Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Nông thôn Việt Nam là một bộ phận hợp thành chủ yếu của đất
nước, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước
ta. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bắt đầu từ công
nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Nguồn nhân
lực nông thôn là bộ phận cơ bản trong nội lực của đất nước. Phát triển
và sử dụng có hiệu quả nguồn lực nông thôn không chỉ có ý nghĩa là
quan trọng mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội trọng đại.
Ngày nay dân tộc ta, nhân dân ta đang bước vào một cuộc chiến
đấu mới vì cuộc sống Êm no hạnh phúc, vì công bằng xã hội. Đất nước
ta, thời cơ lịch sử của sự phát triển đã đến. Công cuộc đổi mới đang diễn
ra nhanh chóng và vững chắc. Chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra động lực và môi
trường thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình tổ chức sản
xuất-kinh doanh thật sự bình đẳng trước pháp luật và hoạt động có hiệu
quả. Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá hiện đại hoá được tạo
ra. Nhưng thách thức lớn với nước ta là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh
tế so với nhiều nước trong khu vực là nguy cơ nổi lên rất gay gắt do điểm
xuất phát của ta quá thÊp kéo theo hiệu quả xấu về công ăn việc làm.
Lao động và việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính chất
toàn cầu là mối quan tâm lớn của hầu hết các quốc gia. Việc làm ở nước
ta là một trong những vấn đề xã hội gốc rễ căn bản nhất. Giải quyết đủ
việc làm cho người lao động tiến tới việc làm ổn định có hiệu quả được
tự do lựa chọn việc làm chính là giải quyết tận gốc những căn nguyên,
1
Phần III : Các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa lao động và
việc làm ở huyện Triệu Sơn.
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
3
Luận văn tốt nghiệp
Huyện Triệu Sơn hiện nay, hàng năm có khoảng trên 5 nghìn người
bước vào độ tuổi lao động cùng với số học sinh, sinh viên tốt nghiệp các
trường phổ thông chuyên nghiệp dạy nghề và đại học chưa tìm việc làm
tồn tại qua nhiều năm, cộng với một số lượng thanh niên hết nghĩa vụ
quân sự xuất ngũ và những người dôi dư do sắp xếp lại cơ quan, doanh
nghiệp đã tạo thành một lực lượng khá đông những người có nhu cầu làm
việc.
Trước một thực tế như trên đòi hỏi phải có một giải pháp toàn diện và
đồng bộ cho vấn đề giải quyết việc làm ở huyện Triệu Sơn. Tuy nhiên do
tính chất phức tạp và khó khăn của nền kinh tế, chúng ta chưa thể giải
quyết một cách triệt để tất cả các vấn đề mấu chốt trong đó lấy chính sách
phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là trọng tâm để từng bước giải
quyết vấn đề việc làm ở huyện Triệu Sơn trong giai đoạn năm 2000-2010
Mục đích của đề tài :
Đánh giá được nguồn nhân lực trên địa bàn huyện về:
- Thực trạng nguồn nhân lực
- Thực trạng thiếu việc làm, nguyên nhân và cơ cấu lao động thiếu
việc làm
- Tác động về chính sách và giải pháp về lao động việc làm
- Những vấn đề cần quan tâm về chính sách và giải pháp nhằm nâng
Luận văn tốt nghiệp
I-Khái niệm cơ bản
1-Khái niệm nguồn lao động
1.1- Khái niệm về lao động
Theo giáo trình Tổ chức lao động khoa học:
Lao động là hoạt động có mục đÝch của con người, nhằm thoả mãn
những nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và
phát triển của xã hội loài người.
1.2- Khái niệm nguồn lao động
Nguồn lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhưng đang
thất nghiệp, những người đang đi học đang làm nội trợ trong gia đình
mình, hoặc không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng
khác (người nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ luật lao động)
Quy mô về nguồn lao động phụ thuộc vào 3 yếu tố sau đây:
- Quy mô phát triển dân số: Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân
số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn
và ngược lại
- Tỷ lệ nguồn lao động trong dân số
- Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước
Dân số và nguồn lao động là hai phạm trù có tính tương đối độc lập
với nhau. Quy mô và cơ cấu dân số quyết định đến quy mô và cơ cấu của
nguồn lao động, dân số đông tỷ lệ nguồn lao động trong dân số lớn và
6
Luận văn tốt nghiệp
nhiều lý do khác nhau chưa tham gia vào hoạt động kinh tế (nguồn lao
động dự trữ).
Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân
số hoạt động kinh tế. Đây là số người có công ăn việc làm, đang hoạt
động trong các ngành kinh tế và văn hoá xã hội.
Như vậy, giữa nguồn nhân lực sẵn có trong dân số và nguồn nhân lực
tham gia vào hoạt động kinh tế có sự khác nhau. Sự khác nhau này là do
có một bộ phận những người trong độ tuổi có khả năng lao động, nhưng
vì nhiều nguyên nhân khác nhau chưa tham gia vào hoạt động kinh tế
(thất nghiệp, có việc làm nhưng không muốn làm việc, còn đang học tập,
có thu nhập khác không cần đi làm...)
Nguồn nhân lực dự trữ: Các nguồn nhân lực dự trữ trong nền kinh tế
bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động nhưng vì các lý do
khác nhau, họ chưa có công việc làm ngoài xã hội. Số người này đóng
vai trò của một nguồn dự trữ về nhân lực gồm có:
+ Những người làm công việc nội trợ trong gia đình: Khi điều kiện
kinh tế xã hội thuận lợi nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài
xã hội, họ có thể nhanh chóng rời bỏ hoạt động nội trợ để làm công việc
thích hợp ngoài xã hội. Đây là nguồn nhân lực đáng kể, tuyệt đại bộ
phận là phụ nữ, hằng ngày vẫn đảm nhiệm những chức năng duy trì bảo
vệ, phát triển gia đình về nhiều mặt. Đó là những hoạt động có Ých và
cần thiết. Công việc nội trợ gia đình đa dạng, vất vả đối với phụ nữ ở
các nước chậm phát triển (do còn phải làm bằng chân tay nhiều). Từ đó
dẫn đến mức năng suất lao động thấp so với những công việc tương tự
được tổ chức ở quy mô lớn hơn, có trang bị kỹ thuật cao hơn.
8
Luận văn tốt nghiệp
Qua nghiên cứu người ta đưa ra kết luận: ở các nước có nền kinh tÕ
chậm phát triển tiềm năng về nguồn lao động là hết sức to lớn, nguồn lao
động dự trữ có khả năng lao động, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động
kinh tế đòi hỏi các quốc gia phải tạo nhiều việc làm để đảm bảo mọi
người lao động đều có quyền làm việc.
Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động thực chất là việc phân bố
nguồn lao động một cách hợp lý sao cho việc sử dụng các nguồn lao
động này đạt được mục đích là tăng trưởng và phát triển nền kinh tế xã
hội.
Phân bố nguồn lao động chính là việc phân phối, bố trí hình thành
các nguồn lao động theo quy luật, xu hướng tiến bộ vào các lĩnh vực
hoạt động, các ngành kinh tế các vùng lãnh thổ, xét về bản chất thì đó
chính là sự đổi mới tình trạng phân công lao động xã hội ngày càng tiến
bộ hơn và đạt trình độ ngày càng cao hơn.
Phân bố nguồn lao động hợp lý phải phối hợp, kết hợp hài hoà nhiều
biện pháp: Phân bố theo từng lĩnh vực sản xuất từng ngành và từ nội bộ
ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ trong phạm vi toàn quốc gia. Mét xu
hướng có tính quy luật là lực lượng lao động được phân bổ vào lĩnh vực
không sản xuất vật chất ngày một tăng và lực lượng lao động phân bổ
vào lĩnh vực sản xuất vật chất ngày càng giảm. Vì khi nền kinh tế phát
triển thì nhu cầu hưởng thụ về văn hoá và tinh thần ngày một cao đây là
nhu cầu vô hạn.
Mặt khác lao động sản xuất trong lĩnh vực không sản xuất vật chất
nếu đạt được hiệu quả cao sẽ có vai trò hết sức to lớn để nâng cao năng
suất lao động cho lĩnh vực sản xuất vật chất. Như đào tạo nâng cao trình
10
11
Luận văn tốt nghiệp
2.1-Việc làm
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp
người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân
trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực
nhà nước và kinh tế tập thể. Trong cơ chế đó Nhà nước bố trí việc làm
cho người lao động từ A đến Z. Do đó trong xã hội không thừa nhận có
hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động dư thừa, việc làm không
đầy đủ... Nay chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, quan
niệm về việc làm thay đổi một cách căn bản. Trên cơ sở vận dụng khái
niệm việc làm của ILO và nghiên cứu điều kiện cụ thể của Việt Nam,
chóng ta có thể hiểu được khái niệm việc làm mới được nhiều người
đồng tình: Người có việc làm là người đang làm việc trong lĩnh vực,
ngành nghề, dạng hoạt động có Ých, không bị pháp luật ngăn cấm, đem
lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần
cho xã hội.
Với khái niệm nêu trên sẽ cho nội dung của việc làm được mở rộng
và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng, giải quyết việc làm cho
người lao động. Điều này thể hiện trên hai góc độ sau:
- Thị trường việc làm đã được mở rộng rất lớn bao gồm tất cả các
thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân... ) trong mọi hình thức
và cấp độ của tổ chức sản xuất kinh doanh (kinh tế hộ gia đình, tổ hợp,
hợp tác tự nguyện, doanh nghiệp...) và sự đan xen giữa chúng. Nó cũng
không bị hạn chế về mặt không gian (vùng, trong và ngoài nước, các
tầng sinh thái...)
13
Luận văn tốt nghiệp
chấp nhận làm đủ mọi công việc để kiếm sống tạm thời. Do vậy, cần
phải chia ra:
Việc làm đầy đủ: Là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm bất cứ ai có
khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Hay nói cách khác, việc
làm đầy đủ là trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm
việc thì có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn.
(Nguồn: Trần Đình Hoan - Lê Mạnh Khoa - Sử dụng nguồn lao động
và giải quyết việc làm ở Việt Nam - NXB sự thật 1991 trang 23)
Đương nhiên, để đạt được mức độ đảm bảo việc làm đầy đủ phải có
một quá trình nhất định. Quá trình đó là ngắn hay dài là phụ thuộc vào
trình độ, hoàn cảnh khác nhau chủ quan của mỗi nước. Một nước có
điểm xuất phát càng thấp, trong quá trình phát triển, vấn đề đảm bảo việc
làm đầy đủ cho người lao động càng khó khăn và cấp thiết.
Thiếu việc làm: Được hiểu là việc làm không tạo điều kiện (không
đòi hỏi) cho người lao động sử dụng hết thời gian lao động theo chế độ
và mang lại mức thu nhập dưới mức tối thiểu, muốn tìm thêm việc làm
bổ sung.
Thiếu việc làm có thể được hiểu là trạng thái trung gian giữa có việc
làm đầy đủ và thất nghiệp.
Tình trạng thiếu việc làm được chia thành hai loại:
- Thiếu việc làm hữu hình: Khi thời gian làm việc thấp hơn mức bình
thường.
14
Luận văn tốt nghiệp
Đối với mọi quốc gia, việc nghiên cứu vấn đề thất nghiệp có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong thị trường lao động và giải quyết việc làm
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, thất nghiệp được
hiểu là “Thất nghiệp là hiện tượng người lao động trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng chưa có việc làm và
đang tìm việc làm”.
Nguồn: Cao Minh Châu chủ nhiệm đề tài: Hiện trạng lao động chưa
có việc làm tại Hà Nội 1997
2.3- Người thất nghiệp:
Là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế trong
thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc.
2.4- Tỷ lệ người có việc làm:
Là tỷ lệ phần trăm của số người có việc làm so với tổng dân số hoạt
động kinh tế .
2.5- Tỷ lệ người thất nghiệp:
Là tỷ lệ phần trăm số người thất nghiệp so với tổng dân số hoạt động
kinh tế.
Những người này bao gồm: Công nhân viên ở các cơ quan xí nghiệp
nhà nước bị dôi ra trong quá trình sắp xếp sản xuất hiện đang tìm việc
làm nhưng chưa có việc làm . Học sinh tốt nghiệp các trường chuyên
nghiệp và học nghề trong nước, người đi làm việc ở nước ngoài về đang
tìm việc làm. Những người lao động hết hạn hợp đồng lao động đang
liên hệ tìm việc làm mới... những người đến tuổi lao động.
16
Luận văn tốt nghiệp
vĩnh viễn, một điều kiện chung của sự trao đổi chất giữa con người và tự
nhiên.
Trong quá trình lao động diễn ra việc sử dụng lao động. Nói cách
khác sử dụng lao động diễn ra việc sử dụng sức lao động chính là lao
động. Vậy sức lao động là gì? Mác viết “Sức lao động hay năng lực lao
động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồi tại trong cùng
một cơ thể, trong mét con người đang sống và được con người đem ra
vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”.
Như vậy sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhất trong
quá trình lao động. Nó là yếu tố chi phí của qúa trình sản xuất, đồng thời
cũng là yếu tố mang lại lợi Ých cho quá trình lao động sản xuất. Sự phân
công lao động xã hội phát triển càng sâu sắc, sự xã hội hoá nền sản xuất
càng cao thì tính chất xã hội của sức lao động của mỗi người càng nhiều
hơn.
Vai trò của lao động: lao động là hoạt động cơ bản của con người. Xã
hội loài người đã trải qua 5 phương thức sản xuất xã hội khác nhau,
phương thức sản xuất sau ra đời bao giờ cũng tiến bộ hơn phương thức
sản xuất trước nó, phương thức sản xuất là điều kiện tiên quyết để bảo
đảm cho một trật tự xã hội. Trong mỗi phương thức sản xuất thì vai trò
của con người và hoạt động lao động của họ là điều kiện hết sức quan
trọng. Lao động là hoạt động cơ bản của con người, thông qua lao động
và cùng với lao động con người cải tạo tự nhiên và cải tạo chính bản
thân mình làm cho con người ngày càng hoàn thiện hơn. Triết học MácLênin đã chỉ rõ: Ngay từ khi thoát thai khỏi thế giới động vật con người
muốn duy trì sự tồn tại và phát triển thì không thể trông chờ vào tự
18
Luận văn tốt nghiệp
chính sách đúng đắn trong lĩnh vực kinh tế phải tập trung phát huy cao
độ khả năng của nguồn lực quan trọng đó. Nếu có những sai phạm về
chủ trương đường lối chính sách và biện pháp mà không sử dụng nguồn
lao động đó thì nguồn lao động rất có thể trở thành một gánh nặng thậm
chí gây tổn thất cho nền kinh tế.
Mặt khác lao động nguồn tài sản đặc biệt, không thể coi là nguồn vốn
ứ đọng, không có đầu ra là giá trị vật chất hay tinh thần cho xã hội,
nhưng phải có nguồn đầu vào như việc chi tiêu hàng hoá công cộng, sử
dụng tài nguyên và vấn đề xã hội khác.
Lao động và việc làm có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Nếu cũng số
lượng Êy mà giải quyết được việc làm cho họ thì sẽ đem lại lợi Ých kinh
tế. Còn không vì chất lượng lao động ... mà không giải quyết được việc
làm cho họ tức là thiếu việc làm sẽ không đủ trang trải chi phí học hành
cho trẻ nhỏ, y tế cho người bệnh, nuôi dưỡng người già, người mất sức
lao động. Sức Ðp thường trực về việc làm góp vào nguyên nhân gây ra
nhiều tiêu cực xã hội trong bộ máy quản lý hạn chế lòng nhiệt tình, lòng
tin của nhân dân gây bất ổn định về đời sống kinh tề xã hội.
Sự phát triển kinh tế phụ thuộc rất lớn vào vấn đề sử dụng có hiệu
quả nguồn tài nguyên thiên nhiên nguồn lao động và nguồn vốn... Trong
đó việc sử dụng nguồn lao động có vai trò quan trọng và quyết định sự
phát triển đó.
Vấn đề việc làm luôn là một vấn đề kinh tế xã hội mà chúng ta cần
giải quyết hợp lý và đúng đắn. Nếu sử dụng tốt và phát huy tốt khả năng
lao động của con người thì chúng ta sẽ tạo ra được khả năng và sức
mạnh to lớn để phát triển nền kinh tế. Hơn nữa giải quyết tốt việc làm
20
Luận văn tốt nghiệp
1-Đặc điểm tự nhiên dân số của huyện Triệu Sơn
Triệu Sơn là huyện bán sơn địa tiếp giáp với miền núi ở phía Tây tỉnh
Thanh Hoá, cách thành phè Thanh Hoá 19 km. Phía Đông giáp huyện
Như Xuân, phía Bắc giáp huyện Thọ Xuân, phía Nam giáp huyện Nông
Cống. Diện tích tự nhiên là 2.920.839 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm
43,7%. Toàn huyện có 35 xã và một thị trấn với 537 xóm, trong đó có 4
xã miền núi là: Thọ Sơn, Thọ Bình, Bình Sơn, và Triệu Thành. Là huyện
có tập quán canh tác thuần nông.
Về khí hậu thời tiết: Triệu Sơn chịu ảnh hưởng của khí hậu miền
trung thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 10, khô từ tháng 11 đÕn tháng 4 năm sau, có mùa mưa phùn và gió
bắc. Nhiệt độ không khí: nhiệt độ tối đa là 41,5 độ, trung bình 23,1độ,
thấp nhất là 6,5độ. Lượng mưa trung bình trong năm 1864 mm (cao nhất
là 2930mm và thấp nhất là 1326mm)
22
Luận văn tốt nghiệp
Về dân số của huyện: Năm 1965 thành lập huyện Triệu Sơn khi đó
dân số toàn huyên là 106.886 người. Sau 33 năm dân số của huyện tăng
1,99 lần đạt 213.322 người. Mức độ gia tăng dân số nêu trên ở từng giai
đoạn, từng năm một diễn ra theo xu hướng giảm dần. Dân số thời điểm
1/4/1999 có 211.372 người.
Sự phân bố dân cư trên địa bàn, mật độ dân cư:
Trên địa bàn huyện Triệu Sơn có 3 dân tộc anh em chung sống trong
đó dân tộc kinh chiếm 98,13% dân số và sinh sống ở tất cả các xã trong
huyện từ đồng bằng lên miền núi. Các dân tộc Ýt người gồm có Mường,
Thái với khoảng 4000 người chiếm khoảng 1,87% dân số chủ yếu sinh
sống ở các xã miền núi. Nguồn gốc dân cư: Đa số là người gốc Triệu Sơn
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dịch vụ nhưng chủ yếu vẫn là thuần nông.
Sản xuất nông nghiệp có bước tiến quan trọng về cả cơ cấu giống, cơ cấu
mùa vụ và cơ cấu cây trồng. Sản lượng lương thực quy thóc năm 1999
ước đạt 103 nghìn tấn (mức cao nhÊt từ trước tới nay) tăng 39 nghìn tấn
so với năm 1990 và tăng 18 nghìn tấn so với năm 1995. Sản xuất công
nghiệp trên địa bàn năm 1999 ước gấp hơn 1,5 lần so với năm 1995.
Mét trong những thắng lợi của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn là chính sách chuyển dân lên vùng kinh tế mới phía
Tây Nam, đã mang lại hiệu quả về kinh tế xã hội. Ngoài việc khai thác
tiềm năng đất đai, tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, cái được lớn hơn, lâu
dài hơn của vùng kinh tế mới này là đã góp phần tích cực bảo vệ đất, bảo
vệ rừng, cải tạo môi trường sinh thái, góp phần xoá đói giảm nghèo, thúc
đẩy phát triển kết cấu hạ tầng và sự phát triển của công nghiệp chế biến
24
Luận văn tốt nghiệp
nông sản và dịch vụ ở vùng nông thôn miền núi. Kinh tế phát triển, tạo
điều kiện ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Sau 5 năm
từ 1995 đến 1999 đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Thu nhập
bình quân đầu người năm 1999 ước đạt 2,1 triệu đồng, tăng 300.000 đồng
so với năm 1995. Lương thực quy thóc bình quân đầu người năm 1999 có
khả năng đạt 480 kg tăng 70 kg so 1998 và 100 kg so 1994.
Tình trạng nhà ở của dân cư có sự thay đổi cả về tốc độ và chất
lượng. Phong trào xây dựng nhà mới không chỉ xây nhà ngói mà một bộ
phận nông dân đã xây được nhà mái bằng, nhà tầng. Thời kỳ 1991-1999
có tốc độ xây dựng nhanh chiếm 47,1% trong tổng số nhà kiên cố và có
bán kiên cố. Riêng nhà kiên cố được xây dựng từ 1991 đến 4/1999 là