Đảng bộ thị xã sơn tây hà tây lãnh đạo giải quyết vấn đề lao động và việc làm tu nam 1996 den nam 2006 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THÚY QUỲNH

ĐẢNG BỘ THỊ XÃ SƠN TÂY (HÀ TÂY) LÃNH ĐẠO
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THÚY QUỲNH

ĐẢNG BỘ THỊ XÃ SƠN TÂY (HÀ TÂY) LÃNH ĐẠO
GIẢI QUYẾT VẤN ĐẾ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học

Chƣơng 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC THỰC HIỆN
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM CỦA ĐẢNG BỘ
THỊ XÃ SƠN TÂY GIAI ĐOẠN 1996 – 2000 .......................................... 14
1.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng nguồn lao
động, nhu cầu việc làm của thị xã Sơn Tây trước năm 1996. ........................ 14
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động tới vấn đề lao động và việc
làm của thị xã Sơn Tây. ................................................................................ 14
1.1.2. Thực trạng nguồn lao động, nhu cầu việc làm ở thị xã Sơn Tây trước
năm 1996...................................................................................................... 20
1.2. Đảng bộ thị xã Sơn Tây lãnh đạo giải quyết vấn đề việc làm cho người
lao động giai đoạn 1996 - 2000. ................................................................... 30
1.2.1. Đường lối chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về
vấn đề lao động và việc làm giai đoạn 1996 - 2000. ..................................... 30
1.2.2 Phương hướng, nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động của
Đảng bộ thị xã Sơn Tây giai đoạn 1996 - 2000. ........................................... 38
1.2.3. Quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện giải quyết việc làm cho người lao
động của Đảng bộ thị xã Sơn Tây giai đoạn 1996 – 2000. ........................... 41
Chƣơng 2. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC THỰC HIỆN
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM CỦA ĐẢNG BỘ
THỊ XÃ SƠN TÂY GIAI ĐOẠN 2001 - 2006. .......................................... 57
2.1. Đường lối chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về
vấn đề lao động và việc làm giai đoạn 2001 -2006. ...................................... 57
2.1.1. Đường lối chung của Đảng................................................................. 57
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây ................................................ 58
2.2. Đảng bộ thị xã Sơn Tây lãnh đạo giải quyết vấn đề việc làm cho người
lao động giai đoạn 2001 - 2006. ................................................................... 61
4


2.2.1. Phương hướng nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động của

quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên con đường định hướng lên chủ nghĩa
xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Hội nhập kinh tế càng sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát
triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ càng làm cho nguy cơ
thất nghiệp có thể gia tăng. Đây là thách thức lớn đối với vấn đề giải quyết
việc làm cho người lao động của Việt Nam. Do vậy vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu để phát triển kinh tế xã hội, trong suốt quá trình đổi mới, mở
cửa và hội nhập quốc tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng mở đầu thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định: cần phải tạo ra
nhiều việc làm cho người lao động bởi vì số lao động tăng thêm hàng năm có
ý nghĩa rất lớn để giảm đáng kể tình trạng thất nghiệp. Đây được xem là một
nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm 1996 – 2000. Phương hướng quan trọng
6


để giải quyết việc làm là: “Nhà nước cùng toàn dân đầu tư phát triển, thực
hiện tốt các kế hoạch và các chương trình kinh tế xã hội. Khuyến khích mọi
thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo
nhiều việc làm cho người lao động, phát triển dịch vụ việc làm, tiếp tục phân
bố lại dân cư trên địa bàn cả nước…Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh
xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp của thành thị và thiếu việc
làm ở nông thôn” [26; tr.144].
Trong báo cáo đánh giá chung 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh
tế xã hội (1999 - 2000) trình đại hội IX của Đảng nêu rõ: “Đời sống của một
bộ phận nhân dân nhất là ở một số vùng núi, vùng sâu, vùng thường bị thiên
tai, còn nhiều khó khăn. Lao động không có việc làm còn nhiều, tệ nạn xã hội
còn nhiều…” [27; tr.154]. Đồng thời báo cáo cũng chỉ ra mục tiêu tổng quát
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001 – 2010 là “Để giải

Với vị trí chiến lược, thị xã Sơn Tây có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc
mở mang, phát triển kinh tế như: phát triển kinh tế công nông nghiệp, đẩy
mạnh phát triển thương mại, dịch vụ du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị. Song
vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động cũng được đặt ra đòi hỏi Đảng
bộ thị xã Sơn Tây có những chủ trương chính sách phù hợp trong lãnh đạo và
tổ chức thực hiện trên toàn thị xã. Trên cơ sở đó xây dựng chương trình kế
hoạch hành động triển khai đến nhân dân thực hiện tốt vấn đề giải quyết việc
làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu khách quan trong
sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và của thị xã Sơn Tây nói riêng đặc
biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập kinh tế
quốc tế.
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Đảng bộ thị xã Sơn Tây (Hà
Tây) lãnh đạo giải quyết vấn đề lao động và việc làm từ năm 1996 đến năm
2006” làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt
8


Nam. Là một người con của quê hương Sơn Tây, nghiên cứu đề tài này tôi mong
muốn có những đóng góp nhỏ vào những vấn đề nổi bật của thị xã Sơn Tây –
vấn đề lao động, việc làm, một đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề lao động và việc làm ở nước ta hiện nay là vấn đề được Đảng,
Nhà nước, nhiều cơ quan, nhiều cán bộ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện ở các
cấp các ngành cũng như toàn xã hội quan tâm. Vấn đề việc làm đã trở thành
“Chương trình mục tiêu quốc gia” được Chính phủ phê duyệt vào ngày 27
tháng 9 năm 2001.
Có thể thấy rõ đề tài đã thu hút giới nghiên cứu luận giải thực hiện qua
các công trình nghiên cứu của các cơ quan, của các nhà khoa học cụ thể sau đây:
Đối với các công trình nghiên cứu chung:
Các bài báo cáo khoa học, đề tài, hội thảo khoa học đề cập tới vấn đề việc

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nông
dân. Đây là những gợi mở tốt cho tác giả tham khảo, kế thừa đối với đề tài
luận văn.
Ngoài ra, còn có những luận văn, luận án của học viên cao học, nghiên cứu
sinh lấy vấn đề lao động và việc làm làm đề tài nghiên cứu như: Trần Thị Lộc
– Luận án PTS KH kinh tế, “Tạo việc làm tại khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh ở đô thị”; Trần Ngọc Diễn – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
Luận án Tiến sĩ kinh tế năm 2002, “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
tạo việc làm cho người lao động ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”;
Bùi Anh Tuấn – Đại học Kinh tế quốc dân, luận án Tiến sĩ kinh tế năm 1999,
“Tạo việc làm cho người lao động qua vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp ở Việt
Nam”; Nguyễn Quốc Anh – Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2003, “Xây dựng
chiến lược quản lý lao động, việc làm (lấy Việt Nam làm ví dụ). Thông qua
các đề tài này, các tác giả cũng đã nghiên cứu vấn đề việc làm cho người lao
10


động Việt Nam thông qua việc sử dụng các nguồn vốn nói chung và các
nguồn vốn đầu tư trức tiếp của nước ngoài vào Việt Nam. Đồng thời, đề ra
các giải pháp cụ thể để đạt được chất lượng và hiệu quả trong chính sách lao
động và việc làm cho người lao động, góp phần vào thực hiện mục tiêu phát
triển chung của đất nước là: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã
hội và công bằng xã hội.
Có thể khẳng định, các nghiên cứu về việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động ở nước ta rất phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều góc độ và
nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên hiện nay, chưa có một công trình khoa
học nào nghiên cứu sâu, toàn diện về vấn đề việc làm cho người lao động ở
thị xã Sơn Tây nhất là dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng. Nhưng các công
trình nghiên cứu kể trên là những tài liệu quý báu, tác giả có thể triển khai,
vận dụng trong quá trình thực hiện luận văn của mình.

Sơn Tây từ năm 1996 đến năm 2006.
- Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã
Sơn Tây về công tác giải quyết việc làm trên địa bàn thị xã.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu: Để hoàn thành luận văn này tôi đã sử dụng nguồn tài liệu
chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển, Hồ Chí Minh, các Văn kiện, Nghị
quyết Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến và vấn đề lao động và việc làm
cho người lao động. Các văn kiện, Nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ thị xã
Sơn Tây trong những năm 1996 – 2006, các báo cáo tổng kết chương trình
giải quyết việc làm cho người lao động qua các năm của Phòng Lao động
Thương binh và Xã hội thị xã Sơn Tây và một số tư liệu trong lịch sử Đảng
bộ thị xã Sơn Tây. Đây là nguồn tư liệu cơ bản để thực hiện đề tài này và
những tư liệu đó được khai thác bằng nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu
là tại Phòng lưu trữ của Thị ủy thị xã Sơn Tây, Ủy ban nhân dân thị xã, Phòng
Lao động Thương binh – Xã hội thị xã Sơn Tây, thư viện thị xã, Thị đoàn, Thị
ủy, Ủy ban Nhân dân, Hội phụ nữ, Hội nông dân...

12


Ngoài ra luận văn còn sử dụng các công trình khoa học, các chuyên luận,
chuyên khảo, các luận văn, luận án, các bài nói, bài viết của các lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước xung quanh vấn đề lao động và giải quyết việc làm cho
người lao động.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ
yếu là: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương
pháp đó. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương
pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, điều tra xã hội học....
6. Đóng góp của luận văn
- Nhằm hệ thống hóa những chủ trương chính sách, biện pháp, cách thức mà

hội của tỉnh Hà Tây trước đây với tổng diện tích tự nhiên là 113,46 km2, dân
số khoảng 118.406 người trong đó lực lượng lao động khoảng 72.183 người
(không kể lực lượng quân đội và học sinh, sinh viên đang theo học các trường
đại học, cao đẳng và trung cấp trên địa bàn), tổ chức hành chính có 9 xã, 6
phường 141 thôn, khu phố và gần 100 cơ quan Trung ương [75; tr.11]. Đảng
bộ thị xã Sơn Tây có 96 tổ chức cơ sở Đảng với hơn 6300 Đảng viên. Trải
qua những lần nhập và tách địa giới hành chính cấp tỉnh, thị xã tiếp tục khẳng
định được vai trò là trung tâm kinh tế - văn hóa khu vực phía Tây Bắc của
tỉnh Hà Tây trước đây mà nay thuộc Hà Nội. Phía Bắc thị xã có sông Hồng
chảy qua, là địa giới tự nhiên giữa thị xã Sơn Tây với huyện Vĩnh Tường, tỉnh
Vĩnh Phúc. Phía Tây giáp huyện Ba Vì, phía Đông giáp huyện Phúc Thọ và
phía Nam giáp huyện Thạch Thất. Nhiều đường giao thông thủy bộ đã nối thị
xã với Hà Nội và các vùng đồng bằng đồng bằng Bắc Bộ và Đông Bắc, Tây
Bắc. Sông Hồng và đường 11A từ Hà Nội qua thị xã lên Trung Hà, Phú Thọ.
Sông Tích và các đường 87, 88, 21 nối thị xã với các huyện lân cận như Phúc
Thọ, Ba Vì, Thạch Thất. Cách Hà Nội hơn 40km nên Sơn Tây được xem là
cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô.

14


Về mặt thổ nhưỡng, thị xã Sơn Tây là vùng bán sơn địa thuộc vùng
trung du, trong đó ¾ diện tích là đồi gò, nối liền với vùng núi huyện Ba Vì,
trải dài thoai thoải từ Tây Bắc đến Đông Nam. Khu vực phụ cận núi Tản Viên
đến ven sông Tích là đồi gò. Khu vực từ nội thị đến đê sông Hồng là vùng
đồng bằng tương đối màu mỡ do thường xuyên được phù sa bồi đắp, ở đây
nổi lên những quả đồi cao, thấp xem kẽ nhau tạo ra những đường đi uốn lượn
một cách tự nhiên.
Về khí hậu thị xã Sơn Tây nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có 4
mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ không khí trung bình năm 24 – 25oC.

sở để thị xã tiến hành thâm canh, sản xuất lương thực, cung cấp cho nhu cầu
của người dân thị xã. Nhân lực dồi dào, có nhiều kinh nghiệm trong thâm canh
lúa và hoa màu là một thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp của thị xã.
Thứ hai, thị xã cũng có một diện tích lớn đất trung du, thuận lợi để sản
xuất các cây công nghiệp, trong đó điển hình như cây sắn, cây lạc, cây đậu...
Ngoài ra, những đồng cỏ tương đối rộng là điều kiện tốt để thị xã khuyến
khích người dân phát triển kinh tế trang trại, chăn nuôi bò sữa, bò lai sin.
Những năm gần đây, do điều kiện tự nhiên thuận lợi, thị xã Sơn Tây tạo điều
kiện cho người dân nhân rộng mô hình kinh tế vườn đồi, tạo cảnh quan du
lịch đạt hiệu quả kinh tế cao.
* Khó khăn:
Thứ nhất, thị xã Sơn Tây là vùng đất chuyển tiếp giữa đồng bằng với
vùng trung du miền núi phía Bắc, nên nền nhiệt trung bình luôn cao hơn các
vùng xung quanh. Thêm nữa, do tác động chung của biến đổi khí hậu toàn
cầu, tác động của nhiệt độ nóng lên, cộng với độ ẩm cao, sâu bệnh nhiều cũng
là khó khăn đối với nông nghiệp của thị xã nói chung, cũng như đối với lao
động việc làm nói riêng. Để giải quyết những vấn đề nói trên thị xã cần sự tập
trung của các ban, ngành, các cấp, các hội, các cơ quan đoàn thể cùng nghiên
cứu để tìm ra biện pháp giải quyết tốt nhất.
16


Thứ hai, diện tích đất phù sa để sản xuất nông nghiệp, nhất là cây lúa
không lớn. Thêm vào đó là một diện tích đất đồi, ít chất dinh dưỡng, khó canh
tác. Chính yếu tố đòi hỏi thị xã phải có những chính sách phù hợp về nguồn
lao động, để kịp thời giải quyết những lao động thừa trong sản xuất nông
nghiệp, đồng thời có hướng tạo ra việc làm mới. Đặc điểm tự nhiên không có
nhiều thuận lợi đã phần nào đặt vấn đề lao động, đặc biệt là những lao động
phổ thông, không có trình độ trở thành vấn đề trung tâm và nhức nhối của thị
xã Sơn Tây.

Sơn Tây không chỉ là trung tâm văn hóa xứ Đoài mà còn chứa đựng nhiều
nét đặc sắc tiêu biểu cho văn hóa truyền thống của dân tộc Việt. Đây cũng là
vùng đất có nhiều di tích văn hóa, lịch sử, nhiều sinh hoạt truyền thống cộng
đồng, nhiều lễ hội truyền thống được bảo tồn và lưu giữ khá nguyên vẹn trong
suốt chiều dài của lịch sử. Thị xã Sơn Tây còn bảo tồn được 172 di tích lịch sử
văn hóa trong đó có 63 di tích được xếp hạng. Tiêu biểu như: Thành cổ Sơn Tây,
đền Và (Trung Hưng), đình (Mông Phụ), đền thờ Phùng Hưng, lăng Ngô Quyền,
chùa Mía, Văn Miếu (Đường Lâm), đền Xuyên Sơn, đền Tiền Nông (Viên Sơn),
đền Măng (Sơn Đông)... Đặc biệt là khu di tích làng cổ ở Đường Lâm, được xem
là một trong những ngôi làng cổ nhất, kết tinh của nền văn hóa sông Hồng, là
ngôi làng cổ đầu tiên của đất nước được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp
quốc gia. Đây cũng là ngôi làng duy nhất của Việt Nam sinh ra hai vị vua, hai vị
anh hùng dân tộc: Phùng Hưng và Ngô Quyền cùng nhiều bậc quốc sĩ làm rạng
danh cho quê hương, đất nước. Chính vì vậy, thị xã Sơn Tây ngày nay không chỉ
được biết đến với bề dày lịch sử mà còn là nơi lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản,
nhiều nét đẹp văn hóa mang đậm bản sắc của vùng đất xứ Đoài. Truyền thống
văn hóa đặc sắc ấy gắn liền với truyền thống hiếu học. Trong lịch sử, Sơn Tây đã
có nhiều danh nhân học rộng, tài cao. Tiêu biểu cho truyền thống hiếu học của
đất và người nơi đây là Văn Miếu trấn Sơn Tây được dựng năm 1831, bên trong

18


thờ Khổng Tử và có 2 tấm bia lưu danh 288 vị khoa giáp từ triều đại nhà Lý đến
cuối thời Mạc quê ở trấn Sơn Tây
Sơn Tây tự hào là vùng đất có truyền thồng cần cù, dũng cảm đấu tranh
chống lại thiên tai khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống, điều này phần nào đã được
hình tượng hóa trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh và di tích một vùng văn
hóa mang đậm đấu ấn của cuộc chiến đấu chống thiên tai của con người.
- Thuận lợi

công nghiệp và dịch vụ còn chưa hợp lý. Ngành du lịch dịch vụ còn chưa
được đầu tư đúng mức.
Thứ ba, trong phát triển kinh tế xã hội thì yếu tố quan trọng là lực
lượng lao động xã hội phải có trình độ cao. Trong khi đó ở thị xã Sơn Tây tuy
sát cạnh thủ đô Hà Nội nhưng lao động có trình độ cao lại chiếm tỉ lệ thấp,
trong khi đó chủ yếu là lao động phổ thông có những quan niệm và suy nghĩ
đơn giản. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi một đội ngũ
cán bộ quản lý và công nhân có trình độ. Tuy nhiên thực tế trình độ quản lý,
trình độ kỹ thuật tay nghề của công nhân còn hạn chế. Tư tưởng của một bộ
phận cán bộ còn trông chờ ỷ lại vào cấp trên. Môi trường hoạt động của
doanh nghiệp chưa thật sự thoáng, thiếu cơ chế của địa để huy động phát triển
nguồn nội lực của thị xã.
Với tiềm năng và thế mạnh của công nghiệp, nông nghiệp và du lịch
dịch vụ, thị xã Sơn Tây có thể phát triển một nền kinh tế toàn diện từ sản xuất
nông nghiệp đến công nghiệp, thương mại – dịch vụ. Nguồn nhân lực dồi dào,
thông minh, cần cù sáng tạo, người dân thị xã Sơn Tây đã góp phần tạo nên
nhiều thành tích trong quá trình phát triển chung của thị xã. Tuy vậy những
thuận lợi khó khăn trên đã tác động lớn tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội
và giải quyết việc làm của thị xã.
1.1.2. Thực trạng nguồn lao động, nhu cầu việc làm ở thị xã Sơn Tây
trước năm 1996.
20


a, Thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu mới
về nguồn lao động và giải quyết việc làm.
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng chủ nghĩa xã hội. Bên
cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu

Nam, sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới, tình hình đất nước đã đạt
được những thành tích nhất định. Đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh
tế, đời sống cán bộ, Đảng viên và nhân dân được cải thiện. Tình hình chính trị
- xã hội ổn định, an ninh, chính trị được giữ vững, quan hệ đối ngoại được mở
rộng và phá được thế bao vây cấm vận. Việt Nam từng bước tham gia các
hoạt động của cộng đồng quốc tế. Tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tây và thị
xã Sơn Tây có những chuyển biến đáng kể trong thời gian này. Đời sống của
đại đa số nhân dân được ổn định và có cải thiện từng bước. Lòng tin của nhân
dân vào công cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, củng cố, tạo động lực mới
thúc đẩy phát triển mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Khu vực phía Bắc thị xã Sơn Tây được Trung ương định hướng về kinh
tế xã hội, là trung tâm phía Tây thủ đô Hà Nội và phía Bắc của tỉnh Hà Tây;
trong những năm tới sẽ mở ra những triển vọng mới như: Khu công nghiệp cơ
khí, chế biến, sản xuất vật liệu và công nghiệp điện tử; Làng văn hóa – Du
lịch các dân tộc Việt Nam, khu trung tâm Đại học Quốc Gia, Khu an dưỡng,
nghỉ ngơi, Sân Golf Quốc tế, Khu vực xây dựng các xí nghiệp quốc phòng,
các Trường sỹ quan quân đội theo mô hình hiện đại hóa... là những thuận lợi
lớn, là thời cơ để thị xã Sơn Tây khai thác tiềm năng, giải quyết việc làm, tạo
sự phát triển về mọi mặt.
Thị xã Sơn Tây nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội, dân số năm 1996
khoảng 15.000 dân. Trong giai đoạn 1996 – 2000 công tác dân số - kế hoạch
hóa gia đình, việc thực hiện các chương trình y tế đạt kết quả khá. Tỷ lệ sinh
giảm, năm 1991 là 1,81% thì đến năm 1996 giảm còn 1,68%/1,68% bằng
22


100% chỉ tiêu mà Đại hội đặt ra. Đời sống nhân dân nhìn chung ổn định, số
hộ có thu nhập cao ngày càng tăng lên. Số hộ đói năm 1991 là 7% thì đến
năm 1996 giảm còn 6,2%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 2,2 triệu
đồng/năm.

nghiệp của thị xã Sơn Tây cũng trong tình trạng chung của cả nước là phải
tiến hành sắp xếp lại sản xuất, đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ, từng bước
phù hợp với cơ chế thị trường. Một loạt các đơn vị sản xuất kinh doanh thua
lỗ, công nhân không có việc làm, hoặc việc làm không thường xuyên công
nghệ sản xuất cũ, lạc hậu, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao,
hàng hóa tồn đọng lớn, kinh doanh thua lỗ, phải chuyển hướng sản xuất,
nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp bị bỏ bê, giải thể. Ngành công
nghiệp, thủ công nghiệp của thị xã Sơn Tây rơi vào thời kỳ suy thoái mạnh,
do đó trở thành gánh nặng lớn cho Đảng bộ tỉnh trong việc giải quyết vấn đề
việc làm cho người lao động.
Thêm nữa, dân số của thị xã chiếm tỉ lệ lớn lao động làm nông nghiệp.
Tuy nhiên thời gian này, sản xuất nông nghiệp của thị xã Sơn Tây cũng gặp
nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, thiên tai, hạn hán, sâu
bệnh nhiều, năng suất lúa không cao, kinh tế nông nghiệp nhìn chung cũng
chậm phát triển. Đảng bộ Thị xã đã có những chỉ đạo phù hợp thực hiện Chỉ
thị 100 và thi hành chỉ thị 12 của Thành ủy Hà Nội và Thị ủy Sơn Tây về
“Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp” [2; tr.215]. Phương thức khoán sản phẩm mới đã
khơi dậy tiềm năng lao động và trách nhiệm của bà con xã viên trước các
khâu công việc được giao, động viên được phong trào lao động, sản xuất ở
nông thôn, kích thích được mọi người hăng hái lao động, chất lượng công
việc tốt hơn, xã viên chủ động đầu tư về lao động, phân bón, dụng cụ, sức
kéo... vào sản xuất.

24


Bước sang đầu năm 1986, nông nghiệp bắt đầu có sự chuyển hướng đi
lên và tiềm năng đất đai được khai thác tích cực. Với tinh thần “làm giàu trên
đất đồi gò”, các hợp tác xã bước đầu vượt qua nhiều khó khăn như hạn, úng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status