hơn.
Phần cuối của bước này giáo viên cần cho học sinh xem minh họa trên giấy khổ
lớn, giáo viên sẽ vẽ hai hình trên 1/2 tờ giấy A 0 (khổ 60 x 80 cm). Một hình vẽ phác
nét thẳng, một hình vẽ chi tiết tất nhiên là phải theo mẫu bài vẽ cụ thể của bài dạy. Khi
học sinh xem tranh các em sẽ có khái niệm hình vẽ trên giấy một cách rõ ràng hơn.
g/. Hướng dẫn học sinh vẽ đậm nhạt:
Riêng phần này chỉ cần áp dụng cho đối tượng là học sinh thuộc lớp cuối cấp
như lớp 4,5. Tuy nhiên đối với lớp nhỏ (1,2,3) cũng cần phải nói qua để các em dần
hiểu. Bởi vì, vẽ đậm nhạt đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững về hình rồi thì mới
vẽ được đậm nhạt, nó còn thể hiện cả tình cảm cảm thụ mẫu, cảm thụ cái đẹp. Khi tới
phần hướng dẫn này giáo viên cần chú ý ngay từ đầu tiết học để bầy mẫu sao cho hợp
với hướng ánh sáng, đảm bảo được một bên mẫu sẽ tối, một bên sẽ sáng để học sinh
quan sát sẽ thấy độ đậm độ nhạt trên mẫu ngay.
Đậm nhạt là một khái niệm tương đối trừu tượng đối với học sinh mới học mĩ
thuật. Vả lại, vẽ theo mẫu về sau này (các cấp học cao hơn) thì không thể thiếu được
vẽ đậm nhạt. Do đặc diểm đó, giáo viên cũng không nên đòi hỏi quá cao ở học sinh và
cũng không nên quá coi nhẹ vấn đề này. Ở tiểu học yêu cầu học sinh bước đầu nhận
biết được đậm nhạt khi vẽ theo mẫu tức là cần vẽ được ba độ đậm nhạt: Sáng, tối,
trung gian. Nhưng vấn đề ở đây là giáo viên làm thế nào để hướng dẫn học sinh hiểu
được ba sắc độ tối thiểu ấy.
Cũng như nhiều phần hướng dẫn trước giáo viên sẽ sử dụng một số phương
pháp tích cực rất đặc thù của bộ môn để các em tiếp thu bài một cách hiệu quả. Giáo
viên vẫn sử dụng phương pháp trực quan, vấn đáp, nhưng vấn đáp nên hỏi từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp. Cụ thể ở phần này giáo viên nên đặt câu hỏi để học sinh
tìm được phần nào là phần đậm nhất, phần nào là phần sáng nhất, giữa đậm và nhạt
(sáng) là độ đậm gì? Nó không phải là đậm và cũng không phải là nhạt vậy sẽ là độ
đậm trung gian của sáng - tối. Khi giáo viên đặt câu hỏi tìm độ đậm nhất: VD: Em hãy
kiến thức về hình thì làm sao vẽ được đậm nhạt. Do vậy, đối với đối tượng này giáo
viên có thể bỏ qua bước này. Để áp dụng phương pháp tôi đề ra, dưới đây là một ví dụ
về cách hướng dẫn học sinh vẽ theo mẫu.
Bài vẽ cái xô: (bài 9 MT lớp 5 trang 20).
* Cách dạy cũ: Thường giáo viên không chuẩn bị được mẫu mà vẽ hình cái xô
lên bảng rồi hướng dẫn các em cách vẽ, theo các bước:
+ Ước lượng chiều cao (cả miệng xô) và chiều ngang, em vẽ khung hình chữ
nhật trước (nhớ để giấy để vẽ quai xô).
+ Tìm phần miệng xô và xác định các điểm chính của miệng.
+ Ước lượng chiều ngang đáy xô.
+ Phác các nét thẳng trước, vẽ nét cong sau.
+ Nhìn mẫu, sửa lại hình và vẽ đậm nhạt (như vẽ ở khối trụ bài 8).
Thường thì do không có mẫu, giáo viên lại áp đặt lời giảng đối với học sinh,
khiến học sinh vẽ không theo mẫu, vẽ tự do và không chú ý tới bố cục làm cho hiệu
quả thấp.
* Áp dụng phương pháp tôi đề ra đối với phần cách vẽ:
- Khi học sinh được ngồi và được quan sát như yêu cầu của phương pháp đề ra
(có mẫu thực, ngồi học theo hình chữ u), thì việc vẽ của học sinh theo sự hướng dẫn
chắc chắn sẽ có hiệu quả.
- Trước khi hướng dẫn vẽ giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm khung hình
chung cho bài vẽ (mẫu vẽ). Giáo viên sẽ áp (đặt miếng bìa đã chuẩn bị, trước mẫu sao
cho lỗ thủng chứa chọn vẹn mẫu vẽ) thao tác xong giáo viên vấn đáp: Khung hình
giống hình gì? (*giống hình chữ nhật đứng).
? Khi hình chung là hình chữ nhật đứng các em vẽ theo chiều nào của trang
giấy vẽ? (giáo viên giơ vở vẽ cho học sinh xem), (* vẽ dọc trang giấy thì hình vẽ cân
đối hơn). Phần này sẽ định hướng cho học sinh cách sắp xếp hình vẽ (bố cục).
Khi hướng dẫn tìm vị trí các bộ phận như miệng xô, quai xô và đáy xô. Lúc này
gọi học sinh lên bảng quan sát và tự đánh dấu các vị trí của các bộ phận ấy vào khung
hình chung mà giáo viên đã vẽ minh họa, (sảy ra hai trường hợp: Học sinh sẽ vẽ tương
đối đúng tỷ lệ; học sinh vẽ sai tỷ lệ). Nếu sai thì tiếp tục cho học sinh dưới lớp quan sát
đều). Ở bước này giáo viên cũng tiếp tục cho học sinh tham gia minh họa trên bảng,
việc học sinh làm việc này chắc học sinh cũng gặp khó khăn (vẽ chưa chuẩn) nếu như
vậy, giáo viên tiếp tục cho học sinh vẽ lại để nhấn mạnh cho học sinh biết, khi làm bàỉ
ở vở cũng vậy cần vẽ bằng bút chì, nếu sai lệch ta tẩy đi ngay và vẽ lại, càng vẽ lại thì
khả năng vẽ của các em càng được nâng cao. Như vậy thao tác của học sinh ít nhiều
giáo viên cũng đưa ra được nhận định để giảng giải và hợp với đối tượng hơn đồng
thời học sinh được quan sát tốt trên mẫu thì nhận xét cho bạn đang thực hành trên bảng
càng hiệu quả.
* Cuối cùng của cách vẽ hình giáo viên cần yêu cầu học sinh nhận xét hình vẽ
theo ba hướng khác nhau, để nêu được quai xô sẽ lệch về bên trái, bên phải và chính
giữa; sau đó giáo viên treo trực quan có ba hình vẽ theo ba góc độ khác nhau đó và
nhắc nếu chúng ta ngồi ở bên trái lớp học thì sẽ thấy quai xô lệch về bên phải; nếu
chúng ta ngồi ở bên phải lớp học thì sẽ thấy quai xô lệch về bên trái; còn nếu ngồi ở
chính giữa thì sẽ thấy quai xô ở chính giữa. (giáo viên phải bầy mẫu theo hướng vuông
góc với dãy bàn ngồi ở cuối lớp và vừa giảng vừa chỉ vào hình vẽ tương ứng được treo
ở trên bảng).
Khi giáo viên minh họa bảng các bước dựng hình xong, giáo viên sẽ hướng dẫn
bước cuối, sửa lại nét hình vẽ (tẩy các nét phác đi) và vẽ đậm nhạt; Giáo viên vẫn tiếp
tục sử dụng phương pháp vấn đáp, trực quan để đặt câu hỏi cho học sinh . Theo như
phương pháp tôi đề ra thì giáo viên sẽ hỏi học sinh bằng cách cụ thể trước rồi mới đưa
tới khái niệm đậm nhạt.
+ Hỏi phần tối nhất của mẫu kết luận đây là tối (học sinh nhận xét và trả lời).
+ Hỏi phần sáng nhất của mẫu Kết luận đây là sáng (học sinh nhận xét, và trả
lời).
+ Hỏi ở giữa thì sao? kết luận đây là vùng trung gian (học sinh nhận xét và
trả lời).
Cuối cùng giáo viên nhấn mạnh muốn vẽ đậm nhạt tốt (hình khối) thì phải đảm
bảo vẽ được ba sắc độ: Sáng nhất; tối nhất; và trung gian.
Ví dụ trên tôi đưa ra nhằm một mục đích thay đổi cách tiến hành một bài vẽ của
học sinh tiểu học trong phần hướng dẫn cách vẽ (đây là phần quan trọng) ở ví dụ này
+ Học sinh làm bài độc lập: Tới giờ thực hành học sinh phải đảm bảo có đủ đồ
dùng học tập 100% (bút chì, tẩy, vở mĩ thuật lớp 5). Học sinh sẽ vẽ theo mẫu ở vị trí
của mình ngồi nhìn thấy, tập trung vẽ sát với mẫu , đảm bảo đúng tỷ lệ của mẫu. Trong
chương trình mĩ thuật ở tiểu học các bài vẽ theo mẫu sẽ được nâng dần ở mức cao hơn
theo đơn vị bài và lớp. Nên đòi hỏi kiến thức và cách thực hành cũng tăng dần lên: nếu
ở lớp 1 chỉ vẽ đơn giản là nét cong, nét thẳng, hình tam giác ….và học sinh cũng chỉ
vẽ mô phỏng mẫu một cách đơn giản, giáo viên cũng không yêu cầu cao đối với học
sinh; nhưng đối với lớp 5 thì bài mẫu đã khó hơn và yêu cầu vẽ các bước cũng cần có
trình độ cao hơn.
- Khi vẽ theo mẫu học sinh cần nhớ một điều đó là không được dùng thước kẻ
để kẻ nét, việc học sinh kẻ khi vẽ theo mẫu là thao tác rất phổ biến, nhiều khi chúng ta
xem nhẹ vấn đề này, nhưng nó lại có ảnh hưởng rất lớn. Bởi sau này (học cao hơn) các
em sẽ có thói quen dùng thước để kẻ khiến bài vẽ quá cứng nhắc, những nét thẳng đó
không phải là vẽ theo mẫu mà gọi là kẻ theo mẫu. Và quan trọng hơn cả là học sinh
không luyện được cách vẽ của tay mà chỉ phụ thuộc vào thước kẻ. Nếu như vậy các
các em sẽ không phát huy được khả năng của mình cũng như sẽ gặp khó khăn khi gặp
phải bài có mẫu khó.
- Học sinh độc lập làm bài còn thể hiện ở chỗ không vẽ chép bài của các bạn
bên cạnh, hoặc cố vẽ giống hình minh họa của thầy ở trên bảng, việc học sinh vẽ như
vậy sẽ làm cho các em tiếp thu bài không đầy đủ.
+ Giáo viên hướng dẫn cá nhân: Việc hướng dẫn cá nhân rất quan trọng trong
thời gian thực hành của học sinh. Phần hướng dẫn học sinh đã nắm được bài một cách
tương đối đầy đủ, tuy nhiên tới giờ thực hành các em sẽ không tránh khỏi những sai
sót, cũng như gặp phải một số vướng mắc, chính vì vậy việc hướng dẫn cá nhân là rất
cần thiết.
Vả lại, trong lúc học sinh thực hành giáo viên hạn chế gây mất tập trung vẽ của
học sinh càng ít càng tốt. Bởi vì, nếu các em đang làm bài thực hành mà giáo viên lại
lấy một bài vẽ của học sinh sai sót không phổ biến của học sinh để nhận xét chung
trước lớp, lúc đó các em phải dừng bài và nghe giảng không cần thiết đối với một bộ
phận học sinh khiến các em mất tập trung. Thay vào đó, giáo viên cần đi quan sát học
tác động tư tưởng yêu thích bộ môn đối với học sinh. Thông thường học sinh hay thích
vẽ theo đề tài và vẽ tự do, còn vẽ theo mẫu các em vốn cũng chưa mặn mà nhiều.
Chính vì lý do đó việc nhận xét bài của học sinh cần phát huy được tinh thần khích lệ
các em hăng hái học phân môn là chính, và phải tôn trọng ý kiến của học trò nếu là
tích cực, nếu phê bài yếu kém thì giáo viên cũng phải dùng cách khen trước để rồi chê
sau.
Tôi vẫn tâm niệm một điều bởi đây là một môn nghệ thuật chứ không phải một
môn khoa học tự nhiên hay một môn khoa học xã hội, tuy nhiên ở tiểu học là dạy cho
học sinh bước đầu cảm thụ nghệ thuật hội họa là chính. Do đó yếu tố tâm lý lứa tuổi sẽ
quan trọng hơn cả, nếu làm các em thích học thì sẽ có nhiều bài vẽ thành công ở học
sinh còn nếu làm cho các em không thích học môn này thì e rằng khó có được những
bài vẽ đẹp của học sinh. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường chuyên nghiệp tôi đã
được hướng dẫn cách nhận xét và đánh giá bài của học sinh một cách tích cực, và qua
thời gian công tác tại trường tiểu học tôi nhận thấy việc nhận xét tưởng chừng đơn
giản này nhưng nó lại có vai trò rất quan trọng. Lời nhận xét của giáo viên có thể
khiến học sinh tiếp tục làm bài nhưng cũng có thể khiến học sinh không thèm làm bài.
Dưới đây là một số nội dung về đánh giá nhận xét bài của học sinh mà ở vấn đề này
chúng ta cần giải quyết:
+ Qua thời gian thực hành, và giáo viên hướng dẫn cá nhân giáo viên có thể
quan sát được những bài vẽ tiêu biểu cho bài đẹp và chưa đẹp để chuẩn bị cho việc
chọn bài và treo lên bảng, (Phần này giáo viên cần chuẩn bị băng dính để dán bài). Khi
thời gian làm bài thực hành hết giáo viên chuyển những bài đã được chọn đó và dán
lẫn lộn trên bảng, không dán phân loại riêng đẹp và chưa đẹp. Mục đích để học sinh tư
duy khách quan theo cảm nhận của mình.
+ Cho ít nhất từ 5 đến 10 em học sinh nhận xét cảm nhận của mình khi xem các
bài vẽ đó, yêu cầu học sinh chọn ra được các bài vẽ đẹp, Giáo viên còn tiếp tục vấn
đáp để học sinh tự nhận xét được vì sao bài đó đẹp, vì sao bài đó chưa đẹp
VD: Giáo viên đặt câu hỏi như em hãy chọn các bài theo em coi đó là đẹp?, Tại
sao em thấy bài đó đẹp hơn các bài kia ?, Em hãy nhận xét về hình vẽ của các bài em
coi là đẹp ?, Những bài vẽ chưa đẹp em thấy hình vẽ của các bạn đó như thế nào? Đối
nếu em vẽ hình vẽ của mình vào giữa trang giấy thì bài vẽ của em rất đẹp và rất cân
đối về bố cục, nếu em có thời gia em hãy vẽ thêm một bài nữa nhưng vẽ vào chính
giữa trang giấy chắc chắn bài vẽ của em đẹp hơn thế này nhiều. Như vậy nếu em đó
được nghe nhận xét có thể sẽ nhìn thấy việc sai của mình nhưng không hề buồn chán,
hay không thích bài của mình vì bên cạnh đó đã có nhiều lời khen, mặt khác em đó
thấy khích lệ về nhà lại vẽ thêm vậy là việc giáo viên khích lệ cho các em vẽ càng
nhiều càng tốt đã tương đối thành công.
Giáo viên căn cứ vào thực tế bài vẽ nhận xét khách quan các bài đã dán lên
bảng đó và cuối cùng cho điểm khích lệ học sinh bằng cách cho điểm cao đối với
những bài vẽ đẹp và hứa giờ sau chấm tiếp các bài còn lại.
Việc nhận xét và đánh giá bài cho học sinh có cả vai trò của học sinh lẫn thầy là
một phương pháp rất tích cực, khắc phục được tình trạng giáo viên chê bai bài của học
sinh một cách thiếu tâm lý, nhận xét áp đặt, không để học sinh có tiếng nói đối với sản
phẩm của mình, và cái được nhất đó là sau tiết học các em lại thích học tiếp ngay, các
em có đầy hứng thú để đón chờ môn học.
6/. VẤN ĐỀ THỨ SÁU: CỦNG CỐ GIỜ HỌC BẰNG TRÒ CHƠI PHÙ HỢP:
Việc dạy mĩ thuật ở tiểu học nói chung và dạy vẽ theo mẫu nói riêng việc cung
cấp một số trò chơi để các em giải trí đồng thời khắc sâu kiến thức bài giảng là rất cần
thiết. Nhưng ở đây là chúng ta cần chú ý tới một số trò chơi phù hợp với các bài vẽ
theo mẫu. Để tiến hành phần này giáo viên cũng cần chuẩn bị cho trò chơi một cách
chu đáo được cụ thể qua giáo án của giáo viên. dưới đây tôi cung cấp một số trò chơi
cho phần củng cố kiến thức vẽ theo mẫu ở tiểu học, tuy nhiên những trò chơi này giáo
viên cần linh họat để sử dụng và thậm chí có thể thay đổi hoặc sáng tạo thêm để nó có
thể phù hợp với nhiều bài vẽ.
** Trò chơi: “Liên kết”. Trò chơi này được sử dụng trong nhiều bài vẽ theo
mẫu có đồ vật, có tác dụng tạo được động tác nhanh khi tham gia chơi và hiểu sâu hơn
mẫu vẽ của bài đó.
20
có thêm hướng kèm theo khẩu lệnh học sinh phải được hiểu là nắp phích được bắt đầu
từ hướng đó, hoặc “phích lộn ngược”…
Trò chơi này giáo viên sẽ sáng tạo để áp dụng cho nhiều bài vẽ theo mẫu có các
mẫu nhiều bộ phận dễ xếp thành đội hình.
* Trò chơi “Ghép hình” . Trò chơi này sẽ ghép những hình là chính mẫu vẽ
buổi hôm đó.
+ Chuẩn bị: Hai hình vẽ mẫu vật tiết dạy đó được cắt làm nhiều mảnh, một
đồng hồ bấm giây, 2 bảng từ, những hình bị cắt nhỏ phải được gắn nam châm để gắn
dính lên bảng từ được, giáo viên phải chuẩn bị độ dính của nam châm trước khi tiết
học bắt đầu để tránh tình trạng nam châm không còn dính khiến các em tham gia chơi
bị lúng túng, mất thời gian.
Chuẩn bị một số quà nhỏ cho học sinh đủ được 4 nhóm chơi.
+ Yêu cầu: Giáo viên phải chuẩn bị hai bộ mẫu đã vẽ sẵn và cắt theo hình rích
rắc để học sinh tìm và ghép lại thành mẫu mà bài vừa mới vẽ. Đối tượng chơi theo
nhóm (hai nhóm, 2 em một nhóm), có thể giáo viên chọn một nhóm nam và một nhóm
nữ hoặc nhóm nam nữ đều được.
Khi bắt đầu chơi giáo viên sẽ bấm giờ để xem đội nào hoàn thành trong thời
gian ngắn hơn đội đó sẽ thắng, thưởng đội thắng bằng phần quà nhỏ, khích lệ đội thua
bằng tràng pháo tay.
+ Phổ biến luật chơi: Giáo viên phổ biến luật tham gia chơi: Hai nhóm xung
phong lên chơi, mỗi nhóm một nam một nữ, khi giáo viên hô “bắt đầu” hai nhóm bắt
đầu chọn hình và dính lên bảng từ (được giáo viên treo sẵn trên bảng), Mỗi nhóm cả
hai bạn đều được dính cùng một lúc miễn sao kết quả hình vẽ phải đúng và gắn trong
thời gian ngắn nhất sẽ thắng cuộc.
21
NguyÔn
Lớp
SL
%
SL
%
SL
%
1
1
61
62
65
66
Ko vẽ đậm nhạt
2
2
86
71
89
74
Ko vẽ đậm nhạt
3
3
92
71
89
68
Ko vẽ đậm nhạt
4
4
Lớp
SL
%
SL
%
SL
%
1
1
70
71
69
70
Ko vẽ đậm nhạt
2
2
89
74
73
60
Ko vẽ đậm nhạt
3
3
98
75
95
73
Ko vẽ đậm nhạt
4
4
thường xuyên có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đối với tri thức, và
đặc biệt có thể tạo điều kiện cho học sinh vững vàng bước vào chương trình mĩ thuật ở
bậc THCS một cách vững vàng.
C/. KẾT LUẬN
1/. Bài học kinh nghiệm.
Như chúng ta đã thấy để đạt được hiệu quả cao của một tiết học vẽ theo mẫu
đối với học sinh tiểu học đòi hỏi người thầy phải linh họat sử dụng các phương pháp
dạy bộ môn cũng như các phương pháp giáo dục truyền thống. Muốn có kết quả cao
không thể không nói tới khâu chuẩn bị của cả giáo viên và học sinh cũng như điều
kiện cơ sở vật chất cho môn học, Khâu đổi mới phương pháp trong từng phần của kiến
thức bài giảng đã đem lại hơi thở mới cho phân môn vẽ theo mẫu này của bộ môn mĩ
thuật.
Việc tổ chức một tiết học nhẹ nhàng sinh động là rất quan trọng và yếu tố thành
công trong tiết học như vậy không thể không nói tới cách tổ chức trò chơi cuối tiết
nhằm khích lệ các em làm bài, có hứng thú khi học bộ môn. Những trò chơi ấy giáo
viên phải biết nhào nặn một cách hợp lý để áp dụng được cho nhiều bài vẽ theo mẫu
khác nhau, Chúng ta vẫn luôn sử dụng cách dạy cho học sinh “Chơi mà học - Học mà
chơi” nhằm tạo không khí vui tươi lành mạnh trong tiết học và đặc biệt đối với đối
tượng là học sinh tiểu học thì việc đó lại càng có vai trò quan trọng hơn.
2/. Điều kiện áp dụng:
+ Đối với giáo viên: Cần có nhiều thời gian để nghiên cứu phương pháp, phải
chuẩn bị nhiều đồ dùng dạy học có chất lượng, Nếu trường chưa trang bị đầy đủ mẫu,
giáo viên cần cố gắng chuẩn bị mẫu không nên để học sinh vẽ mẫu “chay”.
Giáo viên cần thường xuyên luyện vẽ để minh họa bảng đạt thuần thục làm cho
học sinh “tâm phục”, “khẩu phục”, học sinh có đặc điểm là rất thích thầy minh họa.
Giáo viên còn phải tinh tế trong khi sử dụng đồ dùng dạy học và quan sát học sinh
trong khi các em làm thực hành.
23
thoáng, bàn ghế chưa đúng với yêu cầu của bộ môn, chưa dễ vận chuyển để đáp ứng
các phân môn của bộ môn.
+ Chưa có sách tham khảo đối với bộ môn này khiến giáo viên bị bó hẹp kiến
thức, hầu hết giáo viên chỉ biết sử dụng theo sách giáo viên và sách giáo khoa chưa tìm
được sách để mở rộng hoặc học hỏi, tìm tòi nhiều phương pháp mới.
+ Giáo viên chủ nhiệm nhiều khi chưa ủng hộ việc giáo viên bộ môn mĩ thuật
tới dạy khi mình đang dạy dở dang một môn nào đó, và tư tưởng trọng một số môn và
coi nhẹ bộ môn phụ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận giáo viên. Một số giáo viên coi
môn này thích học thì học mà không thì thôi, chẳng ảnh hưởng gì tới chất lượng học
sinh.
+ Do đây là một môn năng khiếu dạy đối tượng đại trà không có năng khiếu nên
chất lượng chưa đồng đều, còn nhiều em vẽ vẫn chưa đẹp, chưa đúng, và chưa ý thức
được.
4/. Hướng tiếp tục nghiên cứu:
Đối với phân môn vẽ theo mẫu việc sử dụng phương pháp giảng dạy lấy học
sinh làm trung tâm sẽ đem lại hiệu quả cao cho bài giảng. Để khắc phục tình trạng học
sinh không chú ý vẽ “theo mẫu”, khắc phục tình trạng học sinh vẽ mẫu thường sai tỷ
lệ, bố cục không đẹp. Vấn đề đặt ra trước mắt cho công tác giảng dạy mĩ thuật là đảm
bảo để học sinh yêu thích bộ môn và thích học phân môn vẽ theo mẫu, phát huy được
tinh thần tự học, tự rèn luyện là chính.
Vậy, hướng cho tôi tiếp tục nghiên cứu sẽ tập trung sâu vào phần “hướng dẫn
học sinh quan sát nhận xét”, có thể giáo viên sẽ thay đổi cách tổ chức trò chơi để phù
hợp với cách quan sát tích cực như cho học sinh chơi ngay đầu giờ. Sau khi ổn định tổ
24
NguyÔn
S¸ng KiÕn Kinh NghiÖm