ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------&--------
NGUYỄN THỊ THU HOÀI
CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ VÀ NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------&--------
NGUYỄN THỊ THU HOÀI
CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ VÀ NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành:Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………….100
PHỤ LỤC………………………………………………………………117
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BBTTW
:
Ban Bí thư Trung ương
BMVNAH
:
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng
BCT
:
Bộ Chính trị
BQP
:
Bộ Quốc phòng
LĐ,TB&XH
thể dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, niềm vui mà nhân dân Việt Nam đƣợc hƣởng thật ngắn ngủi, với
bản chất xâm lƣợc, thực dân Pháp, sau đó là đế quốc Mỹ thay nhau xâm lƣợc Việt
Nam. Trong những năm kháng chiến đầy gian khổ ấy, mặc dù đất nƣớc còn gặp
nhiều khó khăn, nhƣng Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trƣơng,
chính sách phù hợp đối với thƣơng binh, liệt sĩ và ngƣời có công với cách mạng
nhằm động viên sức ngƣời, sức của ủng hộ kháng chiến, góp phần hoàn thành cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đƣa cả nƣớc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Chiến tranh qua đi, Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam nhanh chóng chỉ đạo các
cấp, các ngành quy tập mộ và tiến hành xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ ở khắp ba
miền Bắc, Trung, Nam. Bằng sự đồng tâm hiệp lực đó, đến nay, một hệ thống công
trình tƣởng niệm các liệt sĩ đƣợc hình thành trong cả nƣớc. Trong đó, có nhiều công
trình trở thành những trung tâm văn hoá, lịch sử quen thuộc đối với nhân dân cả
nƣớc nhƣ: Nghĩa trang Điện Biên Phủ, Nghĩa trang Trƣờng Sơn, Nghĩa trang Hàng
Dƣơng, Đền thờ liệt sĩ Bến Dƣợc.
Song hành với những công việc trên, phát huy truyền thống “Uống nƣớc nhớ
nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam đã ban hành
nhiều chế độ, chính sách và vận động toàn dân, toàn quân chăm lo đời sống vật chất,
tinh thần đối với TB,LS&NCCVCM. Theo đó, cả nƣớc đã dấy lên phong trào “Đền ơn
đáp nghĩa”, “Uống nƣớc nhớ nguồn”. Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn
thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các cấp, các ngành, các địa phƣơng đã có nhiều việc
làm thiết thực thể hiện nghĩa tình và trách nhiệm đối với các gia đình chính sách, do đó
từng bƣớc giải quyết có hiệu quả những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, góp
phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng thêm lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nƣớc và chế độ, tạo nét đẹp mới trong đời sống văn hoá tinh thần.
Có đƣợc sự quan tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, nhiều Bà mẹ Việt
Nam Anh hùng, thƣơng binh, gia đình liệt sĩ đã vƣợt qua khó khăn, vƣơn lên trong đời
sống, giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng. Phong trào “ngƣời công
Cộng sản Việt Nam đối với việc thực hiện các chính sách xã hội từ 1991-2001, từ
đó khẳng định những thành tựu, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm trong quá
trình Đảng lãnh đạo thực hiện các chính sách xã hội.
Cũng liên quan đến chính sách xã hội, Luận án tiến sĩ lịch sử Đảng lãnh đạo
kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện chính sách xã hội từ năm 1991 đến 2006
(Hà Nội.2011) của tác giả Phạm Đức Kiên; đã nêu bật đƣờng lối, quan điểm của
Đảng, quá trình tổ chức thực hiện, kết quả cũng nhƣ kinh nghiệm của Đảng trong
quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế kết hợp với thực hiện chính sách xã hội, qua đó
gợi mở những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cho quá trình lãnh đạo của
Đảng về vấn đề này ở cả trƣớc mắt và lâu dài.
Đặc biệt, kỷ niệm 60 năm ngày thƣơng binh, liệt sĩ, Ban Tuyên giáo Trung
ƣơng xuất bản Tài liệu tuyên truyền 60 năm ngày thương binh, liệt sĩ (27.7.194727.7.2007) (Hà Nội.2007). Đây là tập tài liệu tuyên truyền những quan điểm tƣ
tƣởng của Đảng, Nhà nƣớc và Chủ tịch Hồ Chí Minh về TB,LS&NCCVCM; các
văn bản chỉ đạo hoạt động kỷ niệm 60 năm ngày thƣơng binh, liệt sĩ; một số địa
phƣơng, đơn vị, cá nhân điển hình tiên tiến thực hiện tốt công tác thƣơng binh, liệt
sĩ; những tấm gƣơng thƣơng binh, liệt sĩ, ngƣời có công với các mạng tiêu biểu qua
các thời kỳ cách mạng.
Tháng 7-2012, kỷ niệm 65 năm ngày thƣơng binh, liệt sĩ, TS Nguyễn Danh
Tiên có bài viết: Chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sĩ thời kỳ đổi mới
trên Tạp chí Khoa học Quân sự. Tác giả hệ thống một cách khái lƣợc những quan
điểm, chủ trƣơng của Đảng đối với công tác thƣơng binh, liệt sĩ từ 1986-2012; đánh
giá thực trạng quá trình thực hiện chủ trƣơng của Đảng về vấn đề này và đề ra giải
pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác thƣơng binh, liệt sĩ thời gian tới.
2.2. Những công trình đề cập đến công tác thương binh, liệt sĩ và người có
công với cách mạng
Một trong những cuốn sách đầu tiên phải kể đến là Quan niệm về công tác
thương binh và tử sĩ, do Bộ Thƣơng binh Cựu binh xuất bản năm 1952. Cuốn sách
đề cập đến vấn đề thƣơng binh và tử sĩ tại các nƣớc đế quốc; vấn đề thƣơng binh và
tử sĩ tại các nƣớc dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa; từ đó đề ra nhiệm vụ,
phƣơng châm và nội dung công tác đối với thƣơng binh và tử sĩ đối với Việt Nam.
mạnh nghiên cứu những lĩnh vực khác, chủ đề TB,LS&NCCVCM tiếp tục là đề tài
nghiên cứu đƣợc nhiều cơ quan Trung ƣơng, bộ, ban ngành và các nhà khoa học.
Theo đó, lần lƣợt những cuốn sách và bài viết có giá trị đƣợc công bố nhƣ: Đời đời
Tổ quốc ghi công (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.2003). Cuốn sách là một công
trình công phu, vừa có giá trị tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, các Bà mẹ Việt Nam
Anh hùng, đồng thời còn giúp cho ngƣời đọc nắm đƣợc những chế độ, chính sách
hiện hành của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam đối với TB,LS&NCCVCM.
Những năm này, trên các tạp chí xuất hiện nhiều bài viết có giá trị. Điển hình nhƣ:
Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình
liệt sĩ, người có công với cách mạng (Tạp chí Cộng sản, số 7-2005) của tác giả Nguyễn
Thị Hằng, Bộ trƣởng Bộ LĐ,TB&XH. Tác giả nêu những nét khái quát thành tựu đạt
đƣợc trong việc thực hiện ƣu đãi xã hội đối với thƣơng binh, gia đình liệt sĩ và ngƣời có
công trong 10 năm từ 1995 đến 2005, qua đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra
những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ƣu đãi xã hội.
Hà Nội làm tốt hơn nữa công tác thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công
(Tạp chí Cộng sản, số 7-2007) của tác giả Phạm Quang Nghị, Bí thƣ Thành uỷ Hà
Nội; đã tóm lƣợc thành tựu trong công tác thƣơng binh, liệt sĩ và ngƣời có công với
cách mạng trong thành phố Hà Nội trên các mặt nhƣ: Thực hiện chính sách, chăm sóc
ngƣời có công, hỗ trợ nhà ở, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, mộ liệt sĩ.
Quân đội nhân dân phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa công tác thương binh, liệt
sĩ, chính sách hậu phương quân đội (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 7-2007) của
tác giả Phùng Quang Thanh, Bộ trƣởng Bộ Quốc phòng. Tác giả điểm lại những nét
chính trong 60 năm thực hiện công tác TB,LS&NCCVCM của Đảng và Nhà nƣớc,
nêu lên sự đóng góp của quân đội vào thành tích chung đó. Đặc biệt, tác giả đã chỉ rõ
phƣơng hƣớng nhằm thực hiện tốt hơn nữa chính sách thƣơng binh, liệt sĩ, chính sách
hậu phƣơng quân đội và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”.
Nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội, (Tạp chí
Cộng sản, số 7-2008) là nhan đề bài viết của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ
đƣợc xuất bản nhƣ: Anh hùng lực lượng vũ trang, (tập 2, 3, 4, 5, Nxb Quân đội nhân
dân, Hà Nội.1994, 1995); Những điển hình trong phong trào đền ơn đáp nghĩa và
thương binh, gia đình liệt sĩ tiêu biểu (Nxb Lao động- Xã hội, Hà Nội.2002); Những
điển hình tiên tiến trong cônng tác thương binh, liệt sĩ và người có công (Nxb Lao
động - Xã hội, Hà Nội.2004); Trận tuyến mới, (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.2002)
- Nhiều tác giả,v.v...
2.3. Những vấn đề các công trình nghiên cứu chưa làm sáng tỏ
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố liên quan đến
công tác TB,LS&NCCVCM, nhƣng:
Chƣa có công trình nghiên cứu nào hệ thống đầy đủ chủ trƣơng của Đảng
đối với công tác TB,LS&NCCVCM từ năm 1996 đến năm 2010;
Chƣa có công trình nghiên cứu nào đề cập đầy đủ những chính sách của Nhà
nƣớc đối với công tác TB,LS&NCCVCM từ năm 1996 đến năm 2010;
Chƣa có công trình nghiên cứu nào làm rõ kết quả thực hiện chủ trƣơng,
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với TB,LS&NCCVCM trên phạm vi cả nƣớc
từ năm 1996 đến năm 2010.
Đặc biệt, chƣa có công trình nghiên cứu nào rút ra những nhận xét về ƣu
điểm, khuyết điểm cũng nhƣ bài học kinh nghiệm về chủ trƣơng, chính sách của
Đảng và Nhà nƣớc đối với TB,LS&NCCVCM từ năm 1996 đến năm 2010.
2.4. Những vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu
Chủ trƣơng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với TB,LS&NCCVCM từ năm
1996 đến năm 2010;
Chính sách của Nhà nƣớc Việt Nam đối với TB,LS&NCCVCM từ năm 1996
đến năm 2010;
Kết quả thực hiện chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đối
với TB,LS&NCCVCM trên phạm vi cả nƣớc từ năm 1996 đến năm 2010.
Rút ra nhận xét và bài học kinh nghiệm về chủ trƣơng, chính sách của Đảng và
Nhà nƣớc đối với TB,LS&NCCVCM từ năm 1996 đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) đến hết quá
trình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2010).
Về không gian: Nghiên cứu một cách tổng quát trên địa bàn cả nƣớc, không đi
sâu vào từng địa phƣơng.
Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phƣơng pháp lịch sử kết hợp
với phƣơng pháp lôgíc. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phƣơng pháp phân tích,
tổng hợp, phƣơng pháp thống kê, so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đối với
TB,LS&NCCVCM từ năm 1991 đến 2010.
Đánh giá khách quan những ƣu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những
ƣu điểm, hạn chế về chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với
TB,LS&NCCVCM từ năm 1991 đến 2010 và bƣớc đầu rút ra một số kinh nghiệm.
Cung cấp một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu mảng đề tài về chính
sách xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc kết cấu thành ba chƣơng:
Chương 1: Chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đối với
thƣơng binh, liệt sĩ và ngƣời có công với cách mạng trong thời gian từ 1991-1995.
Chương 2: Tăng cƣờng lãnh đạo thực hiện ngày càng tốt hơn công tác thƣơng
binh, liệt sĩ và ngƣời có công với cách mạng trong thời gian từ 1996-2010.
Chương 3: Nhận xét và bài học kinh nghiệm.
Chƣơng 1
đầy đủ các chính sách xã hội đối với thƣơng binh, gia đình liệt sĩ và ngƣời có công
với cách mạng là động lực to lớn giúp họ vƣơn lên vƣợt qua khó khăn, thử thách,
làm chủ cuộc sống.
Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa
vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ cách
mạng đối với liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thƣơng binh, bệnh binh và ngƣời có công với
cách mạng. Sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh
phúc của nhân dân là vô giá, không chỉ cho ngày hôm qua, hôm nay mà cho muôn
đời con cháu mai sau. Việc chăm sóc thƣơng binh, gia đình liệt sĩ và ngƣời có công là
nghĩa vụ, là trách nhiệm và niềm vinh dự của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội
và của mọi ngƣời, của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.
Chủ trƣơng của Đảng và chính sách của Nhà nƣớc Việt Nam đối với
TB,LS&NCCVCM là một hệ thống ngày càng hoàn chỉnh. Các cấp, các ngành, các
đoàn thể nhân dân và mọi ngƣời dân trên cơ sở nhận thức rõ ràng hơn, đầy đủ hơn
về hệ thống chính sách đó để quyết tâm thực hiện đầy đủ, hiệu quả cao và thiết
thực. Làm tốt công tác TB,LS&NCCVCM còn thể hiện tính ƣu việt và bản chất tốt
đẹp của Nhà nƣớc Việt Nam, củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nƣớc, góp phần tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, làm cơ sở cho giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm định hƣớng xã hội
chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người mở đầu công tác thương binh, liệt sĩ và người
có công với cách mạng
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra
đời đã đứng trƣớc những thử thách nghiệt ngã. Để giữ vững nền độc lập, tự do, Chủ
tịch Hồ Chí Minh xác định trách nhiệm:
“Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức
làm, cũng nhƣ một ngƣời lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trƣớc mặt
trận” [77, tr.161].
Tình thƣơng yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thƣơng binh, liệt sĩ còn
đƣợc thể hiện ở nghĩa cử đầy lòng nhân ái và rất tự nhiên trong đời sống thƣờng
ngày. Ngƣời đã nhiều lần đi thăm, tặng áo, tặng quà, tiền lƣơng của mình cho
thƣơng binh, viếng mộ các liệt sĩ tại Nghĩa trang Hà Nội.
Trƣớc lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở Đảng và Chính phủ phải
chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho thƣơng binh, liệt sĩ và gia đình họ.
Trong Di chúc, ngƣời dặn:
“Đối với những ngƣời đã dũng cảm hy sinh một phần xƣơng máu của mình
(cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính
phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng
thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi ngƣời để họ có thể dần
dần “tự lực cánh sinh”.
Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phƣơng (thành phố, làng xã) cần xây dựng vƣờn
hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục
tinh thần yêu nƣớc cho nhân dân ta.
Đối với cha mẹ, vợ con (của thƣơng binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và
túng thiếu, thì chính quyền địa phƣơng... phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm
thích hợp, quyết không để họ bị đói rét” [79, tr.503-504].
Có thể nói, hiếm có một vị lãnh tụ cách mạng của một dân tộc nhƣ Hồ Chí
Minh lại so sánh nhiệm vụ của một Chủ tịch nƣớc nhƣ bổn phận của một ngƣời lính
ở ngoài mặt trận: chiến đấu và hy sinh. Phải chăng đó là ngọn nguồn của đức hy
sinh, lòng yêu mến thƣơng binh, liệt sĩ và ngƣời có công với cách mạng của Hồ Chí
Minh. Cũng chính vì vậy, đồng bào, chiến sĩ ta đã gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác
Hồ kính yêu. “Những tƣ tƣởng, tình cảm vĩ đại của Bác đối với thƣơng binh, gia
đình liệt sĩ và gia đình quân nhân đã đƣợc thuấm nhuần sâu sắc và đƣợc thể hiện cụ
thể trong chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với thƣơng binh, bệnh binh và
gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân từ trƣớc đến nay” [72, tr.6].
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trước năm
gọn nhẹ, tập trung vào chiến đấu, Chính phủ đã chủ trƣơng đƣa những thƣơng binh
không thể tiếp tục chiến đấu trong quân đội giải ngũ về địa phƣơng hoặc chuyển về
nuôi dƣỡng lâu dài ở các trại an dƣỡng hay nuôi dƣỡng một thời gian rồi sắp xếp
việc làm phù hợp.
Tháng 7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào “Đón thƣơng binh
về làng”. Từ đó, việc đón thƣơng binh về địa phƣơng đƣợc xúc tiến mạnh mẽ, trừ
một số ít thƣơng binh vào làm việc ở các cơ quan nhà nƣớc hay về các trại an
dƣỡng, còn hầu hết thƣơng binh (80- 85%) đều về địa phƣơng. Nhờ các chính sách
lớn về ƣu tiên chia cấp ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn dân công
nghĩa vụ, cùng với tình yêu thƣơng giúp đỡ thiết thực của nhân dân, nhìn chung
cuộc sống của thƣơng binh về địa phƣơng đƣợc ổn định.
Những năm kháng chiến chống Pháp, chính sách TB,LS&NCCVCM đƣợc
thực hiện thống nhất trong cả nƣớc từ Bắc chí Nam, đƣợc cấp uỷ đảng và chính
quyền các cấp quan tâm, nhân dân nhiệt tình hƣởng ứng đã góp phần tích cực đƣa
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc đi đến thắng lợi cuối cùng.
Sau năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã
hội, miền Nam bị đế quốc Mỹ xâm lƣợc bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Do vậy,
công tác TB,LS&NCCVCM những năm này có những đặc điểm mới.
Ở các tỉnh miền Bắc, một mặt lo đón tiếp và chăm sóc nuôi dƣỡng một số khá
lớn thƣơng binh miền Nam tập kết; một mặt lo sửa đổi, bổ sung chính sách để động
viên anh em thƣơng binh, bệnh binh tham gia sản xuất theo phƣơng châm “thƣơng
binh tàn nhƣng không phế”, góp sức vào nhiệm vụ khôi phục, phát triển sản xuất,
hàn gắn vết thƣơng chiến tranh, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, tiến hành cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đồng thời vừa
phải nghiên cứu, chuẩn bị chính sách và tổ chức thực hiện chính sách đối với quân
nhân, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thƣơng, hy sinh trong kháng
chiến; củng cố các cơ sở nuôi dƣỡng và cải tiến việc nuôi dƣỡng thƣơng binh nặng,
tổ chức học văn hoá, học nghề, tổ chức sản xuất, sắp xếp việc làm cho thƣơng binh,
chống Pháp và một chế độ áp dụng cho thƣơng binh và gia đình liệt sĩ trong giai
đoạn mới.
Đối với bệnh binh thời kỳ này chƣa có quy định bổ sung, thay thế, những quân
nhân bị bệnh khi xuất ngũ hƣởng chế độ quân nhân mất sức lao động.
Có thể nói, những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, chính sách thƣơng binh,
liệt sĩ từng bƣớc đƣợc bổ sung, hoàn thiện một cách căn bản, thể hiện trách nhiệm
và sự quan tâm sâu sắc của Đàng và Nhà nƣớc, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất
nƣớc. Điều đó góp phần giải quyết đƣợc những vấn đề cơ bản và cấp bách nhất đối
với thƣơng binh, liệt sĩ; tạo điều kiện đẩy mạnh việc thực hiện tốt công tác thƣơng
binh, liệt sĩ sau chiến tranh, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nƣớc.
Ngoài chính sách, thƣơng binh, liệt sĩ nói trên, thời kỳ này, Đảng và Nhà nƣớc
Việt Nam đã có những quy định đối với ngƣời có công với cách mạng nhƣ:
Quy định tiêu chuẩn và trợ cấp ƣu đãi đối với cán bộ hoạt động cách mạng
trƣớc ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội
đối với công nhân viên chức nhà nƣớc và chế độ đãi ngộ đối với quân nhân;
Khen thƣởng “Kỷ niệm chƣơng”, “Tổ quốc ghi công” và bằng “Có công với
nƣớc” đối với ngƣời có công giúp đỡ cách mạng trƣớc ngày Tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945;
Khen thƣởng Huân, Huy chƣơng kháng chiến đối với nhân dân có thành tích
trong cuộc kháng chiến chống Pháp;
Khen thƣởng tổng kết thời kỳ kháng chiến chống Pháp: Huân, Huy chƣơng
chiến thắng đối với quân nhân; Huân, Huy chƣơng kháng chiến đối với cán bộ dân,
chính, đảng tham gia cuộc kháng chiến.
Từ năm 1965 đến năm 1975, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lƣợc
ngày càng gian khó ác liệt. Vì vậy, công tác thƣơng binh, liệt sĩ giai đoạn này có vị
trí hết sức trọng yếu. Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng, khi dự Hội nghị tổng kết công tác
của Bộ Nội vụ ngày 27-3-1969 đã đề ra phƣơng châm: Những người được hưởng
Nhà nƣớc Việt Nam đã phát động phong trào toàn dân chăm sóc thƣơng binh, gia
đình liệt sĩ, vận động đƣợc tất cả các ngành, các cấp trong phạm vi chức năng ban
hành các chế độ ƣu đãi thƣơng binh, gia đình liệt sĩ. Một số phong trào tiêu biểu
thời kỳ này: Phong trào Trần Quốc Toản (các cháu thiếu niên giúp đỡ thƣơng binh
và gia đình liệt sĩ); phong trào giúp đỡ thƣơng binh, gia đình liệt sĩ trong hợp tác xã
nông nghiệp; phong trào nhận đón thƣơng binh, bệnh binh về gia đình, sắp xếp việc
làm và nuôi dƣỡng; phong trào đỡ đầu, chăm sóc con liệt sĩ, kết nghĩa với bố mẹ liệt
sĩ; phong trào ngƣời con hiếu thảo chăm sóc bố mẹ liệt sĩ; xây dựng nhà tình nghĩa,
qũy tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc, các chế độ, chính sách chủ yếu đƣợc
thực hiện ở miền Bắc, còn ở miền Nam, do điều kiện chia cắt đất nƣớc, đế quốc Mỹ
và chính quyền Sài Gòn còn kìm kẹp nên chƣa có điều kiện ban hành. Nhƣng công
tác thƣơng binh, liệt sĩ ở chiến trƣờng miền Nam đƣợc quân đội, công an, các cấp uỷ
và chính quyền nhân dân rất coi trọng và thực hiện khá tốt, trong đó tập trung đảm
bảo những vấn đề cấp bách trƣớc mắt, tại chỗ nhƣ chôn cất, giữ gìn hài cốt, bảo quản
phần mộ liệt sĩ, cấp cứu, điều trị, nuôi dƣỡng thƣơng binh; khi có điều kiện thì tổ
chức đƣa anh, chị em vào khu căn cứ, khu giải phóng hoặc ra miền Bắc điều trị, an
dƣỡng. Đã có nhiều tấm gƣơng hy sinh cao cả của nhân dân trong việc nuôi giấu, bảo
vệ thƣơng binh và giữ phần mộ liệt sĩ.
Nhƣ vậy, những chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với
TB,LS&NCCVCM đã phát triển mạnh mẽ qua từng thời kỳ, góp phần trợ cấp chăm
sóc đời sống, sắp xếp việc làm; ƣu đãi cả về vật chất và tinh thần; huy động đƣợc
sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của mọi ngành, mọi cấp vào việc quan tâm
chăm sóc thƣơng binh, gia đình liệt sĩ. Chính điều này đã góp phần làm tốt công tác
hậu phƣơng quân đội, động việc khích lệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hăng hái
trong chiến đấu, hết lòng chi viện cho miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lƣợc,
thu non sông về một mối.
Sau khi giải phóng miền Nam, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng có Chỉ thị số
xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
Cùng với việc tổ chức tốt công tác xác nhận thƣơng binh, liệt sĩ, một nhiệm vụ
hết sức cấp bách, quan trọng là cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang,
đài tƣởng niệm, bia ghi ơn liệt sĩ ở hầu hết các tỉnh phía Nam; tu bổ, tôn tạo, nâng
cấp nghĩa trang, xây dựng bia ghi ơn, đài tƣởng niệm liệt sĩ ở các tỉnh phía Bắc.
Trong những năm 1980, do đặc điểm của thời kỳ quá độ, nền kinh tế có nhiều
biến động, Đảng và Nhà nƣớc đã kịp thời điều chỉnh chế độ trợ cấp, phụ cấp cho
thƣơng binh, gia đình liệt sĩ nhằm đảm bảo đời sống cho các đối tƣợng chính sách.
Ngày 15-7-1985, BBTTW Đảng ra Chỉ thị số 68-CT/TW về việc tăng cường chăm
sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình người có công với cách mạng. Tháng 91985, cùng với việc cải tiến chế độ tiền lƣơng, Hội đồng Bộ trƣởng ban hành Nghị
định 236/HĐBT bổ sung, sửa đổi một số chế độ về thƣơng binh, xã hội. Theo đó, đã
thống nhất đƣợc các chế độ giữa các thời kỳ, giải quyết đƣợc một phần sự khác biệt
trong chính sách thƣơng binh, liệt sĩ.
Tiếp theo Nghị định này, ngày 23-3-1988, BBTTW Đảng ra Chỉ thị số 30/CTTW về tăng cƣờng lãnh đạo, chỉ đạo chấp hành tốt chính sách hậu phƣơng quân đội đã
khẳng định: “Chính sách hậu phƣơng quân đội là một bộ phận quan trọng trong chính
sách xã hội của Đảng và Nhà nƣớc nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [23, tr.109]. Ngày 15-12-1989, Bộ LĐ,TB&XH
ra Chỉ thị số 05/LĐTBXH-CT về việc tiếp tục thực hiện chủ trƣơng đƣa, đón thƣơng
binh, bệnh binh nặng về ổn định đời sống ở gia đình,v.v...
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lƣợc và 15
năm đầu sau giải phóng hoàn toàn đất nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam từng bƣớc
ban hành những chủ trƣơng, chính sách hợp lý đối với TB,LS&NCCVCM, qua đó góp
phần giúp đỡ những thƣơng binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những ngƣời có công với
cách mạng từng bƣớc ổn định cuộc sống, hoà nhập cộng đồng, tiếp tục đóng góp công
sức cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng nhƣ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Có đƣợc những thành công đó là do nhân dân Việt Nam có truyền thống nhân
văn tốt đẹp, Đảng và Nhà nƣớc luôn quan tâm, kịp thời ban hành và điều chỉnh