ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ DUYÊN
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC
VIỆT NAM VỀ NGOẠI GIAO VĂN HOÁ
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2011
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HàNội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ DUYÊN
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC
VIỆT NAM VỀ NGOẠI GIAO VĂN HOÁ
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2011
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
điểm đối ngoại của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam ............................... 41
2.1.1. Bối cảnh quốc tế ........................................................................ 41
2.1.2. Bối cảnh trong nước ................................................................. 43
1
2.2. Đƣờng lối chỉ đạo của Đảng về ngoại giao văn hóa từ năm 1986
đến năm 2011.......................................................................................... 44
2.1.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về ngoại
giao văn hóa từ năm 1986 đến năm 2011 .......................................... 44
2.1.2. Chủ trương của Bộ ngoại giao về ngoại giao văn hóa ............ 48
2.3. Triển khai trong thực tiễn.............................................................. 56
2.3.1. Công tác thông tin tuyên truyền ............................................... 59
2.3.2. Xây dựng các cơ sở, công trình văn hóa, lịch sử Việt Nam ở
nước ngoài ............................................................................................ 60
2.3.3. Tham gia các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa,
nghệ thuật trong và ngoài nước. ........................................................ 62
2.3.4. Kết hợp các hoạt động ngoại giao văn hóa với các hoạt động đối
ngoại ..................................................................................................... 64
2.3.5. Xây dựng thông điệp và thương hiệu quốc gia ........................ 65
2.3.6. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài .................................. 67
2.3.7. Quan hệ với UNESCO và các thể chế hợp tác quốc tế khác vền
văn hóa ................................................................................................. 74
2.3.8. Quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè quốc tế thông qua các
hoạt động du lịch ................................................................................. 76
Chƣơng 3. ĐÁNH GIÁ KÊT QUẢ CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT
NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1986 - 2011 ................................................... 82
3.1 Một số thành tựu và hạn chế của ngoại giao văn hóa .................. 82
3.1.1. Thành tựu .................................................................................. 82
chúng ta thấy một quốc gia muốn trở thành cường quốc khu vực hay thế
giới thì nền văn hoá của quốc gia đó phải có sức hút trên phạm vi khu vực
và thế giới. Còn đối với một nước vừa và nhỏ, muốn tồn tại và phát triển thì
càng phải phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, qua đó nhân thêm sức
mạnh của mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giành được sự coi trọng
của các nước và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Thông qua việc
quảng bá rộng rãi các giá trị văn hoá đặc sắc, độc đáo của Việt Nam, ngoại
3
giao văn hóa muốn chuyển tới bạn bè quốc tế thông điệp về một nước Việt
Nam hòa bình, ổn định, thân thiện, cởi mở, đang thực hiện đổi mới thành
công, phát triển nhanh, bền vững và đóng vai trò ngày càng lớn hơn trong
khu vực và trên thế giới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa, sau Hội nghị
Ngoại giao lần thứ 25, đồng thời với việc đẩy mạnh Ngoại giao chính trị và
Ngoại giao kinh tế lên một tầm cao mới, Bộ Ngoại giao cũng đã triển khai
đồng loạt nhiều biện pháp để đưa Ngoại giao văn hóa thực sự thành một
trong 3 trụ cột của ngành Ngoại giao Việt Nam. Năm 2009 - năm được xem
là bản lề của Ngoại giao văn hóa. Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các Bộ,
ban ngành và nhiều địa phương triển khai nhiều hoạt động văn hóa đối
ngoại đa dạng, phong phú, mang lại những kết quả bước đầu đáng khích lệ.
Vị thế của Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều trong những năm
gần đây. “Việt Nam đất nước an toàn và bình yên nhất” là lời của nhiếp ảnh
gia người Nga Sergei Kovalchuk trong cuốn album ảnh Cửa sổ nhìn vào
Đông Dương gồm 150 bức ảnh được chọn từ hơn 10.000 bức ảnh giới thiệu
về Việt Nam và Campuchia. Việt Nam được lựa chọn là nơi tổ chức nhiều
hội nghị cấp cao của khu vực và thế giới: Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng
pháp ngữ (1997), Hội nghị cấp cao ASEAN 6 (12/1998), Lễ kết nạp
văn hóa, cho đối thoại chỉ là một hình thức của tiếp biến văn hóa. Một số
bài viết, bài phát biểu của các nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu ngoại giao,
nghiên cứu văn hóa trình bày trong Hội thảo quốc gia:“Ngoại giao văn hóa
vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nhập
và phát triển bền vững” được tổ chức vào ngày 15 và 16 tháng 10 năm
2008, tại Hà Nội. Bên cạnh đó là một số bài của tác giả Vũ Dương
Huân:“Bàn về ngoại giao nghị viện và thực tiễn Việt Nam”, được đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, đã giới thiệu khái quát về ngoại giao nghị viện
nói chung và hoạt động ngoại giao nghị viện của Quốc hội Việt Nam trong
5
những năm gần đây. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nghiên cứu bước
đầu, có ý nghĩa gợi mở cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn sau này.
Năm 2009, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành cuốn Ngoại
giao và công tác Ngoại giao của Vũ Dương Huân trình bày những hiểu
biết cụ thể trong công tác ngoại giao, giới thiệu một cách có hệ thống các
nội dung của ngoại giao như: các khái niệm ngoại giao, cơ quan đại diện
ngoại giao, thư tín ngoại giao, tiếp xúc ngoại giao, ngoại giao kinh tế, ngoại
giao văn hoá, đàm phán ngoại giao, văn kiện ngoại giao, lễ tân ngoại giao...
Ở nước ngoài, mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng trong
thực tiễn, mỗi quốc gia đều đã thực thi những hoạt động mang tính chất
ngoại giao văn hóa dưới nhiều hình thức và nội dung phong phú. Ngoại
giao văn hóa cũng là đề tài nghiên cứu của nhiều học giả nước ngoài, trong
số đó phải kể đến Ngoại giao văn hóa của CAC (Center for Art and
Culture) thành lập năm 2003 thuộc Central European University. Tổ chức
CAC được thành lập nhằm mục đích khuyến khích các nghiên cứu, phát
triển các môn học thuộc lĩnh vực nghệ thuật, văn hóa và ngoại giao văn hóa
; ICD (Institute for Cultural Diplomacy) thành lập năm 1999, trụ sở tại
2) Trình bày một cách hệ thống đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước về ngoại giao văn hóa từ năm 1986 – 2011 và những hoạt động
tiêu biểu của chủ trương này trong thực tiễn.
3) Đánh giá những thành tựu, hạn chế hoạt động ngoại giao văn hóa từ
năm 1986 – 2011 và đưa ra một kiến nghị nhằm tăng cường hơn nữa
hoạt động ngoại giao văn hóa trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về ngoại giao văn
hóa và các hoạt động của ngoại giao văn hóa trong thực tiễn giai đoạn từ
năm 1986 – 2011.
7
- Thời gian nghiên cứu từ năm 1986 khi đường lối đổi mới được
chính thức thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng và
kết thúc và năm 2011 có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước ta vì là năm
đầu tiên chúng ta triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XI, Cương
lĩnh (bổ sung, phát triển) xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020 và
kế hoạch phát triển 5 năm 2011-2015. Hòa vào dòng chảy chung của thế
giới, hướng đến thời kỳ tăng trưởng bền vững sau khủng hoảng kinh tế toàn
cầu, Việt Nam cũng bước vào triển khai chiến lược tăng trưởng mới, hướng
tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững nhằm đưa đất nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu: gồm các nhóm sau:
- Nhóm tài liệu thứ nhất: Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (12/1986), VII (6/1991), VIII
(6/1996), IX (4/2001), X (4/2006); Văn kiện của Đảng và Nhà nước về
7. Về kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về văn hóa và ngoại giao văn hóa
Chương 2: Đường lối chỉ đạo của Đảng và nhà nước về ngoại giao
văn hóa từ năm 1986 đến năm 2011
Chương 3: Đánh giá kết quả của ngoại giao văn hóa Việt Nam trong
giai đoạn 1986 -2011
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc hoàn thành luận văn, nhưng
do trình độ và khả năng có hạn. Chắc chắn luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô
và các bạn đồng nghiệp.
9
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VÀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đa phương theo cả bề
rộng và chiều sâu, Ngoại giao Văn hóa giữ một vị trí quan trọng trong
chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, đây còn là 1 trong những phương
tiện góp phần bảo vệ an ninh, phát triển, gây ảnh hưởng đến vị thế quốc gia
trên thế giới.Ngoại giao văn hóa trước hết liên quan tới hai yếu tố ngoại
giao và văn hóa. Vì vậy, để có thể định hình được một khái niệm về ngoại
giao và văn hóa cần tìm hiểu những khái niệm văn hóa, ngoại giao, và các
khái niệm khác có liên quan.
1.1. Văn hóa – giao lƣu văn hóa và văn hóa đối ngoại
1.1.1. Văn hóa
Trên thế giới, khái niệm về văn hóa rất rộng và có hơn 400 định nghĩa
khác nhau về lĩnh vực này. Tuy nhiên, một khái niệm được cho là chung
- Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh
- Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ
xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm
giống nhau: ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn…
+ Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và
NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa –
Vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả
những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi
nào có con người nơi đó có văn hóa [43, tr.69].
+ Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn
hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.
11
Như vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do
con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên.
Ở phương Đông, văn hóa đã có trong đời sống từ rất sớm với nghĩa
như một phương thức giáo hóa con người. Văn hóa ở đây được dùng để đối
lập với vũ lực.
Ở phương Tây, trong tiếng Anh “văn hóa” là culture, trong tiếng Đức
là kultur, trong tiếng Nga là kultura. Những chữ này có chung gốc Latinh
là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hóa với hai
khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục,
đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ phát triển những giá trị nhân văn và có
những phẩm chất tốt đẹp [47, tr.134]
Thế kỷ XIX, nhà nhân loại học E.B.Taylor định nghĩa, văn hóa là
toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật
pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được
với tư cách là một thành viên của xã hội [28, tr.55].
con người tạo ra.
Trong ý nghĩa rộng nhất, “văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể
những nét riêng biệt lẫn cả tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết
định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội… Văn hóa
đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân”. Theo đó, văn hóa
không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa
của mọi sự phát triển. Đây chính là cách hiểu phổ biến nhất về văn hóa
được nêu ra bởi UNESCO [66, tr.23]
Như vậy, tổng hợp lại tất cả các quan điểm, văn hóa là những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, nói cách khác chủ thể sáng
tạo ra văn hóa là con người. Văn hóa của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia,
13
lãnh thổ lại được quy định bởi môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và
điều kiện lịch sử. Bên cạnh đó, các yếu tố cấu thành văn hóa gồm: con
người – chủ thể sáng tạo ra văn hóa, môi trường tự nhiên, môi trường xã
hội và điều kiện lịch sử.
1.1.2. Giao lưu văn hóa
Một trong những đặc điểm của văn hóa là giao lưu. Giao lưu là “quá
trình trao đổi giá trị giữa những cộng đồng người có văn hóa khác nhau gây
ra những biến đổi nhiều hay ít trong quá trình phát triển của các nền văn
hóa. Quá trình này thúc đẩy sự tiếp thu tinh hoa lẫn nhau, nâng cao sự hiểu
biết lẫn nhau và giúp một nền văn hóa có thể khẳng định mình trong môi
trường văn hóa chung” [28, tr.45].
Nguồn gốc: Nguồn gốc của giao lưu văn hóa là sự tiếp xúc về văn hoá.
“Tiếp xúc văn hoá” là hiên tượng nền văn hóa của cộng đồng này gặp gỡ
hoặc ở gần đến mức có thể trực tiếp chịu tác động, gây ra sự biến đổi văn
sinh” tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn.
Như vậy giao lưu và tiếp biến văn hoá có vai trò hết sức quan trọng
trong tiến trình phát triển văn hoá của một dân tộc. Nhưng giao lưu như thế
nào, tiếp biến như thế nào để vừa giữ gìn, bảo tồn, vừa phát triển văn hoá
dân tộc? [59, tr.69].
Giao lưu văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người,
một quy luật vận động và phát triển của các dân tộc và của các nền văn
hóa. Giao lưu văn hóa phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận lẫn nhau giữa các
dân tộc, giữa các quốc gia về thế giới quan, hệ tư tưởng, phong tục, tập
quán, tôn giáo, đạo đức, đặc biệt là những thành tựu về trí tuệ, khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, kinh nghiệm quản lý đất nước…
Giao lưu văn hóa nhằm nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc
gia, dân tộc, góp phần vào quá trình hội nhập quốc tế và qua đó thúc đẩy sự
phát triển của đất nước, là yếu tố cơ bản để giữ gìn hòa bình và an ninh thế
giới. Ngoài ra, giao lưu văn hóa còn giúp một nền văn hóa có thể khẳng
định được mình trong môi trường văn hóa chung và tiếp thu những tinh hoa
từ nền văn hóa khác. Do Việt Nam nằm ở vị trí ngã tư đường của sự giao
15
lưu khu vực Đông Nam Á và thế giới vì thế, trong lịch sử dân tộc đã tiếp
xúc và giao lưu với nhiều nền văn hoá khác nhau của nhân loại như: Đông
Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp… [5, tr.269]
Trong quá trình giao lưu văn hoá, một điều tất yếu sẽ xảy ra là, bất
kể văn hoá của cộng đồng người đang ở nấc thang nào của sự tiến hoá nhân
loại thì một số yếu tố văn hoá của cộng đồng người này có thể lan truyền
đến cộng đồng người kia. Các yếu tố văn hoá này có khi là cá biệt, rời rạc,
nhưng cũng có khi lại kết thành hệ thống chặt chẽ, có khi lại kết dính với
những yếu tố văn hoá truyền thống, có khi lại làm đổi mới mạnh mẽ các
này đối với các dân tộc khác nhằm đạt được các mục tiêu chính trị, kinh tế
và văn hoá. Văn hoá đối ngoại thể hiện chiều cao của văn minh, chiều sâu
của lịch sử và văn hoá của mỗi quốc gia, dân tộc…
Chính vì vậy, Đảng ta luôn xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất
trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ tiến bộ, làm
cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở
thành sức mạnh nội sinh quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
1.2. Ngoại giao
1.2.1. Khái niệm ngoại giao
Khái niệm ngoại giao đã xuất hiện từ rất lâu, và trên thế giới cũng
đã có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về ngoại giao. Theo từ điển
Oxford 1965:“ Ngoại giao là việc tiến hành những quan hệ quốc tế bằng
cách đàm phán, đó là công tác, nghệ thuật của các nhà ngoại giao” [51,
tr.33]. Với E.Stow, ông lại cho rằng “ngoại giao là sự sắp đặt trí tuệ và
lịch thiệp vào việc tiến hành những quan hệ chính thức giữa các chính
phủ”. Từ điển Tiếng Việt năm 1996 lại định nghĩa “ngoại giao là sự giao
17
thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và góp phần
giải quyết những vấn đề quốc tế chung”.
Ở Pháp, cho rằng: “Ngoại giao là hoạt động chính trị liên quan đến
mối quan hệ giữa các quốc gia, đại diện quyền lợi của một chính phủ ở
nước ngoài, quản lý công việc quốc tế, hướng dẫn và tiến hành đàm phán
giữa các quốc gia đó”.
Theo những nghiên cứu ở Liên Xô trước đây và Nga hiện nay:
“Ngoại giao là hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính
hóa truyền thống của chính dân tộc ấy. Truyền thống văn hóa, bản sắc văn
hóa, những phẩm chất đã thấm nhuần trong mỗi cá nhân, mỗi con người –
những chủ thể của chính nền văn hóa đó.
Như vậy, tuy có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về ngoại
giao, mỗi định nghĩa lại chú trọng nêu bật những khía cạnh mà nó cho là
chủ yếu và quan trọng nhất của khái niệm, nhưng nếu xem xét lại thì tất cả
những định nghĩa này đều có cùng một vài điểm đặc thù cho thấy ngoại
giao là công việc để thực hiện những nhiệm vụ chính trị đối ngoại của các
quốc gia, là công cụ chính sách đối ngoại, là nghệ thuật tiến hành đàm phán
và kí kết giữa các quốc gia…
Tuy vậy, theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, định nghĩa sau có thể
xem là định nghĩa chung nhất và đầy đủ nhất: Ngoại giao là một khoa học
mang tính tổng hợp của chính trị, xã hội; là nghệ thuật của những khả
năng; là hoạt động của các cơ quan đối ngoại nhằm thực hiện chính sách
đối ngoại của Nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn của
quốc gia, dân tộc trong nước và thế giới, từ đó góp phần giải quyết những vấn
đề chung bằng con đường đàm phán và các hình thức hòa bình [36, tr. 53].
Nếu như coi ngoại giao là một nghệ thuật tiến hành trong việc đàm
phán, dàn xếp, thương lượng giữa những người đại diện cho một nhóm hay
19
một quốc gia. Thuật ngữ này thông thường đề cập đến ngoại giao quốc tế,
việc chỉ đạo, thực hiện các mối quan hệ quốc tế thông qua sự can thiệp hay
hoà giải của các nhà ngoại giao liên quan đến các vấn đề như kinh tế,
thương mại, văn hoá, du lịch, chiến tranh và tạo nền hòa bình, ổn định giữa
các nước. Ngoại giao còn là việc sử dụng các tài xử trí, ứng biến để giành
được sự thuận lợi, là công cụ tạo ra cách diễn đạt các tuyên bố một cách
không đối đầu, như là một cách cử xử lịch thiệp giữa các quốc gia [31,
Giải quyết khủng hoảng chính trị
Không chỉ giúp xây dựng và duy trì các mối quan hệ chính trị giữa các
quốc gia, ngoại giao còn giúp giải quyết những khủng hoảng chính trị xuất
phát từ sự thiếu hiểu biết hoặc từ sự lệch lạc trong suy nghĩ dẫn đến những
sai lầm. Ngoại giao đóng vai trò rõ rệt trong việc giải thích những tình
huống cụ thể một cách minh bạch, nhờ đó sự thiếu hiểu biết hoặc thậm chí
thái độ thù địch đối với quốc gia sẽ được chuyển thành sự thấu hiểu và
thông cảm.
Như vậy có thể khẳng định rằng ngoại giao đóng vai trò quan trọng
trong việc xây dựng và duy trì mối quan hệ chính trị thân mật giữa các
quốc gia đồng thời cũng giúp giải quyết những khủng hoảng chính trị khi
quốc gia gặp phải.
1.2.2.2. Vai trò của ngoại giao đối với kinh tế
Thu hút đầu tƣ
Không thể phủ nhận rằng nền kinh tế trì trệ, lạc hậu, tốc độ phát triển
kém, không bao giờ là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Hình ảnh một
đất nước dồi dào lao động, tốc độ phát triển kinh tế cao, thị trường hấp dẫn
sẽ thu hút các nhà đầu tư đến với quốc gia mình. Đặc biệt, các nước đang
phát triển càng phải chú trọng hơn đến vấn đề này. Vấn đề là hình ảnh cuốn
hút các nhà đầu tư đó cần một bệ phóng hoàn hảo - một kế hoạch PR cho
hình ảnh đất nước. Kinh tế của các quốc gia có cùng xuất phát điểm, vào
21
thời gian đầu có thể phát triển tương đồng, nhưng nếu quốc gia nào có một
chiến lược ngoại giao hiệu quả thì quốc gia đó sẽ thu hút ngày càng nhiều
nhà đầu tư và phát triển kinh tế nhanh hơn gấp bội. Từ đó còn có thể giải
quyết thêm nhiều vấn đề khác: việc làm, tệ nạn xã hội… [64: tr.230].
Trên các diễn đàn, tổ chức kinh tế quốc tế cấp chính phủ, vẫn luôn tổ
xấu… Trong trường hợp đó, ngoại giao luôn phát huy vai trò giải quyết
khủng hoảng, khôi phục hình ảnh đất nước, từ đó khôi phục nền kinh tế,
nhanh chóng đi vào ổn định. Nếu không có một kế hoạch cụ thể, kịp thời và
hiệu quả thì nền kinh tế sẽ rơi vào khủng hoảng trầm trọng.
1.2.2.3. Vai trò của ngoại giao đối với văn hóa
Trong thời đại ngày nay, hội nhập quốc tế trở thành xu hướng phát
triển bắt buộc, phạm vi quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng thì sự phổ
biến và giao lưu văn hóa ngày càng cần thiết, đi cùng với nó là vai trò của
các hoạt động ngoại giao đối với văn hóa.
Ngoại giao phổ biến các giá trị văn hóa
Nguyên tổng giám đốc UNESCO, ông Federico Mayor, định nghĩa
"Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc
khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong
tục tập quán, lối sống và lao động" (Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam).
Như vậy, văn hóa của một dân tộc là toàn bộ những gì qua đó một dân tộc
tự biểu hiện mình, tự nhận biết mình và giúp các dân tộc khác nhận biết
mình; có nghĩa là văn hóa chính là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần và bản sắc
dân tộc [52, tr.96-97].
Đối với các quốc gia sỡ hữu một nền văn hóa truyền thống lâu đời,
trong hoạt động ngoại giao để giới thiệu và nâng cao hình ảnh đất nước,
những giá trị truyền thống đặc thù luôn là một trong những mối quan tâm
đầu tiên và quan trọng nhất, cũng như luôn được triệt để khai thác. Vì thế
những giá trị độc đáo này chỉ có một hoặc một số ít các quốc gia, dân tộc
mới có nên thu hút được sự chú ý từ những quốc gia, khu vực khác.
Tuy nhiên, phổ biến văn hóa không chỉ gói gọn trong phạm vi các giá
trị văn hóa truyền thống. “Văn hóa là những giá trị, sáng tạo của con người
23