ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ DUNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở THỊ XÃ SƠN TÂY
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ DUNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở THỊ XÃ SƠN TÂY
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số:
60 22 85
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân ............................................................... 45
2.2.3. Một số nhận xét ....................................................................................... 50
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở THỊ XÃ
SƠN TÂY HIỆN NAY ................................................................................ 54
3.1. Quan điểm đổi mới hệ thống chính trị cơ sở ở Thị xã Sơn Tây ................... 54
3.2. Một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở ở Thị xã Sơn Tây .............................................................. 58
3.2.1. Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động của hệ thống
chính trị ở cơ sở ....................................................................................... 58
3.2.2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần, nâng cao dân trí cho nhân dân ......................................................... 67
3.2.3. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường sự kiểm tra giám sát
của dân .................................................................................................... 72
3.2.4. Chăm lo xây dựng, đào ta ̣o và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở cơ sở ............ 75
KẾT LUẬN......................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 82
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 86
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới hệ thống chính trị nhằm thực hiện và phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững
ổn định chính trị ở nước ta là vấn đề được Đảng ta quan tâm từ rất sớm, đặc biệt
từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới đất nước. Xây dựng và không ngừng hoàn thiện
đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được đổi mới cả nội dung và phương
thức hoạt động, quy chế dân chủ ở cơ sở được thực thi đã đem lại hiệu quả
thiết thực; quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực được phát huy.
Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội với diện tích 113,47 km2, dân số
khoảng 118.500 người, là một trong hai trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tỉnh Hà Tây cũ, đồng thời
được xác định là trung tâm phát triển phía Tây Thành phố Hà Nội trong
những năm tiếp theo. Trong thời gian qua, nhờ sự năng động, tích cực trong
hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở đã làm cho thị xã có nhiều biến đổi to
lớn: đời sống vật chất, tinh thần của người dân trên địa bàn ngày một được
nâng cao, quyền dân chủ được thực hiện, an ninh chính trị được giữ vững…
Tuy nhiên, trong quá tình phát triển, trên địa bàn thị xã vẫn còn tiềm ẩn
những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, sự phát triển kinh tế chưa bền vững
và nhiều vấn đề khác đặt ra cần được khắc phục mà một trong những nguyên
nhân cơ bản là do sự hoạt động yếu kém, chưa hiệu quả của hệ thống chính trị
cơ sở.
Vì vậy, để đánh giá đúng thực trạng của hệ thống chính trị cơ sở ở thị
xã Sơn Tây, tìm ra và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị cơ sở ở thị xã Sơn Tây nói riêng cũng như hệ
thống chính trị cơ sở nói chung, tác giả đã lựa chọn đề tài: Nâng cao hiệu quả
hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở thị xã Sơn Tây trong giai đoạn
hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta đã thu
hút sự quan tâm chú ý của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu như:
- Đề tài KX.10.02 “Các quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống
đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá IX về “Đổi mới và nâng cao
chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn” vào cuộc sống.
“Quan điểm và giải pháp để củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn hiện nay” (PGS.TS Hoàng Chí Bảo - Tạp chí Dân vận, số Xuân
2002), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của chính
quyền cơ sở” (Lê Hữu Nghĩa - Tạp chí Cộng sản, số 19 - 2001)…
- Kỷ yếu khoa học đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2001 - 2002 “Các
giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở Tây Nguyên trong giai
đoạn hiện nay” do PGS.TS Phạm Hảo làm chủ nhiệm đề tài (Nhà xuất bản
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 2002), Công trình “Cộng đồng làng
xã Việt Nam hiện nay” do TS. Nguyễn Văn Sáu và GS. Hồ Văn Thông làm
chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tháng 1 - 2001), công trình được
nghiên cứu ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đã làm sáng tỏ những quan điểm,
chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp
nông thôn nói chung và về hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn nói riêng.
Một số luận văn, luận án: “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ
sở nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay” (Lưu
Minh Trị - luận án PTS Triết học, Hà Nội 1993); “Đổi mới hệ thống chính trị
cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn hiện nay”
(Nguyễn Đức Ngọc - luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội 2002)…
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích, nghiên cứu về
hệ thống chính trị cơ sở ở Thị xã Sơn Tây - Thành phố Hà Nội một cách có hệ
thống nhằm tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của nó. Vì
vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài nêu trên cho hoạt động nghiên cứu của mình.
4
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục tiêu
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ tính quy luật của việc đổi mới và nâng cao
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nói chung và hệ thống chính
trị cơ sở ở Thị xã Sơn Tây nói riêng.
- Đề xuất một số giải pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị cơ sở ở Thị xã Sơn Tây.
- Kết quả của luận văn có thể dùng làm tư liệu cho việc nghiên cứu
những vấn đề có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Mô ̣t số vấ n đề lý luâ ̣n về hê ̣ thố ng chiń h tri ̣và hê ̣ thố ng
chính trị cơ sở.
Chương 2: Thực tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng của hê ̣ thố ng chính trị cơ sở ở Thị xã
Sơn Tây.
Chương 3: Quan điể m và mô ̣t số giải pháp nâng cao hiê ̣u quả hoa ̣t
đô ̣ng của hê ̣ thố ng chính tri ̣cơ sở ở Thi ̣xã Sơn Tây hiê ̣n nay .
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
1.1. Một số nhận thức chung về hệ thống chính trị và hệ thống
chính trị cơ sở
1.1.1. Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
* Hệ thống chính trị
Thuật ngữ “hệ thống chính trị” xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, theo
thống các tổ chức và thể chế của giai cấp thống trị và chỉ giai cấp thống trị mà
thôi, như một tổng thể các thiết chế thể hiện quyền lực thống trị của một giai
cấp đối với toàn xã hội; hệ thống chính trị là hình thức tổ chức bộ máy của
một giai cấp nào đó trong cuộc đấu tranh để giành và củng cố sự thống trị của
mình, là bộ máy thống trị giai cấp... Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ
chức, mà qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội.
Hay như: “Hệ thống chính trị được hiểu là một phạm trù dùng để chỉ một
chỉnh thể bao gồm Nhà nước, các đảng chính trị hợp pháp, các tổ chức chính
trị - xã hội hợp pháp nhưng ưu thế cơ bản và vai trò chủ đạo thuộc về các
thiết chế của giai cấp cầm quyền để tác động vào các quá trình kinh tế - xã
hội nhằm củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời” [7, tr.47].
Về cấu trúc, hệ thống chính trị bao gồm hai mặt: một mặt hệ thống
chính trị được hiểu là một tập hợp các thiết chế chính trị - xã hội được thành
lập và hoạt động vì những mục đích chính trị - xã hội khác nhau, bao gồm các
cơ quan và tổ chức chính trị - xã hội, các đảng phái chính trị hợp pháp, trong
đó cơ bản nhất là các đảng phái chính trị của giai cấp cầm quyền - lực lượng
chủ yếu quyết định đường hướng phát triển của quốc gia; mặt khác, được hiểu
là một cơ chế thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội, bao gồm các quan
điểm lý luận chính trị, các chuẩn mực chính trị và pháp lý, các động lực tinh
thần của hoạt động chính trị. Có thể nói, quyền lực chính trị là cốt lõi của hệ
thống chính trị. Quyền lực đó được biểu hiện thông qua các quan hệ chính trị
8
giữa các thiết chế, các lực lượng chính trị - xã hội. Quyền lực chính trị được
thể hiện một cách tập trung trước hết ở lý tưởng chính trị, quan điểm, đường
lối, chính sách của các lực lượng chính trị - xã hội, ở pháp luật của nhà nước.
Chính vì thế, hệ thống chính trị ở mỗi quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến sự
tồn tại, phát triển của chính quốc gia đó và của xã hội loài người.
dựng thành công chủ nghĩa xã hội” [46, tr.301].
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của lịch sử, nó ra đời
từ sự thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản, mặc dù trải qua những thăng trầm
trong quá trình phát triển nhưng vẫn luôn kiên trì và nhất quán mục tiêu xây
dựng xã hội công bằng, dân chủ, không còn sự đối kháng giai cấp, không có
sự phân biệt giàu nghèo. Dưới chủ nghĩa xã hội, khi những điều kiện kinh tế,
chính trị, văn hoá xã hội biến đổi thì hệ thống chính trị cũng thay đổi theo.
Trong hệ thống chính trị có thể xuất hiện thêm những tổ chức chính trị - xã
hội mới và cũng có thể mất đi một bộ phận cũ nào đó và cả sự thay đổi trong
chính mỗi tổ chức. Ngược lại, hệ thống chính trị cũng tác động trở lại đối với
đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá...
Đối với nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể
chân chính của quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là
công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, được thành lập, hoạt động trên cơ
sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và
đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân.
Như vậy, về cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm ba bộ
phận: Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân và là lực lượng lãnh đạo hệ thống
chính trị - xã hội chủ nghĩa và toàn thể xã hội; Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của hệ thống chính trị; Mặt trận Tổ
10
quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của nhà
nước và xã hội.
trường và chính sách mở cửa, hội nhập,... đòi hỏi các thành tố cấu thành phải
là một động lực tổng hợp của tất cả các lực lượng chính trị - xã hội phấn đấu
vì một mục tiêu chung, cùng tuân theo một cơ chế vận hành và những nguyên
tắc nhất định.
1.1.2. Hệ thống chính trị cơ sở
* Khái niệm, cấu trúc của hệ thống chính trị cơ sở
Hiện nay, ở nước ta, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng, cấp cơ sở
là cấp xã, phường, thị trấn. Đây là quan niệm phù hợp với tình hình thực tế,
được nhiều người tán thành. Tại hội thảo Khoa học - Thực tiễn “Xây dựng hệ
thống chính trị và đội ngũ cán bộ cơ sở” do Bộ biên tập Tạp chí Cộng sản
phối hợp với tỉnh uỷ Hà Nam tổ chức vào ngày19/6/2002, các nhà lý luận và
quản lý đều cơ bản thống nhất quan niệm về hệ thống chính trị cơ sở. PGS.
TS Trần Quang Nhiếp cho rằng: “Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại
bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống và diễn ra mọi mặt hoạt động của đời sống
xã hội một cách sinh động. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng
trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính
sách và pháp luật của Nhà nước...” [36, tr.46]. Theo PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ
thì “hệ thống chính trị cơ sở là cấp độ cuối cùng trong cấu trúc của hệ thống
chính trị đất nước... Hệ thống chính trị cơ sở là cầu nối trực tiếp đưa nghị
quyết của Đảng vào cuộc sống, là nơi cung cấp cơ sở thực tiễn sát hợp nhất để
đưa cuộc sống vào nghị quyết” [36, tr.50]. Còn PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển
khẳng định: “Cấp xã, phường, thị trấn là một mắt khâu quan trọng trong hệ
thống chính trị ở nước ta. Do đó cán bộ cơ sở là cán bộ của bộ máy Đảng,
Nhà nước làm việc ở địa phương” [36, tr.51].
Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2008 khẳng
định: “cơ sở là cái làm nền tảng để dựa vào đó hay từ đó mà phát triển”,... là
“đơn vị cấp dưới trực tiếp thực hiện nhiệm vụ công việc”...
12
13
* Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở
Hệ thống chính trị cấp cơ sở là một cấp trong Hệ thống chính trị chỉnh
thể từ Trung ương đến cơ sở mang đầy đủ những đặc điểm chung, song nó
cũng mang những đặc điểm riêng của cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị
đang vận hành ở nước ta, đó là:
- Trong cấu trúc 4 cấp của Hệ thống chính trị ở Việt Nam thì Hệ thống
chính trị cơ sở là cấp cuối cùng, đồng thời là cấp thấp nhất trong hệ thống
quản lý hành chính nhà nước. Mặc dù là cấp thấp nhất trong hệ thống quản lý
nhưng cơ sở là nền tảng của chế độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cấp
xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì
mọi công việc đều song xuôi” [30, tr.371-372]. Vì vậy, chăm lo sự bền vững
của cơ sở, từ cơ sở, làm cho hệ thống chính trị ở cơ sở phải thực sự của dân,
do dân, vì dân.
- Hệ thống chính trị cơ sở là cấp gần dân nhất. Đội ngũ cán bộ, công
chức ở cơ sở là những người hàng ngày sống và làm việc với dân, có điều
kiện tiếp xúc gần gũi với dân, hiểu tâm tư nguyện vọng của dân chính vì vậy
cán bộ công chức cơ sở được coi là cầu nối giữa dân với Đảng. Một mặt cán
bộ cơ sở là người đưa chủ trương chính sách đến với dân, hướng dẫn nhân
dân, động viên nhân dân, mặt khác vừa là người phản ánh nguyện vọng của
dân đối với Đảng, chính quyền cũng như đoàn thể các cấp.
- Hệ thống chính trị cấp cơ sở không phải là cấp hoạch định mà là cấp
triển khai, chấp hành; cấp trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối của Đảng,
hiện thực hoá nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Thông qua thực tiễn hoạt
động ở cơ sở các tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở có căn cứ để tổng kết thành
những bài học kinh nghiệm từ đó góp phần bổ sung cho chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Hệ thống chính trị cấp cơ sở mang tính đặc thù là sự kết hợp chặt chẽ
khu vực phía tây bắc của tỉnh Hà Tây trước đây, nay là Thủ đô Hà Nội.
15
Phía bắc thị xã có sông Hồng chảy qua, là địa giới tự nhiên giữa thị xã
với huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), phía Tây giáp huyện Ba Vì, phía Đông
giáp huyện Phúc Thọ và phía Nam giáp huyện Thạch Thất...
Thị xã Sơn Tây thuộc vùng trung du, trong đó 3/4 diện tích là đồi gò,
nối liền đồi núi huyện Ba Vì, trải dài thoai thoải từ Tây Bắc đến Đông Nam.
Khu vực phụ cận núi Tản Viên đến ven sông Tích là đồi gò. Khu vực từ nội
thị đến đê sông Hồng là vùng đồng bằng tương đối màu mỡ do thường xuyên
được phù sa bồi đắp, đây nổi lên những quả đồi cao, thấp xen kẽ nhau tạo ra
những đường đi uốn lượn được hình thành một cách tự nhiên.
Chính những đặc điểm về tự nhiên này cùng với nhân tố lịch sử - văn
hóa đã tạo ra cho Thị xã Sơn Tây những tiềm năng, thế mạnh to lớn trong
phát triển kinh tế với những ngành có thế mạnh như chăn nuôi, trồng trọt,
phát triển du lịch, dịch vụ...
1.2.2. Nhân tố lịch sử - văn hoá
Vùng đất Sơn Tây từ đời nhà Lê là trấn lỵ của trấn Đoài, rồi trấn lỵ của
trấn Sơn Tây thời kỳ đầu nhà Nguyễn. Năm 1831, trấn Sơn Tây đổi thành tỉnh
Sơn Tây và vùng đất thị xã Sơn Tây ngày nay trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Sơn Tây.
Thời kỳ Pháp thuộc, tỉnh lỵ của tỉnh Sơn Tây được đổi thành thị xã Sơn Tây.
Năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây được sáp nhập lại thành tỉnh
Hà Tây, khi đó Sơn Tây là một trong hai thị xã của tỉnh Hà Tây.
Ngày 27/12/1975, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V thông qua Nghị quyết
hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Thị xã Sơn
Tây là một trong 3 thị xã thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.
Ngày 29/12/1978, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI thông qua Nghị
quyết phê chuẩn việc sáp nhập một số huyện, thị xã, xã và thị trấn của tỉnh Hà
nhập về Thủ đô Hà Nội.
Ngày 8/5/2009, Chính phủ ra Nghị quyết số 19/NQ-CP, về việc chuyển
Thành phố Sơn Tây thành Thị xã Sơn Tây thuộc Thành phố Hà Nội.
17
Sau nhiều lần điều chỉnh, tính đến nay Thị xã Sơn Tây có 15 đơn vị
hành chính trực thuộc gồm 9 phường: Lê Lợi, Quang Trung, Phú Thịnh, Ngô
Quyền, Sơn Lộc, Xuân Khanh, Trung Hưng,Viên Sơn, Trung Sơn Trầm; và 6
xã: Đường Lâm, Thanh Mỹ, Xuân Sơn, Kim Sơn, Sơn Đông, Cổ Đông.
Cùng với lịch sử lâu đời, thị xã Sơn Tây còn là vùng đất giàu truyền
thống văn hoá, chứa đựng nhiều nét đặc sắc tiêu biểu cho văn hoá truyền
thống của dân tộc Việt. Đây cũng là vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hoá,
nhiều sinh hoạt truyền thống cộng đồng, lễ hội truyền thống được bảo tồn và
lưu giữ khá nguyên vẹn trong suốt chiều dài lịch sử. Sơn Tây còn được biết
đến với những truyền thuyết lịch sử, kho tàng truyện thần thoại, truyện cổ dân
gian, kho tàng ca dao, tục ngữ; vùng đất đậm đặc các di tích lịch sử - văn hoá
với 172 di tích, trong đó có 63 di tích đã được xếp hạng. Tiêu biểu là: Thành
cổ Sơn Tây, đền Và (Trung Hưng), đình Mông Phụ, đền thờ Phùng Hưng,
lăng Ngô Quyền, chùa Mía, Văn Miếu (Đường Lâm); đàn Xuyên Sơn, đền
Tiên Nông (Viên Sơn), đền Măng (Sơn Đông)… Đặc biệt Làng cổ ở Đường
Lâm được coi là một trong những ngôi làng cổ nhất, kết tinh hàng nghìn năm
lịch sử của nền văn minh sông Hồng, là ngôi làng cổ đầu tên của đất nước đã
được công nhận Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia; là làng duy nhất của
Việt Nam sinh ra hai vị vua, anh hùng dân tộc Phùng Hưng, Ngô Quyền cùng
nhiều bậc quốc sĩ làm rạng danh cho quê hương đất nước. Chính vì vậy, thị xã
Sơn Tây ngày nay được biết đến không chỉ vì bề dày thời gian mà quan trọng
hơn là vì ở đây còn lưu giữ nhiều nét văn hoá đặc trưng, mang đậm bản sắc
riêng đáng tự hào. Truyền thống văn hóa đặc sắc ấy gắn liền với truyền thống
vào các trường Đại học và cao đẳng trong cả nước [11, tr.198-200].
Nhờ hệ thống giáo dục phổ thông này cùng với các trường đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đóng trên địa bàn (13 trường), Thị
xã Sơn Tây trở thành địa bàn có trình độ dân trí cao, có đội ngũ lao động lành
nghề đã qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu công việc.
Sơn Tây còn tự hào là vùng đất có truyền thống cần cù, dũng cảm đấu
tranh chống lại thiên tai khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống, điều này được
19
mô tả, hình tượng hoá trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh và di tích
một vùng văn hoá mang đậm dấu ấn của cuộc chiến đấu chống lại thiên tai
trong suốt chiều dài lịch sử.
Với truyền thống hào hùng và những tiềm năng to lớn của mình, trong
tương lai thị xã tiếp tục có những bước phát triển vững chắc. Tuy nhiên trong
xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, thị xã đang đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, toàn quân và toàn dân phải nhận
thức sâu sắc những thuận lợi và khó khăn, phấn đấu vì sự nghiệp phát triển
chung, phát huy ý chí tự lực tự cường, tinh thần dám nghĩ, dám làm, vươn lên
mạnh mẽ, xây dựng Thị xã Sơn Tây thành một đô thị văn minh, hiện đại,
xứng đáng với truyền thống hào hùng và những giá trị văn hiến tốt đẹp của
vùng đất xứ Đoài.
1.2.3. Nhân tố kinh tế - xã hội
Thị xã Sơn Tây là địa bàn có tiềm năng to lớn về lao động đặc biệt là đội
ngũ lao động đã qua đào tạo. Trên toàn thị xã có khoảng 70 nghìn người trong độ
tuổi lao động, đa số lực lượng này đã qua đào tạo trong đó có đào tạo tại chỗ.
Đây chính là thế mạnh đáp ứng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thị xã Sơn Tây có nhiều thuận lợi cả về đường thuỷ và đường bộ. Thị
xã cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 42km, có quốc lộ 32 chạy qua đến cầu
lợi cho sự phát triển một cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp - du lịch - thương mại.
Một yếu tố kinh tế - xã hội khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động của hệ
thống chính trị cơ sở ở Thị xã Sơn Tây đó là yếu tố dân tộc và tôn giáo nơi đây.
Về dân tộc, thị xã có cơ cấu dân tộc thuần nhất cư dân chính là người Kinh, tuy
nhiên do tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội mà trên địa bàn thị xã cũng có
mặt cư dân các dân tộc Dao, Mường... nhưng số lượng không đáng kể. Về tôn
giáo, địa bàn Thị xã Sơn Tây tập trung chủ yếu hai tôn giáo chính là Phật giáo và
Thiên chúa giáo. Số lượng tín đồ tôn giáo không nhiều; riêng đối với tín đồ thiên
chúa giáo thường tập chung ở những khu vực nhất định như xã Cổ Đông, phố
Tùng Thiện (phường Trung Sơn Trầm), phố Lê Lợi (phường Lê Lợi); sinh hoạt
21