Một số giải pháp dạy kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
Tiếng việt là một bộ môn quan trọng ở bậc tiểu học. Cung cấp cho học
sinh những hiểu biết cơ bản ban đầu về Tiếng Việt, tạo cho các em năng lực sử
dụng Tiếng Việt một cách có hiệu quả. Thông qua hoạt động dạy Tiếng Việt, rèn
cho các khả năng tư duy và những phẩm chất đạo đức cần thiết. Tập đọc là một
dạng hoạt động ngôn ngữ, rèn luyện và phát triển ở các em kĩ năng nghe- đọcnói và giúp học sinh tiểp nhận được tri thức của loài người, trau dồi vốn Tiếng
Việt, vốn văn học, phát triển tư duy mở rộng hiểu biết về cuộc sống. Bồi dưỡng
cho các em tư tưởng tình cảm, tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái đẹp,
cái thiện, có thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống. Hình thành cho học sinh
ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp của
Tiếng Việt. Từ đó, các em càng yêu quý và trân trọng tiếng mẹ đẻ.
Tập đọc là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình Tiếng Việt ở
Tiểu học, vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng
đọc một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên trong
trường phổ thông.
Biết đọc là con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần.Từ đây, họ
biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư
duy. Đặc biệt, khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức
tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp,
khơi dậy được năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm
hồn.
Trong khi đó, ở trường Tiểu học việc dạy đọc cho học sinh là một yêu cầu
kiến thức trọng tâm của chương trình. Hầu hết học sinh đọc trơn tốt đúng yêu
cầu của mục tiêu đề ra nhưng yêu cầu đọc diễn cảm chưa được như mong muốn.
Các em chưa nắm chắc được công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tư tưởng, tình
cảm của con người chứa đựng trong văn bản được đọc. Về phía giáo viên phần
lớn còn một số khó khăn khi dạy Tập đọc: cần dạy bài tập đọc với giọng như thế
nào cho hay, làm thế nào để sửa lỗi phát âm cho học sinh, làm thế nào để các em
đọc nhanh hơn, hay hơn, làm thế nào để các em hiểu văn bản đọc ... Đó chính là
những băn khoăn, thắc mắc của giáo viên Tiểu học nói chung và bản thân tôi dạy

Sử dụng bảng biểu đối chiếu, xử lý số liệu, so sánh số liệu.
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
Nội dung sách giáo khoa được trình bày theo hướng giao tiếp và hoạt
động là điều kiện tốt để định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Qua
quá trình giao tiếp nhân cách học sinh được hình thành và phát triển. Các em có
cơ hội tham gia hoạt động, có thái độ và kỹ năng sống, luôn tự khám phá cố
gắng hoàn thiện mình. Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, nhiệm vụ của
phân môn Tập đọc cần được coi trọng và đề cao. Đòi hỏi mỗi một giáo viên phải
phát huy hết khả năng và năng lực của mình, có cách nhìn cách nghĩ mới. Cần
phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh có tư duy tiếp thu nhanh
chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, đạt hiệu quả giáo dục cao. Người thầy
phải biết đưa vốn kiến thức trong sách vở trở thành vốn kiến thức riêng của từng
cá thể học sinh.
Dạy tốt phân môn Tập đọc là tạo cho học sinh có một nền tảng vững chắc
để học tốt môn Tiếng Việt và tất cả các môn học khác. Có đọc đúng, đọc trôi
chảy mới cảm thụ được bài văn và đọc đúng sẽ hiểu tất cả các văn bản khác.
*Phân môn tập đọc ở lớp 3 có nhiệm vụ:
1. Phát triển kĩ năng nghe, đọc, nói cho học sinh. Học sinh biết phát âm
đúng, nghỉ hơi hợp lí, cường độ đọc vừa phải đạt yêu cầu tối thiểu 70 tiếng/
phút. Ngoài ra phải biết đọc thầm, hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn

2


cảnh, nắm được nội dung các câu, đoạn và ý nghĩa của bài. Học sinh còn biết
nghe để hiểu các câu hỏi và nhận xét ý kiến của bạn.
2. Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu
biết của học sinh về cơ sở như:
- Làm giàu vốn từ.

quan tâm đến việc các em đọc như thế nào? đã đúng chưa, ít hướng dẫn học sinh
tìm hiểu cách đọc. Nhìn chung chất lượng dạy học phân môn Tập đọc còn nhiều
hạn chế. Giáo viên thiếu linh hoạt trong các phương pháp dẫn đến kỹ năng và
tốc độ đọc của học sinh còn chậm. Bài soạn còn quá lệ thuộc vào sách hướng
dẫn, sự sáng tạo trong các bước chuẩn bị bài chưa cao. Giáo viên đã chú trọng
đồ dùng giáo cụ trực quan trong dạy học. Tuy nhiên, ngoài những đồ dùng được
cấp, giáo viên chưa có sự đầu tư thời gian cho việc làm đồ dùng dạy học. Việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học còn hạn chế. Để đáp ứng yêu
3


cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện nay. Đối với phân môn Tập đọc
đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi căn bản về phương pháp, bỏ thói quen khi
giảng bài sa vào giảng văn, ít quan tâm đến đối tượng học sinh. Đổi mới phương
pháp là thiết thực và tối ưu nhất để nâng cao chất lượng.
* Thực trạng học sinh.
Năm học 2014 – 2015, tôi được phân công chủ nhiệm và trực tiếp dạy lớp
3B. Lớp tôi chủ nhiệm gồm 25 em học sinh. Trong đó có 14 em nam và 11 em
nữ. Các em ở rải rác trong các thôn thuộc địa bàn xã. Ngay từ đầu năm học, tôi
đã tiến hành khảo sát chất lượng môn học và thấy học sinh thường mắc một số
lỗi sau:
- Đọc nhỏ, phát âm sai, nghỉ hơi chưa hợp lí.
- Chưa biết cách đọc thầm.
- Trả lời còn sai các câu hỏi liên quan đến nội dung bài đọc.
- Khả năng diễn đạt kém.
- Một số học sinh chỉ mới biết đọc trơn chưa đọc diễn cảm tốt.
- Cầm sách đọc chưa đúng tư thế.
Ngay đầu năm học, tôi tiến hành khảo sát học sinh đọc bài: Ai có lỗi
(tuần 2, tập 1, trang 12- SGK Tiếng Việt 3)
Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng sau:


Qua bảng khảo sát tôi nhận thấy chất lượng đọc của học sinh còn rất hạn
chế. Mặc dù luôn nghiên cứu và chuẩn bị bài khi lên lớp một cách chu đáo
nhưng kết quả chưa cao. Vì vậy tôi phải tìm ra nguyên nhân và biện pháp phù
hợp để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh. Từ những kết quả và thực trạng
trên tôi đã mạnh dạn đưa ra giải pháp “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3
học tốt phân môn Tập đọc” và thực hiện đối với lớp 3 tôi chủ nhiệm.
III. Các giải pháp thực hiện:
Để giải quyết những khó khăn trong qúa trình dạy học phân môn Tập đọc,
người giáo viên phải có kiến thức tốt về văn học và lòng say mê nghề nghiệp,
biết sử dụng các phương pháp dạy học sao cho hợp lý nhất thì kết quả dạy học
mới được nâng cao. Vì vậy tôi đã nghiên cứu và áp dụng một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng dạy tập đọc cho học sinh lớp 3.
Giải pháp1 : Xây dựng kế hoạch bài học phù hợp với đối tượng học sinh.
Các bài tập đọc trong chương trình Tiếng Việt 3 là những văn bản được
chọn lọc cho phù hợp với độ tuổi của các em. Các bài tập đọc thuộc thể loại
miêu tả, kể chuyện,...mỗi bài có một nội dung nói về một chủ đề cụ thể. Để học
sinh nắm được nội dung của bài, khi soạn thảo các bài tập đọc hiểu, tôi thường
4


chú ý: phải xác định được mục đích, cơ sở xây dựng bài tập, phải có lời giải
mẫu, phải dự tính được khó khăn và sai phạm mắc phải khi làm bài tập: biết
chuyển đổi hình thức bài tập khi cần thiết và đặc biệt là việc tổ chức hướng dẫn
học sinh các bài tập sao cho khoa học để phát huy được năng lực của học sinh.
Nắm được nội dung cần thiết, mục tiêu bài, chuẩn kiến thức kĩ năng và
yêu cầu tối thiểu của bài, nội dung điều chỉnh của chương trình, của môn học.
Xác định phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp, bổ sung cho phù hợp với
đối tượng học sinh của lớp mình, khi đọc sách giáo khoa tôi hình dung ra từng
bước lên lớp. Sau đó mới tham khảo sách giáo viên và lập kế hoạch dạy học theo

giờ học. Những kĩ năng này trước hết phải có ở giáo viên. Để khắc phục được
lỗi do phát âm sai, trước hết là người giáo viên, tôi luôn luyện phát âm, luyện
giọng đọc của mình thật chuẩn để học sinh phát âm theo bởi lẽ giọng đọc của
giáo viên trong giờ tập đọc là rất quan trọng trong việc thành công của tiết dạy.
5


Hằng ngày, tôi luyện đọc bằng cách đọc các bài tập đọc thật kĩ, thậm chí đọc cho
đến thuộc bài tập đọc để có được cách đọc hợp lí nhất.
Khi đọc mẫu các bài văn, bài thơ, tôi luôn phát âm rõ ràng, tốc độ vừa
phải tạo điều kiện cho học sinh lưu ý đến những từ ngữ mà các em dễ đọc sai.
Ví dụ: Bài . Ai có lỗi? Tuần 2 - Tập 1- Lớp 3
Tôi đã đọc trước bài tìm ra cách đọc của từng câu, từng đoạn như sau:
Đoạn 1: Từ đầu đến "nên kiêu căng".
Giọng nhân vật “Tôi ” ( En - ri - cô ) đọc chậm rãi, nhấn giọng các từ: năn
nót, nguệch ra, nổi giận, càng tức, kiêu căng.
Đoạn 2: Tiếp đến “ Lát nữa ta gặp nhau ở cổng.”
(Hai bạn cãi nhau) đọc nhanh, căng thẳng hơn, nhấn giọng các từ: trả thù,
đẩy, hỏng hết, giận đỏ mặt.
Đoạn 3: Tiếp đến “Nhưng không đủ can đảm ”
Đọc với giọng chậm rãi, nhẹ nhàng, nhấn giọng các từ: lắng xuống, hối
hận.
Đoạn 4: Tiếp đến “ Tôi trả lời ” Đọc đúng lời đối thoại của nhân vật .
“ Chúng ta sẽ không bao giờ giận nhau nữa,/ phải không / En- ri- cô? // ”
Đọc với giọng thân thiện, dịu dàng. ( Từ gạch chân là từ đọc nhấn giọng.)
“ Không bao giờ? // Không bao giờ! // Tôi trả lời.//” Đọc với giọng xúc động.
Đoạn 5: Còn lại.
Đáng lẽ chính con phải xin lỗi bạn / vì con có lỗi. // Thế mà con lại giơ
thước dọa đánh bạn //. Đọc với giọng nghiêm khắc.
- Tôi đã luyện phát âm các tiếng, từ có vần khó trước ở nhà.

+ Nói thành câu ý của một đoạn.
+ Nói lại kết quả những việc đã làm theo chỉ dẫn của bài đọc.
+ Phát biểu ý kiến của cá nhân hoặc của nhóm trong khi thảo luận về nội
dung bài đọc.
- Tổ chức cho học sinh làm dưới các hình thức :
+ Cá nhân đọc nhẩm đọc thầm bài, đọc có biểu cảm một số câu hoặc đoạn
ngắn trong một số bài.
+ Cá nhân hoặc nhóm làm bài tập.
+ Nhóm sưu tầm tài liệu để đọc theo yêu cầu.
+ Nhóm tham gia các trò chơi để hiểu bài.
+ Nhóm làm theo chỉ dẫn trong bài.
Tóm lại: Thông qua các hoạt động học tập giáo viên giúp cho các em có
được những kĩ năng cơ bản cần thiết như: nhìn, nghĩ, nghe, nói, làm... để giúp
các em nhanh hiểu và dễ nhớ, nhớ lâu và hứng thú trong hoạt động học tập.
3.2. Luyện đọc to - đọc thành tiếng cho học sinh.
- Đối với những học sinh đọc còn nhỏ do các em thiếu tự tin và chưa
mạnh dạn trước đông người. Tôi động viên, khuyến khích, dạy cho các em cư
xử, tự nhiên, tự tin trước tập thể. Các em được đứng trước các bạn nhiều lần
dưới sự động viên, khuyến khích của các bạn, các em sẽ dần dần đọc to, dõng
dạc.
- Đối với học sinh đọc nhỏ vì chưa biết cách đọc như thế nào là to, tôi
hướng dẫn học sinh nâng giọng để đọc to hơn.
- Học sinh đọc nhỏ vì không biết cách lấy hơi, tôi luyện cho học sinh thở
sâu lấy hơi: học sinh đứng thẳng người, mặt nhìn thẳng, hít vào thật sâu và thở
ra thật đều. Học sinh có thể tăng dần thời gian hít thở và thở ra (nếu không có
nhiều thời gian thì hướng dẫn cho học sinh về nhà tập động tác này).
- Nếu HS đọc quá to hoặc gào lên, tôi luyện cho các em đọc với âm lượng
vừa phải.
Ví dụ: Khi dạy bài: Hai Bà Trưng - Tuần 19 - Tập 2 - Lớp 3 ( trang 4 )
- Bài này nội dung: Ca ngợi tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm của

lông xám/ đang ngồi ôm con trên tảng đá.//Bác nhẹ nhàng rút mũi tên / bắn
trúng vượn mẹ.//
Vượn mẹ giật mình, / hết nhìn mũi tên/ lại nhìn về phía người đi săn bằng đôi
mắt căm giận,/ tay không rời con. // Máu ở vết thương rỉ ra / loang khắp ngực.//
( Từ gạch chân là từ cần đọc nhấn giọng.)
- Khi hướng dẫn học sinh đọc tiếng, từ, câu dài và đoạn đọc lần 1 tôi yêu
cầu học sinh dùng ngón tay trỏ chỉ từng tiếng, từ, câu để đọc.
- Đọc lần 2,3... tôi yêu cầu học sinh tự làm chủ tia mắt khi đọc.
- Về hình thức: Tôi đã tổ chức cho học sinh đọc cá nhân, nhóm, đồng
thanh.
b. Luyện đọc đúng chính âm:
Đối với học sinh trường tiểu học Hà Lâm nói chung và lớp tôi chủ nhiệm
nói riêng, khi phát âm không phân biệt được các tiếng có phụ âm đầu là
tr/ch,s/x...; tiếng có nguyên âm đôi không đọc lướt được; tiếng có thanh ngã đều
đọc bằng thanh hỏi.
* Sai phụ âm đầu: Các âm đầu học sinh đọc chưa chuẩn như: r/d; tr/ch; s/x các
âm này đều là phụ âm xát nhưng khi phát âm lại khác nhau.
Cách sửa:
* Phụ âm r/d:
- Khi phát âm r uốn đầu lưỡi về phía vòm hơi phát ra có tiếng thanh.
- Khi phát âm d đầu lưỡi gần chạm lợi hơi thoát ra sát có tiếng thanh.
* Phụ âm tr/ch:
- Khi phát âm tr đầu lưỡi uốn chạm vào vòm cứng bật ra không có tiếng
thanh.
- Khi phát âm ch đầu lưỡi chạm lợi rồi bật nhẹ không có tiếng thanh.
8


* Phụ âm s/x:
- Khi phát âm s đầu lưỡi uốn về phía trước, vòm hơi thoát ra xát mạnh

;
ngã, bã, đã, giã ...
Tiếp theo chắp các tiếng có cùng thanh, cùng loại âm đầu.
Ví dụ: phổi, phẩy, phải
;
ngõ, ngỗng, ngã
Cuối cùng chắp bất kì âm đầu, các vần, các dấu thanh để học sinh luyện
đọc.
3.4. Luyện đọc nhanh - đọc lưu loát, trôi chảy, ngắt nghỉ đúng.
Thường sau phần luyện đọc tiếng đến phần luyện đọc nhanh để luyện cho
học sinh đọc nhanh tôi thường qua các khâu sau: Đọc nhanh qua khâu đọc to
(thành tiếng) - đọc nhỏ - đọc thầm – kĩ năng đọc nhanh.
Đọc nhanh hay còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy. Khi nói đến đọc nhanh là
nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ. Tốc độ đọc còn phụ thuộc vào độ khó của
bài tập đọc và thể loại văn bản. Những bài có nội dung khó hiểu cần đọc chậm
hơn những bài có nội dung đơn giản. Thơ cần đọc chậm hơn các văn bản văn
xuôi. Để luyện đọc nhanh cho học sinh tôi làm như sau:

9


- Hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học
sinh đọc theo tốc độ đã định. Luôn theo dõi tốc độ đọc của học sinh và biết "cầm
càng" giữ nhịp đọc. :
Nắng lên nở lắm nụ lan
Nòng nọc lặn lội giữa làn nước nông.
Lúa nếp là lúa nếp làng
Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng.
Sưu tầm: Văn học và tuổi thơ
- Khi đọc nhanh, học sinh thường hay bị đọc lặp, ngọng. Khi đó cần

ngắt nhịp sai tạo ra sự không cân đối về mặt âm thanh khi đọc từng câu thơ cũng
như nội dung cảm nhận của văn bản.
Cũng giống như văn xuôi, tôi hướng dẫn cách ngắt nhịp. Bên cạnh việc
hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp còn
10


cần phải hướng dẫn học sinh ngắt giọng biểu cảm, đó chính là những chỗ ngừng
hơi lâu hơn bình thường hoặc chỗ ngừng không do lô gíc ngữ nghĩa mà do dụng
ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, tập trung sự chú ý của người
nghe vào những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.
Ví dụ:
Các anh về
Mái ấm/ nhà vui,
Tiếng hát/ câu cười
Rộn ràng xóm nhỏ.//
Các anh về
Tưng bừng trước ngõ,
Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau.//
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.//
(Bộ đội về làng – Tập đọc 3 tập 2)
Ngày đẹp lắm/ bạn ơi/
Nắng vàng trải khắp nơi/
Chim ca trong bóng lá/
Ra sân/ ta cùng chơi.//
Quả cầu giấy /xanh xanh/
Qua chân tôi,/ chân anh//
Bay lên / rồi lộn xuống/
Đi từng vòng quanh quanh.//

Ví dụ: Các công tác khác: // Lớp có điệu múa tham gia Liên hoan văn nghệ /
chào mừng Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam,/ đoạt giải Nhì. //
Giải pháp 4: Sử dụng phiếu bài tập khi dạy đọc hiểu trong phân môn Tập
đọc.
Song song với việc dạy đọc thành tiếng, đọc hiểu cũng góp phần nâng cao
kĩ năng đọc cho học sinh. Trước đây, hướng dẫn học sinh đọc hiểu chỉ dựa vào
phần hướng dẫn tìm hiểu bài trong sách giáo khoa bao gồm các câu hỏi, bài tập.
Các câu hỏi, bài tập chỉ yêu cầu học sinh một phương thức hành động duy nhất:
dùng lời. Nhược điểm của thể hiện bằng lời là tại một thời điểm chỉ có thể có
một học sinh được nói, những học sinh không được gọi đọc và trả lời câu hỏi,
làm bài tập thì chỉ ngồi nghe. Hành động “nghe” kết quả nghe không được thể
hiện ra bên ngoài nên giáo viên khó kiểm soát được, học sinh không hoạt động
tích cực, giảm hứng thú học tập.
Đối với học sinh Tiểu học có thể xem việc sử dụng phiếu bài tập trong giờ
tập đọc cũng là một hình thức của rèn kĩ năng đọc hiểu. Các bài tập đọc hiểu là
một phương tiện rất có hiệu quả và không thể thay thế được trong việc giúp học
sinh có năng lực ngôn ngữ, phát triển tư duy. Hoạt động của việc sử dụng phiếu
bài tập là điều kiện để thực hiện tốt mục đích của việc dạy tập đọc.
Ví dụ: Tiến trình sử dụng phiếu bài tập trong phần dạy đọc hiểu khi dạy bài
Nhớ lại buổi đầu đi học - Tiếng Việt 3 tập 1 ( trang 51 )
Tìm hiểu bài
*Làm việc nhóm:
- Học sinh đọc thầm cả bài và thảo luận để làm bài tập số 1 trong phiếu
bài tập. Đại diện các nhóm nêu kết quả, giáo viên chốt lại ý kiến đúng.
Bài 1: Tìm từ giống nghĩa với từ đặt trong ngoặc để thay thế từ trong ngoặc rồi
điền từ đó vào chỗ trống:
Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, lòng tôi lại ......
(náo nức) những kỉ niệm ..........(mơn man) của buổi ...........(tựu trường).
12


Đáp án: Câu trả lời c.
- Học sinh đọc thầm đoạn cuối, đọc lướt từng câu trong bài tập số 4 trong
phiếu để làm bài tập này.
Bài 4: Ghi chữ Đ trước các chi tiết nói lên sự rụt rè, bỡ ngỡ của những học sinh
mới bắt đầu đi học và ghi chữ S trước chi tiết không nói về điều ấy.
a . Con đường này đã quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tự nhiên tôi
thấy lạ.
b . Mấy bạn học trò bỡ ngỡ đứng nép bên người thân,chỉ dám đi từng
bước nhẹ.
c . Họ như con chim nhìn quãng trời rộng muốn bay nhưng còn ngập
ngừng e sợ.
d . Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ .
Đáp án: Ghi chữ Đ trước các câu b, c, d. Ghi chữ S trước câu a.

13


Bài 5: Tóm tắt 3 đoạn của bài, mỗi đoạn bằng một câu rồi viết tóm tắt đó vào
chỗ trống:
- Tóm tắt đoạn 1……………..
- Tóm tắt đoạn 2: ……………
- Tóm tắt đoạn 3: …………….
* Làm việc chung cả lớp
- Giáo viên hướng dẫn làm bài 5 trong phiếu. Các câu hỏi gợi ý để HS
tóm tắt đoạn:
+ Đoạn thứ nhất: Hằng năm, lúc nào tác giả lại nhớ tới những kỉ niệm của
buổi tựu trường đầu tiên ?
+ Đoạn thứ hai: Tác giả có cảm giác gì với những cảnh vật quen thuộc
trong ngày tựu trường đầu tiên ?
+ Đoạn thứ ba: Các bạn của tác giả đến trường trong buổi học đầu tiên với

14


nhiều người phải đứng không thuộc bài - bị điện giật là nhóm thua cuộc. Tuyên
dương đội thắng cuộc.
b. Trò chơi " Nghe đọc đoạn, đoán tên bài "
Trong những bài ôn tập yêu cầu học sinh đọc ôn lại các bài tập đọc. Nhằm
rèn cho các em kĩ năng đọc đúng và rõ ràng các bài văn trong các truyện kể (bài
Tập đọc 2 tiết) trong SGK Tiếng Việt 3. Đồng thời luyện kĩ năng nghe hiểu và
nhớ tên truyện kể đã học.
Tôi chia lớp làm 4 nhóm, 2 nhóm chơi, 2 nhóm làm trọng tài. Cũng có thể
cả 4 nhóm cùng chơi.
VD: Cho 2 nhóm đọc câu văn (theo số thứ tự ghi trong truyện kể) và đoán tên
bài
( tuần ôn tập giữa học kì I ):
+ Nhóm A: Đọc câu văn: (1) Thuyên và Đồng rời quê đi làm đã mấy năm.
+ Nhóm B: Đoán ( tên bài ) Giọng quê hương.
+ Nhóm B: Đọc câu văn: (2) Ngày xưa có hai người khách du lịch đến
nước Ê-ti-ô-pi-a.
+ Nhóm A: Đoán ( tên bài ) Đất quý, Đất yêu.
+ Nhóm A: Đọc câu văn : (3) Chợ hoa trên đường Nguyễn Huệ đông
nghịt người.
+ Nhóm B: Đoán ( tên bài ) Nắng phương Nam
+ Nhóm B: Đọc câu văn : (4 ) Pháp đánh một trăm năm cũng không
thắng nổi đồng chí Núp và làng Kông Hoa đâu.
+ Nhóm A: Đoán ( tên bài ) Người con của Tây Nguyên.
+ Nhóm A: Đọc câu văn : (5 ) Bãi cát ở đây từng được ngợi ca là« Bà
Chúa của bãi tắm ».
+ Nhóm B: Đoán ( tên bài) Cửa tùng.
+ Nhóm B: Đọc câu văn : (6) Ông ké chống gậy trúc, mặc áo Nùng đã

kia( Nhóm B ). Bạn nhận phiếu ở nhóm B phải đọc thuộc cả khổ thơ, câu thơ mà
có từ ghi trên phiếu. Nếu đúng sẽ được tính 10 điểm ( hoặc 10 điểm trọng tài qui
định). Khi trao hết số phiếu trọng tài tính tổng số điểm của nhóm B ( nhóm đọc
thuộc thơ) Tương tự đổi lại nhóm A đọc và tính điểm.
* Lưu ý: Chỉ được trao từng phiếu và trao cho mỗi bạn một lần. Không trao
nhiều phiếu một lúc và không trao một bạn nhiều phiếu. Người được nhận phiếu
phải tự nghĩ và đọc thuộc khổ thơ không được hỏi bạn khác trong nhóm, các bạn
trong nhóm không được nhắc bạn. Sau khi nhận phiếu quá 10 giây ( đếm từ
1đến 10 ) mà người nhận không đọc được thì sẽ không được tính điểm, nếu đọc
đủ câu nhưng có lỗi sai trừ 0,5 điểm. Kết thúc công bố kết quả nhóm nhiều điểm
là thắng cuộc.
Giải pháp 6: Giúp học sinh thực hiện đúng tư thế khi đọc bài.
Thực tế hiện nay có nhiều giáo viên chỉ chăm lo cho học sinh của mình
đọc sao cho đúng mà quên đi không hướng dẫn các em tư thế đọc, điều đó dẫn
đến các em dễ bị cận thị, bị cong vẹo cột sống...Vì vậy tôi luôn nhắc nhở học
sinh của mình cần đọc đúng tư thế.
- Tư thế đứng: Thẳng người, thẳng cổ, hai chân rộng bằng vai theo tư thế
nghỉ.
- Tư thế ngồi: Thẳng người, hai chân rộng bằng vai, kê lên thanh ngang
phía dưới của bàn học cho thoải mái, cổ thẳng.
- Sách mở rộng, cầm bằng hai tay. Khi ngồi đọc, mặt ngoài bàn tay tì lên
bàn, hơi nâng phần trên của sách lên, tạo một góc nhọn với mặt bàn.
- Để sách cách mắt khoảng 30 - 35 cm.
- Ngoài ra tôi đã chú ý đến việc phân loại đối tượng học sinh, nắm bắt
trình độ của từng em để có các biện pháp cụ thể, phù hợp với từng học sinh. Tôi
đã phân công học sinh khá, giỏi trong lớp kèm cặp giúp đỡ các học sinh yêú.
Ngoài ra tôi còn sắp xếp chỗ ngồi hợp lí cho các em, thường thường những em
đọc yếu tôi xếp ngồi trên dãy bàn đầu của lớp. Khi dạy tôi thường xuyên gọi các
em đọc bài. Đặc biệt khi thảo luận nhóm tôi thường yêu cầu nhóm cho các em
đứng lên trả lời để các em có cơ hội giao lưu với các bạn trong các giờ học thảo

%
10
40

Đọc trơn
tốt
SL
%
12
48

Đọc chưa
trôi chảy
SL
%
2
8

Đọc nhỏ, phát âm sai (s/x;
tr/ch, dấu hỏi/ dấu ngã)
SL
%
1
4

Qua kết quả khảo sát, tôi nhận thấy chất lượng đọc của học sinh có sự
chuyển biến rõ rệt. Học sinh không những đọc tốt hơn mà tự tin khi được đọc
bài, cảm thụ tốt nội dung các văn bản. góp phần không nhỏ trong việc nâng cao
chất lượng môn Tiếng Việt trong trường tiểu học.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau nâng cao chất lượng giảng dạy.
Trên đây là một số kinh nghiệm giảng dạy “Một số biện pháp giúp học
sinh lớp 3 học tốt phân môn Tập đọc ” mà tôi đã rút ra trong quá trình giảng
dạy. Hi vọng với sáng kiến kinh nghiệm này sẽ giúp tôi và đồng nghiệp có thêm
một số biện pháp để nâng cao và phát huy khả năng đọc và cảm thụ văn bản cho
học sinh.
Do năng lực có hạn, chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thi tran, ngày15 tháng 3 năm 2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Đỗ Thị Thanh

18


MỤC LỤC
Nội dung
A. Mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. Nội dung
I. Cơ sở lí luận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status