đảng cộng sản việt nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ 1975 2000 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------

TRƯƠNG THỊ HOA

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(TỪ 1975 ĐẾN 2000)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2007


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------TRƯƠNG THỊ HOA

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(TỪ 1975 ĐẾN 2000)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HOÀNG HỒNG

HÀ NỘI - 2007



những năm 1986 - 1996.............…………………………………………53
2.1.2.1. Ngành giáo dục phổ thông triển khai thực hiện đƣờng lối
đổi mới của Đảng .............…………………………………………53
2.1.2.2. Một số kết quả của giáo dục phổ thông giai đoạn
1986 - 1996 .................................................................................... .61
2.2. Giai đoạn 1996 - 2000 ........................................................................................ 69
2.2.1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ƣơng
Đảng (khóa VIII) về định hƣớng chiến lƣợc phát triển giáo dục - đào tạo
trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (12/1996) ........................................... 69
2.2.2. Giáo dục phổ thông Việt Nam trong những năm 1996 - 2000.................. 77
CHƢƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐẶT RA ...................................................... 93
3.1. Một vài nhận xét................................................................................................. 93
3.1.1. Về thành tựu ............................................................................................. .93
3.1.2. Hạn chế .................................................................................................... 101
3.2. Bài học kinh nghiệm ....................................................................................... .108
3.3. Những vấn đề đã đặt ra .................................................................................... 118
KẾT LUẬN ........................................................................................................ ….125
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 128
PHỤ LỤC………….……………………………………………………………...134


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Ý nghĩa

- PGS


- HĐBT

Hội đồng Bộ trƣởng

- TTLB

Thông tƣ Liên bộ

- CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hơn 60 năm qua (1945 - 2007), nền giáo dục nước ta đã trải qua biết bao thử
thách, thăng trầm, nhưng vẫn luôn giữ vững bản chất là nền giáo dục “của dân, do dân
và vì dân”, vẫn phát triển, ngay trong những điều kiện hết sức khó khăn của chiến tranh
và của trình độ kinh tế non kém. Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp giáo dục
kịp thời, sáng suốt đào tạo và bồi dưỡng con người, thích hợp với hoàn cảnh đất nước,
góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng
chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đang tiến hành. Đảng và Nhà nước ta hết sức
coi trọng vị trí, vai trò của giáo dục trong sự nghiệp cách mạng. Ngày nay, giáo dục
được coi là quốc sách hàng đầu.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, giáo dục phổ thông là nền
tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở
ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học

một điều rất cần thiết là phải nhìn nhận, tiếp thu những kinh nghiệm giáo dục trong lịch
sử giáo dục của đất nước. Với mục đích tìm hiểu đường lối của Đảng ta đối với giáo
dục phổ thông giai đoạn này cũng như quá trình thực hiện trong thực tiễn, phân tích rõ
những thành tựu cũng như những hạn chế của nó, từ đó nhìn nhận, đánh giá, có thể rút
ra một số bài học kinh nghiệm để xây dựng phương hướng phát triển đúng đắn của
giáo dục phổ thông Việt Nam giai đoạn sau này.
Chính vì lý do đó mà tôi chọn đề tài cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Đảng cộng sản Việt Nam của mình là: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự
nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 2000)”

2


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam
nói chung và giai đoạn từ 1975 nói riêng. Các sách đó có một số cuốn có điểm qua về
lịch sử giáo dục phổ thông cũng như những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với
giáo dục phổ thông từ năm 1975, tuy nhiên cũng rất sơ sài vì đó chỉ là một phần nhỏ
trong cuốn sách, thời gian cũng chỉ hạn chế đến thời điểm viết cuốn sách, hoặc chỉ
quan tâm đến một vấn đề nào đó của giáo dục phổ thông. Theo thứ tự thời gian xuất
bản, có thể kể đến như:
Cuốn “35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông”, của Võ Thuần Nho
(cb) do Nxb Giáo dục xuất bản năm 1980, đề cập đến lịch sử giáo dục phổ thông nước
ta từ năm 1945 đến 1980, trong đó dành một phần rất khiêm tốn để nói về tình hình
giáo dục phổ thông nước ta từ sau ngày giải phóng đến năm 1980 với những số liệu
thống kê. Cuốn sách giúp cho chúng ta nắm được lịch sử cơ bản của 35 năm phát triển
sự nghiệp giáo dục phổ thông Việt Nam.
Cuốn “Tổng kết giáo dục 10 năm (1975 - 1985) ” của Bộ Giáo dục do Nxb Giáo
dục ban hành năm 1986, đã tiến hành tổng kết, nêu ra những chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với giáo dục, sự triển khai của Bộ Giáo dục cũng như tình hình

thông Việt Nam giai đoạn này, giới hạn đến năm 1995, bản thân cuốn sách cũng là sự
kế thừa những cuốn sách trước đã viết về giáo dục phổ thông của nước ta.
Cuốn “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” của tác giả Lê
Văn Giạng do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2003, trong đó có dành một phần
nhỏ mô tả hoạt động nền giáo dục của nước Việt Nam thống nhất và chủ nghĩa xã hội
(từ năm 1975 đến năm 2000). Như tên gọi của cuốn sách, tác giả đã trình bày một cách
khái lược tiến trình giáo dục Việt Nam, giáo dục phổ thông được đề cập đến một cách
sơ lược.
Cuốn “Lịch sử giáo dục Việt Nam” do Bùi Minh Hiền biên soạn được Nxb Đại
học sư phạm phát hành năm 2004. Đây là giáo trình dùng cho sinh viên các trường Đại

4


học và Cao đẳng sư phạm, trong đó có dành hai chương viết về giáo dục Việt Nam hai
giai đoạn 1975 - 1986 và 1986 đến nay (năm 2004). Cuốn sách không dành viết riêng
về giáo dục phổ thông, nhưng qua việc trình bày những chính sách, những tổng kết tình
hình giáo dục Việt Nam nói chung, ta có thể chọn lọc ra những phần liên quan đến giáo
dục phổ thông giai đoạn 1975 - 2000.
Kế thừa thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn sẽ cố gắng tập hợp những
chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục phổ thông giai đoạn 1975 2000 và các hoạt động cơ bản của ngành giáo dục để triển khai thực hiện, trên cơ sở đó
mạnh dạn phân tích và đưa ra những nhận xét về giáo dục phổ thông giai đoạn này.
Vấn đề sẽ được trình bày trong một hệ thống chặt chẽ, lôgíc và có tính lịch sử. Chúng
tôi coi đó là đóng góp mới của đề tài.

3. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục phổ
thông những năm 1975 - 2000. Trên cơ sở tìm hiểu những đường lối, chính sách, chủ
trương của Đảng đối với giáo dục phổ thông giai đoạn này cũng như quá trình triển
khai thực hiện những chính sách đó như thế nào, đồng thời căn cứ vào hoàn cảnh lịch

liệu có độ tin cậy cao và có khả năng đáp ứng tốt cho nghiên cứu của đề tài.

5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để có được những phân tích, đánh giá thật sự khoa học, khách quan trong khi
nghiên cứu, đề tài dựa trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục và đào tạo.
Để khai thác tốt nguồn tư liệu hiện có và để trình bày vấn đề “Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 2000)” theo một hệ
thống hợp lý, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp sử liệu học chữ viết nhằm xử lý nguồn sử liệu chữ viết rất phong
phú và khai thác được những thông tin lịch sử tin cậy.
Phương pháp thống kê mô tả để thấy được những thay đổi về cơ cấu và kết quả
hoạt động giáo dục thông qua các con số.
Phương pháp lịch sử được ứng dụng để trình bày nội dung của đề tài theo tiến
trình lịch sử.

6


Phương pháp lôgíc được sử dụng trong các phần khái quát, tổng kết, đánh giá của
luận văn.

6. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Luận văn được kết
cấu làm 3 chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 1986).
Chương 2: Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1986 đến 2000).
Chương 3: Một vài nhận xét, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đã đặt ra.

7


tiện văn hóa nào đặt nền móng cho thế giới quan khoa học bằng hệ thống kiến thức về
tự nhiên, xã hội và con người.
Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, và cũng vì thế mà là sức
mạnh tương lai của một dân tộc, vì ba lẽ:
Một là, văn hóa phổ thông là cái cửa đầu tiên mở cho nhân dân đi chiếm lĩnh toàn
bộ giá trị văn hóa, là bệ phóng đầu tiên của mọi phát minh khoa học và kỹ thuật.
Hai là, giáo dục phổ thông là phương tiện quan trọng nhất để hình thành con
người mới, là bộ phận quan trọng nhất của cách mạng tư tưởng và văn hóa.
Ba là, giáo dục phổ thông có tác dụng thúc đẩy tất cả các hoạt động văn hóa khác
và trên cơ sở phối hợp với các hoạt động văn hóa khác ấy để bồi dưỡng nên chính cái
sản phẩm của giáo dục phổ thông.
“Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân
tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng”. [62, tr.8]. Đồng thời, nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam là: học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục
nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Trong Luật Giáo dục (Luật số 11/1998/QH10 ngày 2/12/1998) của Việt Nam đã
khẳng định: “Giáo dục phổ thông là ngành giáo dục mang tính phổ cập trong giáo dục
quốc dân có mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ,
thể chất và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học
lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…. Nội dung
giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và
có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học
sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học… Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng

9


10


II, chú ý giáo dục thật tốt 5 điều Bác dạy, thường xuyên sinh hoạt theo chủ đề: “Vâng
lời Bác dạy, thi đua làm nghìn việc tốt, mừng Tổ quốc nở hoa, mừng Đội 35 tuổi”.
Ngày 17/6/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 221- CT/TW hướng
dẫn công tác giáo dục ở miền Nam.
Căn cứ vào chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác giáo dục phổ thông
ở miền Nam có những nhiệm vụ sau: mau chóng đưa giáo dục trở lại hoạt động bình
thường; kết hợp việc cải tạo nền giáo dục cũ và xây dựng nền giáo dục mới, lấy công
tác giáo dục chính trị và xây dựng tổ chức làm nhiệm vụ trung tâm, làm cho giáo dục
trở thành một lực lượng cách mạng góp phần xây dựng xã hội mới; đẩy mạnh việc xóa
nạn mù chữ cho nhân dân lao động, bổ túc văn hóa cho cán bộ và thanh niên, coi đó là
nhiệm vụ số một; phát triển giáo dục phổ thông và mẫu giáo nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho con em nhân dân lao động được đi học; xây dựng hệ thống các trường sư phạm
để đào tạo cán bộ, giáo viên mới; tổ chức lại việc quản lý giáo dục, chuẩn bị cho kế
hoạch phát triển lâu dài của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa thống nhất trong cả nước.
Thực hiện chỉ thị số 221, các tỉnh miền Nam lần lượt khai trường, lập ban điều
hành lâm thời do quần chúng đề cử để quản lý nhà trường. Học sinh được tổ chức học
bù để chuẩn bị thi lên lớp 6 và thi tú tài, việc chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp lớp 12 (tú tài)
tiến hành đồng thời với việc chuẩn bị khai trường vào năm học mới.
Cuối tháng 9/1975, gần 62.000 thí sinh của 29 tỉnh, thành phía Nam đã dự thi tốt
nghiệp phổ thông dưới chế độ mới. [63, tr. 234].
Ngày 19/10/1975, các trường phổ thông khắp các tỉnh miền Nam đã tưng bừng
khai giảng năm học giải phóng mới với 4 triệu học sinh phổ thông, mẫu giáo và gần 10
vạn giáo viên. Mở đầu năm học là việc tổ chức học tập thư Bác Hồ gửi học sinh nhân
ngày khai trường 9/1945 để xác định thái độ, động cơ học tập mới, rèn luyện đạo đức
người học sinh dưới chế độ mới.
Ngay năm học đầu, các trường phổ thông ở miền Nam đã chuyển sang hệ thống

sáng kiến lập tủ sách dùng chung cho nhà trường, tổ chức cho học sinh mượn và bảo
quản tốt.

12


Tháng 4/1976 Tổng tuyển cử thống nhất nước nhà tiến hành thắng lợi, bầu ra
Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam. Đến tháng 12/1976, Đại hội Đảng lần thứ IV đã
vạch ra con đường cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn nước ta đã độc lập
và thống nhất.
Vấn đề xây dựng con người mới, Đại hội chỉ rõ những đặc trưng cần phải bồi
dưỡng là “làm chủ tập thể, lao động, yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô
sản”. Để xây dựng con người mới, giáo dục phổ thông phải là “nền tảng văn hóa của
một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất trọng
yếu cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Vì vậy,
nhiệm vụ của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới là phải “đào tạo có chất lượng
tốt những người lao động mới” và thực hiện tốt nguyên lý, phương châm giáo dục của
Đảng.
Những năm đã qua, giáo dục tuy đã thu hút được những thành tựu to lớn, song
cũng còn nhiều mặt yếu kém, thiếu sót. Thực trạng của giáo dục trong thời kỳ mới
không đủ đáp ứng những yêu cầu của cách mạng. Bởi vậy, Đại hội IV đã quyết định
phải “tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, làm cho hệ thống giáo dục quốc dân
gắn chặt hơn nữa với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Tháng 4/1977, hội nghị tổng kết 5 năm thi đua “Hai tốt” theo gương các điển hình
tiên tiến được tổ chức (1971 - 1976). Sau 5 năm phấn đấu, nhiều đơn vị tiên tiến xuất
hiện. Số trường vừa học vừa làm lên tới 47 trường phân bố trên khắp các địa bàn đất
nước. Nhiều hình thức học tập và lao động phong phú, thích hợp với từng vùng kinh tế
khác nhau.
Qua những bài học kinh nghiệm phong phú của các đơn vị mới và cũ, hội nghị
một lần nữa khẳng định, đánh giá cao những đóng góp của phong trào, đặc biệt là bài

ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội của một nước Việt Nam thống nhất.

1.3. TIẾN HÀNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ BA.
1.3.1. SƠ LƢỢC HAI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC SAU CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945.

14


Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước. Ngày 3/9/1945 trong thư gửi học
sinh nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vai trò của giáo dục
phục vụ sự phục hưng của một nước mới giành được độc lập: “Non sông Việt Nam có
trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường
quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các
cháu”. Cùng ngày đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch nói: “Một dân
tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ”, coi
nạn thất học là một thứ giặc nguy hiểm như giặc ngoại xâm và nạn đói, và đề ra nhiệm
vụ nâng cao dân trí là một nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ.
Vừa tiến hành chiến dịch chống nạn mù chữ, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa tiếp tục phát triển đại học và trung học, chủ trương cải cách nền giáo dục
thành nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo thế hệ trẻ thành
những người công dân hữu ích cho đất nước, một nền giáo dục làm phát triển hoàn
toàn những năng lực vốn có của học sinh.
Chính phủ chủ trương xây dựng một nền giáo dục nhân dân, dân chủ, phụng sự sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một nền giáo dục tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện
chí khí, phát triển tài năng. Từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975, trên đất nước
ta đã trải qua 2 cuộc cải cách giáo dục:
- Cải cách giáo dục năm 1950.
- Cải cách giáo dục năm 1956.

cấp học: cấp I, cấp II, cấp III. Cấp I: 4 năm (không kể vỡ lòng) (lớp 1 - 4), thay cho cấp
tiểu học; cấp II: 3 năm (lớp 5 - 7), thay cho bậc trung học đệ nhất cấp gồm 4 năm và
cấp III: 2 năm (lớp 8 - 9), thay cho bậc trung học chuyên khoa (hay trung học đệ nhị
cấp) gồm 3 năm.
Bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông còn có hệ thống giáo dục bình dân, giáo
dục chuyên nghiệp và giáo dục cao đẳng, đại học.

16


Tháng 2/1951, Đại hội Đảng lần thứ II đã họp, quyết định Đảng ra công khai hoạt
động, đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Nghị
quyết của Đại hội đã soi sáng cho ngành giáo dục thực hiện thắng lợi những mục tiêu
của cải cách giáo dục.
Cuộc cải cách giáo dục năm 1956:
Cuộc cải cách giáo dục năm 1950 được tiến hành ở các vùng giải phóng, trong
vùng thuộc quyền kiểm soát của bọn thực dân Pháp các trường vẫn dạy theo số năm
học phổ thông từ tiểu học đến hết trung học đệ nhị cấp là 12 năm, với nội dung,
chương trình cơ bản giống trước năm 1945.
Như vậy là, cho đến lúc giải phóng và hòa bình lập lại (1954) ở miền Bắc từ vĩ
tuyến 17 trở lên có hai hệ thống giáo dục phổ thông: hệ thống giáo dục phổ thông 9
năm và hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm. Việc gấp rút thống nhất hai hệ thống giáo
dục là một đòi hỏi khách quan cấp thiết. Hội nghị lần thứ VII của Trung ương Đảng
khóa II (3/1955) đã nêu nhiệm vụ phải mau chóng “chấn chỉnh và củng cố giáo dục
phổ thông, thống nhất hai hệ thống giáo dục của vùng tự do cũ và các vùng mới giải
phóng”. [12, tr. 20].
Tháng 3/1956 Chính phủ thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ hai và giao
cho Bộ Giáo dục bắt đầu triển khai đề án đó. Tháng 8/1956 Chính phủ ban hành “chính
sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”.
Mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục lần này là: “đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh

mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn
hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt”. [28, tr. 5 - 6].
Để đáp ứng những yêu cầu đó, nước ta có một cơ sở thuận lợi: “đó là những thành
tựu đáng tự hào của sự nghiệp giáo dục trong hơn 20 năm qua” [28, tr. 9]. Tuy nhiên,
đối chiếu với yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, sự phát triển của giáo dục
Việt Nam (đến năm 1979) cả về số lượng và chất lượng đều không đáp ứng được, còn
nhiều nhược điểm và thiếu sót.

18


“Sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa của ta phát triển nhanh về số lượng, nhưng
còn yếu về chất lượng toàn diện. Nội dung và phương pháp giáo dục chưa thấu suốt
nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn
liền với xã hội”. [28, tr. 12].
Hệ thống giáo dục chưa bồi dưỡng đúng mức cho thế hệ trẻ những phẩm chất và
năng lực của con người mới, chưa chuẩn bị đầy đủ cho học sinh đi vào sản xuất lớn xã
hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục cũng chưa bảo đảm việc hình thành đội ngũ lao động
mới có ý chí cách mạng kiên cường, có trình độ kiến thức, tác phong công tác và lối
sống phù hợp. Chưa đảm bảo yêu cầu học tập thường xuyên và rộng rãi của đông đảo
nhân dân lao động.
Về hạn chế trong giáo dục phổ thông, Nghị quyết nêu: “Học sinh tốt nghiệp các
trường phổ thông chưa được chuẩn bị kiến thức cần thiết, về ý thức, năng lực và sức
khỏe để trở thành những người lao động kiểu mới. Nội dung giáo dục của trường phổ
thông chưa toàn diện, chủ yếu chỉ mới dạy kiến thức văn hóa chung, còn coi nhẹ kiến
thức kỹ thuật và quản lý; phương pháp giáo dục của trường phổ thông còn có phần đơn
giản và cũ kỹ, coi nhẹ thực hành và lao động sản xuất, do đó chưa phát huy trí thông
minh, óc sáng tạo của học sinh…Mức độ phổ cập giáo dục phổ thông trong cả nước
còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế và văn hóa trong giai đoạn mới”. [28, tr. 13].
Vì vậy, yêu cầu cải cách nền giáo dục đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng Việt

về con người mới.
“Trong nhà trường phổ thông, lao động sản xuất phải có tính chất kỹ thuật tổng
hợp, nghĩa là gắn khoa học và kỹ thuật với sản xuất, dạy cho học sinh những kiến thức
phổ thông về sản xuất hiện đại, nắm được những kỹ năng lao động phổ thông và làm
quen với công cụ và máy móc, có ý thức trách nhiệm và thói quen đối với lao động,
chuẩn bị tốt cho học sinh đi vào đào tạo nghề nghiệp”. [28, tr. 21].
Nội dung chủ yếu của cải cách giáo dục phổ thông:
Để thực hiện được mục tiêu, nguyên lý giáo dục, phải tiến hành cải cách toàn bộ
hệ thống, nội dung và phương pháp giáo dục.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status