ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHƢƠNG THỊ HƢƠNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ (HÀ NỘI)
THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHƢƠNG THỊ HƢƠNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ (HÀ NỘI)
THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60.22.56
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TÚ
HÀ NỘI – 2014
xây dựng và bảo v ệ Tổ quốc gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và
những ưu khuyế t điể m trong công tác xây dựng Đảng ” [33, tr.137].
Suốt từ khi ra đời đến nay, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, Đảng luôn
chú trọng tới công tác xây dựng Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt. Trong đó
thường xuyên quan tâm xây dựng Đảng từ Trung ương tới các tổ chức cơ sở
Đảng ở địa phương. Các kỳ Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và XI
đã đề cập rất toàn diện và sâu sắc vấn đề xây dựng Đảng.
Đảng bộ huyện Ba Vì trong thời gian qua, nhất là trong 10 năm (2001 –
2010) đã quán triệt sâu sắc chủ trương, biện pháp về xây dựng Đảng của
Đảng, của Tỉnh uỷ Hà Tây trước đây và của Thành ủy Hà Nội hiện nay để xây
dựng Đảng bộ huyện thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, luôn là tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đủ sức hoàn thành trách
nhiệm lãnh đạo huyện Ba Vì hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững mạnh.
Trong quá trình Đảng bộ huyện Ba Vì thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Đảng đã đạt được những kết quả quan trọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ,
1
nhân dân huyện Ba Vì đã thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, làm cho
huyện có những biến đổi mạnh mẽ về mọi mặt, luôn là một Đảng bộ trong
sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng
bộ. Nhưng bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng tới năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ.
Từ thực tiễn xây dựng Đảng bộ huyện Ba Vì trong những năm qua, nhất
là từ năm 2001 đến năm 2010 đòi hỏi phải có sự tổng kết, đánh giá đúng thực
trạng xây dựng Đảng, làm rõ kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đặc biệt là rút
ra những kinh nghiệm về thực hiện công tác xây dựng Đảng. Từ đòi hỏi đó
đặt ra phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên sâu về thực hiện
trị quốc gia, 1999); tác giả Lê Đức Bình với tác phẩm “ Mấ y vấ n đề về xây
dựng, chỉnh đốn Đảng ” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002); Nguyễn Phú
Trọng : Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới ( Nxb Chính trị
quốc gia, 2003); Phạm Ngọc Quang, Trần Đình Nghiêm: Thời kì mới và sứ
mệnh của Đảng (Nxb Chính trị quốc gia, 2000); Nguyễn Trọng Phúc: Vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kì đổi mới (Nxb Chính trị
quốc gia, 2003); Nguyễn Hữu Tri, Nguyễn Thị Phương Hồng: Một số vấn đề
đổi mới tổ chức bộ máy Đảng Cộng sản Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia,
2004); Bùi Đình Phong, Phạm Ngọc Anh: Công tác xây dựng Đảng trong thời
kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Nxb Lao động, 2006)…
Nhóm các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí :
Trên các ta ̣p chí X ây dựng Đảng ; Tạp chí Lý luâ ̣n; Tạp chí Cộng sản có
các bài viế t như : Bài Cấ p bách đổ i mới phương thức lãnh đạo của Đảng đố i
với chính quyề n cơ sở của tác g iả Phạm Xuân Tiên t rên Tạp chí Xây dựng
Đảng (1996); bài Không phải chỉ có tổ chức cơ sở Đảng yế u kém của tác giả
Hồ Thành Khôi t rên Ta ̣p chí X ây dựng Đảng (1996); bài Xây dựng Đảng về
tư tưởng chính tri ̣ của tác giả Nguyễ n Đức Bình trên Tạp chí Lí luâ ̣n (1999);
bài Tiế p tục thực hiê ̣n tố t nhiê ̣m vụ then chố t tạo chuyển biế n cơ bản trong
công tác xây dựng Đảng của tác giả Nguyễn Đức Hạt trên T ạp chí Xây dựng
Đảng (2006)… Ngoài ra trên báo Điê ̣ n tử Đảng C ộng sản Việt Nam cũng có
rất nhiều bài viết về vấn đề xây dựng Đảng …
Nhóm các đề tài, luận văn, luâṇ án :
3
Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ lich
̣ sử thuô ̣c trường Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân
văn – Đa ̣i ho ̣c quố c gia Hà Nô ̣i : “ Đảng bộ Hà Tây thực hiê ̣n nhiê ̣m vụ xây
dựng Đảng thời kì 1991 – 2000” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyề n; tác
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích : Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện
BaVì về xây dựng Đảng từ năm 2001 – 2010; đánh giá những kết quả, hạn
chế và đúc rút những kinh nghiệm nhằm vận dụng nâng cao hiệu quả công tác
xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện trong những năm tiếp theo.
* Nhiệm vụ:
- Khái quát thực trạng công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Ba Vì
trước năm 2001 và những yêu cầu đặt ra.
- Hệ thống, làm rõ một số quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam; của Đảng bộ tỉnh Hà Tây và Đảng bộ thành phố Hà Nội về công tác xây
dựng Đảng trong những năm 2001 đến năm 2010
- Phân tích làm rõ chủ trương, giải pháp của Đảng bộ huyện Ba Vì thực
hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ huyện trong 10 năm (2001 – 2010).
- Làm rõ quá trình thực hiện và kết quả về xây dựng Đảng của Đảng bộ
huyện Ba Vì.
- Nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ huyện Ba
Vì thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2001 – 2010.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cƣ́u : Là những chủ trương, giải pháp và tổ chức
thực hiện của Đảng bộ huyện Ba Vì về xây dựng Đảng bộ huyện từ năm 2001
đến năm 2010.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt nội dung: Nghiên cứu về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
huyện Ba Vì về xây dựng Đảng.
- Về mặt thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010.
- Về mặt không gian: Nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ
trên địa bàn huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
6
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để biên soạn lịch sử địa phương
và nghiên cứu, giảng dạy về công tác xây dựng Đảng.
7. Bố cục của luận văn:
Gồm phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục.
7
Chƣơng 1
CÔNG TÁC XÂY DƢ̣NG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ
TƢ̀ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì và thực
trạng công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện trƣớc năm 2001
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Vì
* Điều kiện tự nhiên
Ba Vì là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội. Trước tháng 7 năm
1968 là ba huyện Quảng Oai, Bất Bạt, Tùng Thiện thuộc tỉnh Sơn Tây hợp
nhất lại thành huyện Ba Vì.
Nằm cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây, bên hữu
ngạn sông Đà, sông Hồng. Địa giới về phía Đông giáp thị xã Sơn Tây và
huyện Phúc Thọ; phía Tây có sông Đà làm ranh giới tự nhiên với huyện
Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp với huyện Thạch Thất, Tây – Nam
có núi Ba Vì là ranh giới với tỉnh Hòa Bình và phía Bắc có sông Hồng làm
phân giới với thành phố Việt Trì và huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, huyện
Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc.
Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 – 2010 đạt bình quân 14,0%/năm
(mục tiêu đề ra 12 – 13%). Đến năm 2010, tổng giá trị tăng thêm đạt 4.311 tỷ
đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 16,0%, trong nhóm ngành nông, lâm
nghiệp tăng 5,2%, công nghiệp – xây dựng 20,0%, dịch vụ - du lịch 24%.
Cơ cấu kinh tế năm 2010 có sự chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ
trọng nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 38,6%, công nghiệp, xây
dựng chiếm 19,6%, dịch vụ, du lịch chiếm 41,8%. Thu nhập bình quân đầu
người năm 2010 đạt 16 triệu đồng.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản được đầu tư theo hướng sản xuất
hàng hóa, đảm bảo an ninh lương thực, tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, nâng cao giá trị kinh tế. Tổng giá trị tăng thêm nhóm ngành tăng từ
9
532,8 tỷ đồng năm 2005 lên 1.662 tỷ đồng năm 2010, tốc độ tăng trưởng của
ngành năm 2010 là 5,2%. Trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, trồng trọt
chiếm 54,2% và chăn nuôi là 45,8%[45, tr.2].
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản có tốc độ
phát triển nhanh. Tổng giá trị tăng thêm nhóm ngành tăng từ 138,4 tỷ đồng
năm 2005 lên 846 tỷ đồng năm 2010 ( riêng ngành công nghiệp 340 tỷ đồng).
Năm 2010, tốc độ tăng trưởng đạt 20% và tỷ trọng nhóm ngành chiếm 19,6%.
Thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng,
chè, chế biến sữa, giầy da, may mặc, … đạt kết quả tích cực. Nhiều đơn vị đã
đi vào hoạt động ổn định, góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao
động địa phương. Các làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển,
đến năm 2010 có 14 làng nghề đã được Thành phố công nhận.
Đầu tư cơ sở hạ tầng đã được quan tâm, đa dạng hóa các nguồn vốn đầu
tư được chú trọng. Tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2010 là
1.368 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là 656 tỷ đồng
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số xã kinh tế phát triển chậm, đời sống
của nhân dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là 7 xã miền núi của huyện và 2 xã
nằm ở giữa bãi sông Hồng. Điều này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo sát sao, quyết
liệt của Đảng bộ huyện để các xã này có thể bắt kịp với sự phát triển chung
của nhân dân các xã trong huyện.
Xã hội: Hiện nay Ba Vì có trên 26 vạn dân, gồm 3 dân tộc chủ yếu:
Kinh, Mường và Dao (trong đó 2,2 vạn người thuộc dân tộc Mường và Dao)
và một số dân tộc thiểu số khác. Ba Vì có huyện lỵ là thị trấn Tây Đằng nằm
cạnh quốc lộ 32 và 32 xã.
Một trong những truyền thống tốt đẹp nhất của nhân dân Ba Vì nổi lên
hàng đầu vẫn là truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Ngay từ cuộc
kháng chiến đầu tiên của dân tộc ta chống phong kiến từ phương Bắc, khi 50
vạn quân Tần sang xâm lược nhiều làng ven sông Hồng đã tụ họp đoàn kết
11
dân binh chống lại, bảo vệ quê hương. Thời thuộc Hán, Ba Vì là quê hương
của bà Man Thiện mẹ của hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị - Người đã có công
sinh thành, dưỡng dục, khơi dây tinh thần yêu nước bất khuất của hai vị nữ
anh hùng. Trong lịch sử dài ngàn năm Bắc thuộc, truyền thống yêu nước
chống giặc ngoại xâm của nhân dân Ba Vì không ngừng được khơi dậy, phát
huy để giữ vững truyền thống văn hóa thời Hùng Vương dựng nước, truyền
thống đoàn kết của con cháu Lạc Hồng. Với truyền thống yêu nước nồng nàn,
mỗi khi đất nước bị giặc ngoại xâm, nhân dân Ba Vì đều dốc lòng đóng góp
sức người, sức của cùng cả nước chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, huyện Ba Vì có 5.017 liệt
sỹ đã hy sinh …
Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được cải thiện. Công tác văn hóa, xây dựng nếp sống người Hà Nội
trước năm 2001
* Ưu điểm
Đảng bộ huyện Ba Vì xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm,
xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ
chức. Cụ thể như sau:
Một là, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng được coi trọng.
Công tác giáo dục lý luận chính trị được Ban Thường vụ, Thường trực
Huyện ủy quan tâm và đẩy mạnh hơn, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết
thực tiễn, từng bước đổi mới công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, nghiên cứu
học tập nghị quyết của Đảng, tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, bước đầu đã đạt một số kết quả: trong 5 năm (1996 –
2000) đã mở 137 lớp bổi dưỡng lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ
cho 8.538 học viên, số lượng học viên tăng hơn nhiệm kỳ trước là 41%. Hàng
năm có 85% số đảng viên, 75% thành viên các tổ chức chính trị xã hội tham
gia học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Đội ngũ báo cáo viên được củng cố
13
về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng, góp phần quan trọng về cung
cấp thông tin có định hướng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực hiện có
hiệu quả việc giáo dục truyền thống cách mạng, hầu hết cán bộ, đảng viên đã
nâng cao nhận thức, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh,
tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng
Đảng bộ thường xuyên coi trọng công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân, tập trung tổ chức nghiên cứu, quán triệt và triển khai
kịp thời Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ
XII của Đảng bộ tỉnh Hà Tây và Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII của Đảng
bộ huyện Ba Vì cùng các Chỉ thị, Nghị quyết khác của Đảng cho cán bộ, đảng
viên và nhân dân. Công tác nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn Lịch sử Đảng
Đã xây dựng được chương trình, kế hoạch kiểm tra toàn khóa, nhằm tăng
cường công tác kiểm tra của Đảng. Tập trung kiểm tra đảng viên, cấp ủy viên
cùng cấp và tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm. Qua kiểm tra 750
đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phát hiện 731 đảng viên có vi phạm, trong đó
phải xử lý 253 đảng viên; kiểm tra 98 lượt tổ chức cơ sở đảng có dấu hiệu vi
phạm, phát hiện 94 lượt tổ chức đảng vi phạm phải xử lý 4 tổ chức đảng [46,
tr.13]. Công tác kiểm tra đã góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn đảng
viên vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm trong sạch đội ngũ
đảng viên và từng bước thực hiện công bằng xã hội.
Bốn là, công tác xây dựng các tổ chức cơ sở đảng có bước chuyển biến
tích cực.
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) và Nghị quyết
Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đã tập trung
kiện toàn, củng cố tổ chức cơ sở đảng. Do đó, số cơ sở đảng và chi bộ đạt
trong sạch vững mạnh ngày càng tăng. Cơ sở đảng vững mạnh năm 1996 là
54,4%, đến năm 1999 đã tăng lên 57,9%. Số chi bộ vững mạnh năm 1996 là
15
47%, đến năm 1999 tăng lên 64,23%, tăng 27% so với nhiệm kỳ trước. Chi bộ
yếu kém năm 1996 là 4,29% giảm còn 0,63% năm 1999 [46, tr.12].
Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là đảm bảo cho Đảng làm đúng
chức năng lãnh đạo, phát huy mạnh mẽ vai trò của cơ quan chính quyền, các
tổ chức kinh tế, các đoàn thể chính trị xã hội. Trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ xây dựng Đảng ở Đảng bộ huyện Ba Vì, các cấp ủy Đảng không bao biện
làm thay công việc thuộc chức năng quản lý, điều hành của chính quyền.
Đảng lãnh đạo không phải là Đảng thay thế Nhà nước quản lý điều hành công
việc của Nhà nước, mà là để khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của
Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức
đảng nhất là sinh hoạt chi bộ. Đổi mới một bước tổ chức và cán bộ, nâng cao
trình độ và sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên; ngăn chặn được sự sa sút,
yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng; cải tiến phương thức lãnh đạo và
phong cách công tác; kiểm tra việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt
đảng, giữ gìn phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên và việc xử lý kỷ luật
Đảng. Để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, Đảng bộ huyện đề ra phương
châm: Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ ở Đảng bộ xã – thị trấn. Qua đó
đã đánh giá được chất lượng sinh hoạt chi bộ trong thời gian qua còn nhiều
nhược điểm. Từ đó đưa ra phương pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng sinh
hoạt chi bộ, đặc biệt là các hình thức đổi mới nội dung sinh hoạt chi bộ.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ba Vì trong thời
gian vừa qua đã đem lại những kết quả nhất định trên các lĩnh vực của đời
sống kinh tế, chính trị - xã hội, trong đó có lĩnh vực xây dựng Đảng. Đồng
thời đây cũng là những tiền đề quan trọng cho Đảng bộ huyện Ba Vì trong
công tác xây dựng Đảng ở những giai đoạn sau.
Nguyên nhân kết quả đạt được
17
Sự nghiệp đổi mới của Đảng đã tác động tích cực đến đời sống chính trị
của các tầng lớp nhân dân. Cơ chế chính sách pháp luật của Nhà nước ngày
càng hoàn thiện, tạo động lực phát triển cho địa phương.
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Huyện ủy đã bám sát
mục tiêu Đại hội. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc kịp thời đề ra những biện
pháp để tập trung chỉ đạo. Coi trọng sơ kết, tổng kết, chấn chỉnh những lệch
lạc trong chỉ đạo. Luôn phát huy tinh thần phê bình, sửa chữa những khuyết
điểm, giữ gìn đoàn kết thống nhất nội bộ, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ
của Tỉnh và của Trung ương.
điều hành và quản lý.
Sự phối hợp giữa các ngành, các đoàn thể có lúc, có việc thiếu đồng bộ.
Việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa tốt, công
tác xây dựng Đảng còn hạn chế.
Từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhất là thực trạng công tác xây
dựng Đảng của Đảng bộ huyện Ba Vì trong những năm trước 2001, đặt ra
trong những năm 2001 – 2005, Đảng bộ huyện Ba Vì phải nhận thức đúng và
có những chủ trương, biện pháp sát hợp để triển khai công tác xây dựng Đảng
bộ đạt hiệu quả cao, bảo đảm cho Đảng bộ vững mạnh toàn diện đủ sức lãnh
đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình.
1.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Ba Vì về xây dựng Đảng trong
những năm 2001 – 2005
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về xây dựng Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng diễn ra vào thời điểm có
ý nghĩa trọng đại. Thế kỷ XXI vừa bắt đầu, nước ta trải qua 10 năm thực hiện
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000 và 15 năm đổi
mới đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục quán
triệt chủ trương: “Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then
chốt”, khẳng định nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao
19
năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Đây là nhiệm vụ đã được Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII, Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đề ra về
một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, mở cuộc
vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiến hành phê bình và tự phê bình trong
các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ chốt từ Trung ương đến cơ sở. Đại hội
cũng khẳng định: Trong những năm tới, toàn Đảng tiếp tục thực hiện các
Nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa
đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm còn hạn chế, chưa chủ động, chưa có biện
pháp tích cực để nắm bắt tình hình.
Từ những thành tựu và hạn chế trên, Đại hội đã thảo luận và đề ra
phương hướng trong thời gian tới như sau:
Cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Quán triệt sâu sắc
trong cán bộ, đảng viên những quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng. Bồi
dưỡng nhận thức đúng đắn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc. Từng bước đổi mới công tác giáo dục tư tưởng chính
trị, nghiên cứu, học tập các nghị quyết của Đảng, tuyên truyền giáo dục chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức tin tưởng
vào công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo. Nhiệm vụ chủ yếu trong nhiệm kỳ
tới là phải quán triệt và xây dựng chương trình hành động thực hiện có hiệu
quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết đại hội Đảng
bộ các cấp. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính
quyền, các đoàn thể, cải tiến lề lối làm việc, phương pháp lãnh đạo điều hành
của bộ máy Nhà nước từ huyện đến cơ sở.
Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ. Thực hiện quy hoạch cán bộ và từng
bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ. Có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng bằng nhiều
hình thức phù hợp nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực đáp
21