PHÒNG GD & ĐT MỘC CHÂU
TRƯỜNG THCS MỘC LỴ
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬA THÓI QUEN
VẼ THEO CẢM TÍNH TRONG PHÂN MÔN VẼ THEO MẪU
CỦA HỌC SINH KHỐI 6
TRƯỜNG THCS MỘC LỴ - MỘC CHÂU – SƠN LA
Người thực hiện: Đoàn Văn Đức
Trường Trung học cơ sở Mộc Lỵ Năm học: 2011 - 2012
MỤC LỤC
1 Đoàn Văn Đức
Trang phụ bìa: Trang 1
Mục lục: Trang 2
Danh mục các chữ cái viết tắt Trang 3
Đặt vấn đề: Trang 4
Giải quyết vấn đề:
- Cơ sở lí luận:
Trang 5
Thực trạng của vấn đề: Trang 6
Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề Trang 7, 8, 9, 10
Hiệu quả của sáng kiến: Trang 11
Kết luận: Trang 12
Xác nhận của hội đồng khoa học Trang 13
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.
một con đường mòn lên các lớp trên.
- Thông qua bài vẽ theo mẫu rèn cho học sinh khả năng quan sát tốt các sự vật hiện
tượng, rèn tính kiên trì, tính cẩn thận, tính khoa học trong công việc, học tập.
Nếu học sinh thực hiện đúng yêu cầu của bài( vẽ theo mẫu) thì việc giảng dạy và
giáo dục học sinh sẽ thuận lợi hơn rất nhiều đối với phân môn và các môn học khác có
liên quan.
- Khi tôi giảng dạy học sinh phân môn vẽ theo mẫu thì học sinh không có ý thức
chuẩn bị mẫu, các em trả lời là ở những lớp dưới cứ vẽ theo sách giáo khoa là được. khi
thực hành thì Hs không quan sát mẫu, không vẽ theo mẫu đã bày trước mặt, không thực
hiện theo các góc độ, vị trí mà các em quan sẽ quan sát mà chỉ vẽ theo cảm nhận, theo
Gv vừa minh hoạ bảng, theo sách giáo khoa hay các bài vẽ của học sinh năm trước khi
giáo viên cho quan sát. Theo yêu cầu của phân môn thì những điều đó không thể được
4 Đoàn Văn Đức
tồn tại, cần phải được khắc phục, sửa chữa để nó được trở về đúng nghĩa, đúng yêu cầu
của phân môn Vẽ theo mẫu.
Từ những điều trăn trở trên đã thôi thúc tôi quyết định chọn vấn đề này “một số
phương pháp sửa thói quen vẽ theo cảm tính trong phân môn vẽ theo mẫu của học sinh
khối 6” để viết sáng kiến kinh nghiệm. Tôi hy vọng SKKN này sẽ tìm ra phương án hữu
hiệu để bổ sung cho hoạt động giảng dạy phân môn vẽ theo mẫu đạt được hiệu quả, giúp
HS bỏ được thói quen vẽ theo cảm tính.
2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
- Từ khi lý luận dạy học ra đời bắt đầu hình thành những định nghĩa khác nhau về
phương pháp dạy học, mỗi định nghĩa nhấn mạnh một vài khía cạnh nào đó, phản ánh sự
phát triển nhận thức của các nhà khoa học, các nhà sư phạm về bản chất khái niệm
phương pháp dạy học ở một thời kỳ xác định.
- Với mục tiêu chung và chương trình cụ thể, dạy học mĩ thuật ở THCS không chỉ là
vẽ mà lấy hoạt động mĩ thuật để nâng cao hiểu biết cho học sinh giúp các em có thêm
kiến thức, kĩ năng trong quá trình hoàn thiện nhân cách Đức – Trí - Thể - Mĩ.
- Dạy học mĩ thuật ở bậc THCS có 4 phân môn chính:
hình, vẽ đậm nhạt theo góc nhìn của mình, thông qua sự gợi ý, yêu cầu của Gv.
- Tất cả các lí luận nêu trên sẽ giúp học sinh đến với phần quan trọng của phân môn
là thực hành, phần này sẽ đánh giá cụ thể kết quả của học sinh trong phân môn. ở phần
này thì vai trò của Gv cũng rất quan trọng. Gv phải bao quát lớp đến từng Hs để theo dõi
xem ở vị trí đó Hs đã vẽ đúng chưa để có biện pháp sửa chữa kịp thời.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
1. Thuận lợi.
* Đối với giáo viên:
- BGH và nhà trường luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện về mọi mặt cho môn học.
- Môn mĩ thuật đã được đưa vào trong chương trình hoc bắt buộc đã lâu, từ học sinh
tiểu học cũng đã được tiếp cận với môn mĩ thuật nói chung, phân môn vẽ theo mẫu nói
riêng nên có nhiều thuận lợi khi giảng dạy phân môn.
- Mẫu vẽ phong phú, dễ tìm, dễ chuẩn bị, hình khối sinh động, gây được hướng thú
cho HS khi tiếp cận đến phân môn.
- phân phối chương trình thì phù hợp, lôgic, có sự trợ giúp cho nhau giữa bài này với
bài khác trong phân môn.
- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình, đầu tư đầy đủ đồ
dùng cho con em để học phân môn.
* Đối với học sinh:
- HS thích phân môn vẽ theo mẫu hơn các phân môn khác trong chương trình mĩ
thuật.
- Nhiều em có ý thức đối với môn học, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng.
2. Khó khăn.
* Đối với giáo viên:
- Đây là HS đầu cấp mọi nề nếp, môi trường học tập có sự thay đổi, HS dè dặt khi
được gọi lên bảng thực hiện các yêu cầu của môn học.
- Bục đặt mẫu không có.
- Hs còn hiểu lơ mơ về vẽ theo mẫu.
- Dụng cụ, trang thiết bị, mẫu vẽ dùng cho phân môn còn quá ít.
- Chưa có phòng học riêng cho phân môn.
* Hiệu quả:
Hs dễ nắm cấu trúc chung của mẫu, để từ đó dẽ dàng vẽ với bất kì mẫu nào, giúp cho
học sinh cách nhìn, cách phân tích.
7 Đoàn Văn Đức
b. Xác định đường tầm mắt:
- Đường tầm mắt là một đường thẳng nằm ngang với tầm mắt người nhìn. Vậy để học
sinh hiểu được và xác định được đường tầm mắt là rất quan trọng. khi xác định được
đường tầm mắt thì học sinh mới biết được các đồ vật biến dạng như thế nào?
Đường tầm mắt Đường tầm mắt Đường tầm mắt
* Vai trò:
Xác định đường tầm mắt là một vai trò rất quan trọng vì thông qua hoạt động này Hs xác
định được đường tầm mắt cao hay thấp, trên hay dưới ở vị trí mình quan sát để từ đó Hs
thấy được sự biến dạng của cấu trúc đồ vật.
* Tác dụng:
Giúp học sinh dễ dàng ước lượng tỷ lệ các bộ phận.
* Hiệu quả:
Hs sẽ thực hiện tốt hơn, chính xác hơn bài vẽ theo mẫu.
c. Quan sát bài vẽ của HS năm trước ở các góc độ khác nhau:
Khi quan sát các bài vẽ của học sinh khác. HS sẽ biết so sánh để thấy được sự khác nhau
khi quan sát ở các góc độ khác nhau.
* Vai trò:
Quan sát bài vẽ của Hs năm trước để học sinh thấy được các bài vẽ thực tế ở các góc độ
khác nhau để từ đó Hs có hướng cho bài vẽ của mình.
* Tác dụng:
Tạo cho Hs hình thanh ý thức tự so sánh các bài vẽ, tạo cho Hs niềm hồ hởi, phấn khởi
để vẽ bài của mình tốt hơn.
* Hiệu quả:
? Hình vẽ, nét vẽ.
? Đậm nhạt của bài.
* Vai trò:
Đánh giá công bằng giữa Hs này và Hs khác trong lớp về kết quả học tập, Hs thấy được
kết quả thực chất của bài vẽ và đây là học, học một cách thiết thực và sinh động.
* Tác dụng:
Tạo cho Hs có tính độc lập trong suy nghĩ và đưa ra ý kiến riêng của mình đối với bài vẽ
của bạn, tự đánh giá bài vẽ của mình.
* Hiệu quả:
Hs thấy được sự công bằng, thoải mái, có kế hoạch cho các bài vẽ sau.
10 Đoàn Văn Đức
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN:
+ SKKN đã được áp dụng ở các lớp: 6A, 6B, 6C của khối 6 trường THCS Mộc Lỵ
cho tất cả các học sinh khi học phân môn vẽ theo mẫu.
+ Kết quả cụ thể:
Trong thời gian một năm học tôi áp dụng sáng kiến của mình thì thấy đã đạt được kết
quả tương đối khả quan, Hs đã hiểu và nắm chắc thế nào là bài vẽ theo mẫu, nhiều Hs
đạt kết quả cao đối với bài vẽ của mình và tin rằng một kì học còn lại tôi vẫn áp dụng
sáng kiến này học sinh sẽ hoàn toàn bỏ được thói quen vẽ theo cảm tính đó.
* CHẤT LƯỢNG CỦA NĂM HỌC TRƯỚC:
STT Lớp TSHS
Xếp loại - Tỷ lệ %
Giỏi % Khá % Tb % Yếu %
1 6A 20 1 5 6 30 13 65
2 6B 20 2 10 8 40 8 40 2 10
#. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC SINH TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
KINH NHGIỆM.
STT Lớp TSHS
Xếp loại - Tỷ lệ %
- Theo tôi sáng kiến này có khả năng áp dụng rộng rãi hơn trong thời gian tiếp theo.
c. Những bài học kinh nghiệm:
12 Đoàn Văn Đức
- Khi áp dụng sáng kiến vào công tác giảng dạy tôi thấy học sinh nắm rất chắc kiến thức
vẽ theo mẫu là gì.
- Để bài vẽ theo mẫu có hiệu quả tốt thì việc nhắc học sinh chuẩn bị mẫu là rất quan
trọng, nó chiếm 60% điều kiện để bài vẽ theo mẫu thành công.
- Bục bày mẫu cũng rất quan trọng, đa số các trường học đều không có bục bày mẫu vì
vậy khi giảng dạy phân môn vẽ theo mẫu giáo viên gặp rất nhiều khó khăn.
- Khi giảng dạy phân môn thì học sinh rất hướng thu để học nhưng để hướng dẫn được
học sinh thực hiện tốt bài thì tương đối khó, đòi hỏi người giáo viên phải biết kết hợp
nhiều phương pháp dạy học phù hợp với phân môn.
- Việc dánh giá kết quả học tập rất quan trọng, qua việc đánh giá học sinh sẽ thấy được
những gì mình chưa làm được. Việc đánh giá cần cho các học sinh đánh giá lẫn nhau từ
đó học sinh thấy được sự công bằng, khách quan, tạo được hướng thu cho bài vẽ sau.
d. Đề nghị, kiến nghị.
- Đề nghị với Phòng giáo dục trang bị thêm trang thiết bị học tập như trang, ảnh, mô
hình, sách, tài liệu tham khảo cho bộ môn mĩ thuật.
- Ban giám hiệu nhà trường quan tâm hơn nữa đến môn học, tạo điều kiện hơn nữa về cơ
sở vật chất, thời gian, trang thiết bị phục phụ cho môn học.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi. Trong khi viết không tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học và các
bạn đọc.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Mộc Châu ngày 22 tháng 04 năm 2011
Người viết sáng kiến:
Đoàn Văn Đức
Xác nhận của hội đồng khoa học:
………………………………………………………………………………………