Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
Những vấn đề cơ bản về hoạt
động xuất khẩu và kinh
doanh xuất khẩu hàng nông
sản
Bởi:
Học Viện Tài Chính
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.
Khái niệm hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là việc bán hàng hóa (hoặc dịch vụ) cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ
làm phương tiện thanh toán theo nguyên tắc ngang giá. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ
đối với ít nhất một bên trong mối quan hệ này.
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong
phân công lao động quốc tế. Việc trao đổi hàng hóa mang lại lợi ích cho các quốc gia do
đó các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất hiện từ
rất lâu và ngày càng phát triển. Hoạt động này diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều
kiện từ sản xuất hàng tiêu dùng cho đến máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất và cả công
nghệ kỹ thuật cao. Dù ở lĩnh vực nào thì hoạt động xuất khẩu cũng đều nhằm mục đích
mang lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng, cả về không gian lẫn thời gian. Nó
có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm. Nó có thể
được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
1/16
Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
gia đang phát triển và chậm phát triển sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động
được nguồn vốn từ các hoạt động đầu tư, vay nợ, viện trợ và các dịch vụ thu ngoại tệ.
Thêm vào đấy, với các nguồn vốn này các quốc gia phải chịu những thiệt thòi và những
ràng buộc về chính trị nhất định. Vì vậy nguồn vốn quan trọng nhất mà các quốc gia này
có thể trông chờ là nguồn thu từ hoạt động xuất khẩu.
2/16
Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
Hoạt động xuất khẩu phát huy được lợi thế của quốc gia.
Để hoạt động xuất khẩu có hiệu quả thì các quốc gia thường phải lựa chọn các mặt hàng
sản xuất ở quốc gia đó có lợi thế hơn so với sản xuất tại các quốc gia khác. Đây chính là
những mặt hàng có sử dụng nguồn nguyên liệu dồi dào, lao động rẻ, ứng dụng nền sản
xuất trong nước. Chính vì vậy mà hoạt động xuất khẩu phát huy được lợi thế của quốc
gia.
Ta có thể chứng minh điều này ở ví dụ sau: Giả sử trong nền kinh tế thế giới chỉ có hai
quốc gia Việt Nam và Đài Loan sản xuất hai loại mặt hàng là thép và vải.
Bảng 1: Lợi thế kinh tế đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Qua bảng số liệu trong ta thấy: trong ngành sản xuất thép năng suất lao động của Đài
Loan lớn hơn năng suất lao động của Việt Nam. Tuy nhiên trong ngành sản xuất vải thì
Việt Nam lại có năng suất lao động lớn hơn. Do vậy Việt Nam có lợi thế trong sản xuất
thép còn Đài Loan có lợi thế trong sản xuất vải.
Theo quy luật lợi thế so sánh, cả hai quốc gia sẽ cùng có lợi nếu Việt Nam chuyên môn
hoá sản xuất vải còn Đài Loan chuyên môn hoá sản xuất thép. Sau đấy hai nước sẽ mang
trao đổi một phần sản phẩm cho nhau. Nếu tỷ lệ trao đổi bằng tỷ lệ trao đổi nội địa của
mỗi quốc gia thì một trong hai quốc gia sẽ từ chối trao đổi. Do vậy tỷ lệ trao đổi quốc tế
phải nằm ở khoảng giữa. Tức là: 6/3 > Tỷ lệ trao đổi quốc tế (thép/vải) > 1/4. Giả sử tỷ
quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín của quốc gia trên trường quốc tế
Để đánh giá uy tín của một quốc gia người ta thường dựa vào 4 điều kiện đó là: GDP,
lạm phát, thất nghiệp và cán cân thanh toán. Hoạt động xuất khẩu đem lại nguồn thu
ngoại tệ, góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán do vậy là một trong bốn điều kiện
đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia : Cao hơn nữa hoạt động xuất khẩu làm
tăng tích lũy ngoại tệ của một quốc gia và có thể biến quốc gia trở thành quốc gia xuất
siêu và tạo sự đảm bảo trong thanh toán cho đối tác, tăng được uy tín trong kinh doanh.
Qua hoạt động xuất khẩu, hàng hóa của quốc gia được bày bán trên thị trường thế giới,
khuyếch trương tiếng vang và sự hiểu biết từ nước ngoài. Ngoài ra hoạt động xuất khẩu
làm tiền đề cho các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như: Dịch vụ, ngân hàng, đầu tư,
hợp tác liên doanh...và làm cho quan hệ giữa các nước trở nên chặt chẽ hơn.
Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp.
• Hoạt động xuất khẩu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tham gia vào cuộc cạnh
tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã hàng hóa trên thị trường thế giới. Chính
yếu tố này buộc doanh nghiệp phải năng động, sáng tạo hơn, phải không ngừng
nâng cao trình độ quản trị kinh doanh, tăng cường đầu tư đổi mới trang thiết
bị... để tự hoàn thiện mình.
• Hoạt động xuất khẩu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ buôn
bán với nhiều đối tác nước ngoài từ đó người lao động trong doanh nghiệp có
thể nâng cao năng lực chuyên môn của mình, tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm
quản lý của đối tác.
• Hoạt động xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp để mở rộng và
nâng cao trình độ sản xuất đồng thời tạo việc làm và thu nhập ổn định cho
người lao động trong doanh nghiệp.
4/16
trên cơ sở nghị định thư đã được ký giữa hai chính phủ. Hình thức này cho phép doanh
nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phi trong việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn
hàng. Mặt khác, thực hiện hình thức này thường không có rủi ro trong thanh thư.
Xuất khẩu tại chỗ.
Là hình thức kinh doanh mà hàng xuất khẩu không cần vượt qua biên giới quốc gia
nhưng khách hàng vẫn có thể mua được. Ở hình thức này doanh nghiệp không cần phải
5/16
Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
đích thân ra nước ngoài đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người mua lại tìm
đến với doanh nghiệp do vậy doanh nghiệp tránh được những thủ tục rắc rối của hải
quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển, không phải mua bảo hiểm hàng hóa.
Hình thức này thường được áp dụng đối với quốc gia có thế mạnh về du lịch và có nhiều
tổ chức nước ngoài đóng tại quốc gia đó.
Gia công quốc tế.
Là hình thức xuất khẩu trong đó có một bên nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm (bên
nhận gia công) của bên khác (bên đặt gia công) để chế tạo ra thành phẩm giao lại cho
bên đặt gia công và qua đó thu được một khoản lệ phí như thỏa thuận của cả hai bên.
Trong hình thức này bên nhận gia công thường là các quốc gia đang phát triển, có lực
lượng lao động dồi dào, có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Họ sẽ có lợi vì tạo thêm
công ăn việc làm cho người lao động, có điều kiện đổi mới và cải tiến máy móc để nâng
cao năng suất sản xuất. Còn đối với nước đặt gia công họ khai thác được giá nhân công
rẻ và nguyên phụ liệu khác từ nước nhận gia công.
Tái xuất khẩu.
Với hình thức này một nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa đã nhập từ một nước khác
sang nước thứ ba. Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp có thể thu được một
khoản lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào trang thiết bị, nhà
xưởng, khả năng thu hồi vốn cao. Hình thức này được áp dụng khi có sự khó khăn trong
với một số ít mặt hàng xuất khẩu nhằm bổ sung cho ngân sách nhà nước, hạn chế xuất
khẩu để đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng mặt hàng ấy trong nước.
Ngoài thuế quan xuất khẩu, thuế quan nhập khẩu cũng có tác động đến hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp. Thuế quan nhập khẩu là thuế quan mà nước nhập khẩu đánh vào
một đơn vị hàng nhập khẩu. Do vậy nó sẽ làm tăng gía bán hàng xuất khẩu của doanh
nghiệp tại thị trường nhập khẩu. Vì vậy hàng xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ giảm sức
cạnh tranh.
Hạn ngạch
Hạn ngạch được hiểu như là quy định của nhà nước về số lượng cao nhất một mặt hàng
hay một nhóm hàng doanh nghiệp được phép xuất khẩu hay nhập khẩu. Quốc gia xuất
khẩu sẽ quy định hạn ngạch xuất khẩu nhằm điều chỉnh lượng hàng xuất khẩu, nâng cao
hiệu quả xuất khẩu. Quốc gia nhập khẩu sẽ quy định hạn ngạch nhập khẩu nhằm hạn
chế lượng hàng nhập khẩu vào trong nước, bảo hộ nền sản xuất trong nước, bảo vệ tài
nguyên và cải thiện cán cân thanh toán. Tương tự thuế quan, cả hạn ngạch xuất khẩu và
nhập khẩu đều có thể gây tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn kỹ thuật
Ngoài hai công cụ thuế quan và hạn ngạch, một công cụ khác tinh vi hơn ngày càng
được nhiều quốc gia sử dụng đó là việc đề ra các tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật cho sản
phẩm nhập khẩu. Đây là biện pháp phi thuế quan cũng nhằm mục đích hạn chế lượng
hàng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Tỷ giá hối đoái và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm khuyến khích xuất khẩu.
Tỷ giá hối đoái là sức mua của một đồng tiền so với đồng tiền khác. Sức mua của đồng
tiền là khả năng thanh toán của một đơn vị tiền tệ với một khối lượng hàng xuất khẩu
nhất định gắn liền với thanh thanh toán quốc tế. Trong thanh toán quốc tế người ta
thường sử dụng những đồng tiền mạnh như USD để thanh toán. Nếu tỷ giá hối đoái tăng,
tương đương với giá trị ngoại tệ tăng so với nội tệ khi đó hoạt động xuất khẩu sẽ được
trọng của hoạt động thương mại quốc tế chính vì vậy nó cũng chịu sự tác động mạnh mẽ
của các mối quan hệ này.
Khi hàng hóa của doanh nghiệp xâm nhập được vào thị trường của một quốc gia thì nó
sẽ được hưởng chính sách ưu đãi hoặc phải đối mặt với các rào cản thương mại từ quốc
gia này như: thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, các tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm.... Mức
độ ưu đãi mà doanh nghiệp được hưởng hay các rào cản thương mại mà doanh nghiệp
phải đối đầu chặt chẽ hay nới lỏng hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế song
phương giữa quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu.
Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay, nhiều hiệp định kinh tế
song phương và đa phương đã được ký kết, nhiều liên minh kinh tế đã được hình thành
với mục tiêu là giảm bớt thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá cả, thúc đẩy hoạt
8/16
Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
động thương mại trong khu vực và trên thế giới. Nếu là một thành viên trong liên minh
kinh tế hoặc hiệp định thương mại ấy thì quốc gia sẽ có cơ hội thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu. Nếu không phải, chính các hiệp định thương mại, liên minh kinh tế này sẽ trở
thành một rào chắn lớn cho việc xâm nhập và mở rộng thị trường của doanh nghiệp.
Tóm lại, có được những mối quan hệ mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo tiền đề cho
việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Ảnh hưởng của nền sản xuất, thương mại trong nước và quốc tế.
Sản xuất trong nước là nhân tố chủ yếu quyết định đến lượng cung hàng xuất khẩu. Nếu
nền sản xuất trong nước phát triển, khả năng cung ứng hàng xuất khẩu sẽ tăng lên, giá cả
thu mua hàng xuất khẩu sẽ giảm xuống, doanh nghiệp sẽ gặp thuận lợi trong khâu đầu
vào. Ngược lại, khi nền sản xuất trong nước bị giảm sút dẫn tới giá cả hàng xuất khẩu sẽ
tăng lên, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn để chọn được hàng hóa có chất lượng cao, đồng
loại phục vụ cho xuất khẩu.
doanh nghiệp. Một quốc gia có hệ thống đường xá, cầu cống phát triển sẽ góp phần thúc
đẩy sản xuất, nâng cao khả năng tham gia của doanh nghiệp vào thị trường thương mại
quốc tế. Đặc biệt các bến bãi, các nhà ga, các cảng biển có tác động trực tiép tới hoạt
động xuất khẩu của doanh nghiệp. Nếu hệ thống này được đầu tư xây dựng phù hợp với
yêu cầu chung của thị trường quốc tế sẽ là nhân tố tác động tích cực tới hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp. Ngược lại, hệ thống cảng biển, nhà ga, bến dỡ không đạt yêu
cầu tối thiểu về kỹ thuật sẽ gây tâm lý nghi ngại từ phía đối tác nước ngoài và rất có thể
doanh nghiệp sẽ mất cơ hội kinh doanh.
Các nhân tố vi mô
Nguồn nhân lực
Con người là chủ thể của mọi hoạt động xã hội và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp suy đến cùng cũng là do con người và vì con người. Bởi vậy con người luôn
được đặt ở vị trí trung tâm khi xem xét đến các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Một
đội ngũ lao động vững vàng trong chuyên môn, có kinh nghiệm trong buôn bán quốc tế,
có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động của thị trường và đặc biệt có lòng say
mê trong công việc luôn là đội ngũ lý tưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh
nghiệp. Ngược lại, nếu nguồn nhân lực của doanh nghiệp yếu kém về chất lượng và hạn
chế về số lượng thì doanh nghiệp sẽ luôn trong tình trạng bị động và kinh doanh kém
hiệu quả. Như vậy, nhân lực quyết định hoạt động của doanh nghiệp nên doanh nghiệp
muốn hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải quan tâm tuyển chọn đội ngũ lao động thực
sự có năng lực, đồng thời chú trọng đến công tác quản lý nhằm tạo động lực cho người
lao động trong doanh nghiệp làm việc có hiệu quả.
Khả năng tài chính
Khả năng tài chính là một trong những nhân tố quyết định sức mạnh của doanh nghiệp
trong thời đại ngày nay. Nếu có tiềm lực tài chính mạnh, doanh nghiệp sẽ có thể đầu
tư đổi mới công nghệ, thu hút lao động có chất lượng cao, mở rộng quy mô hoạt động.
Ngoài ra khi có tiềm lực về tài chính doanh nghiệp có trong thể thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu của mình thông qua việc cấp tín dụng cho khách hàng qua hình thức mua trả chậm.
Nghiên cứu thị trường hàng hóa thế giới
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền sản xuất với lưu thông hàng hóa. Ở đâu
có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có thị trường.
Như vậy, thị trường có thể nhìn thấy cũng có thể không nhưng nó bao gồm các quan hệ
mua bán hàng hóa , dịch vụ và dung lượng thị trường.
Nghiên cứu thị trường hàng hóa để các nhà kinh doanh biết được các quy luật vận động
của chúng. Mỗi thị trường hàng hóa cụ thể có những quy luật riêng, quy luật này thể
hiện qua sự biến đổi nhu cầu, cung cấp và giá cả hàng hóa trên thị trường. Nắm vững
các quy luật thị trường hàng hóa để vận dụng và giải quyết các vấn đề của thực tiễn kinh
11/16
Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
doanh như yêu cầu của thị trường đối với hàng hóa, hình thức và biện pháp thâm nhập
thị trường.
Trong nghiên cứu thị trường hàng hóa thế giới, đặc biệt là khi muốn kinh doanh xuất
khẩu thành công công việc nhận biết sản phẩm phù hợp với thị trường và năng lực xuất
khẩu là không thể thiếu được đối với doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp phải xác
định được các vấn đề sau:
• Mặt hàng thị trường đang cần là mặt hàng gì?
Điều này đòi hỏi phải bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà ta có. doanh
nghiệp xuất khẩu cần phải tìm hiểu nhu cầu thị trường nước ngoài về mạt hàng, quy
cách, phẩm chất, mẫu mã, chủng loại, số lượng.
• Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó như thế nào?
Mặt hàng được người tiêu dùng mua theo thói quen và được thể hiện ở: thời gian tiêu
dùng, thị hiếu tiêu dùng, quy luật biến động của quan hệ cung cầu mặt hàng đó...Có nắm
vững được điều này thì doanh nghiệp mới có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hóa được giao dịch trên phạm vi thị trường
nhất định trong một thời gian nhất định. Dung lượng thị trường thường biến động do
chịu ảnh hưởng của ba nhóm nhân tố sau:
• Nhóm các nhân tố làm dung lượng thị trường thay đổi có tính chu kỳ: Gồm: sự
vận động của tình hình kinh tế các nước xuất khẩu, tính thời vụ trong sản xuất,
lưu thông và phân phối hàng hóa. Do đặc điểm của sản xuất lưu thông và tiêu
dùng là khác nhau nên ảnh hưởng của nhân tố thời vụ đến thị trường hàng hóa
cũng rất đa dạng về phạm vi và mức độ.
• Nhóm các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến dung lượng thị trường như: các nhân
tố thuộc nhóm này rất nhiều , chúng ảnh hưởng đến dung lượng thị trường rất
dài. VD: tiến bộ khoa học cong nghệ, chế độ chính sách của nhà nước, thị hiếu
và tập quán của người tiêu dùng
• Nhóm các nhân tố ảnh hưởng có tính tạm thời đến dung lượng thị trường. Bao
gồm sự đầu cơ trên thị trường làm đột biến tình hình cung, cầu trên thị trường ,
sự biến động của các chính sách chính trị - xã hội, sự biến động của thiên
nhiên.
Giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới.
Đây là một vấn đề rất quan trọng. Giá cả hàng hóa trên thị trường sẽ phản ánh quan
hệ cung cầu hàng hóa đó trên thị trường thế giới. Xác định đúng đắn giá cả hàng hóa
có ý nghĩa to lớn đối với kết quả kinh doanh xuất khẩu. Trong kinh doanh quốc tế việc
xác định giá cả hàng hóa rất phức tạp do việc buôn bán diễn ra trong một thời gian dài,
hàng hóa vận chuyển qua nhiều nước khác nhau với chính sách thuế khác nhau. Để đạt
được hiệu quả cao trên thương trường quốc tế đòi hỏi các nhà kinh doanh phải theo dõi,
nghiên cứu sự biến động của giá cả đồng thời phải có biện pháp tính toán, xác định giá
một cách chính xác, khoa học để giá thực sự trở thành một công cụ trong kinh doanh
quốc tế. Thông thường các nhà kinh doanh xuất khẩu xác định giá bán hàng hóa dựa trên
ba căn cứ:
• Căn cứ vào giá thành và các chi phí khác (chi phí vận chuyển, mua bảo hiểm,
Trên cơ sở những kết quả thu gom được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường,
đơn vị kinh doanh lập phương án kinh doanh cho mình. Phương án này là kế hoạch
hoạt động của đơn vị nhằm đạt tới mục tiêu xác định trong kinh doanh. Việc xây dựng
phương án bao gồm:
• Đánh giá tình hình thị trường, dựa trên sự đánh giá đó doanh nghiệp sẽ phác
hoạ nên bức tranh tổng quát về hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và khó
khăn.
• Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh, sự lựa chọn
này phải có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan.
• Đề ra mục tiêu cụ thể như: Sẽ bán được bao nhiêu hàng, giá bán bao nhiêu,
thâm nhập vào thị trường nào.
• Đề ra những biện pháp, cách thực hiện để đạt được những mục tiêu. Đó có thể
là các biện pháp trong nước (Đầu tư vào sản xuất, cải tiến bao bì, chất lượng
sản phẩm...) và những biện pháp ngoài nước (quảng cáo, tăng cường lập chi
nhánh ở nước ngoài tăng cường quan hệ bạn hàng...).
14/16
Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
Một kế hoạch kinh doanh có khoa học dựa trên sự phân tích chuẩn xác và đúng đắn về
thị trường, bạn hàng cũng như nội lực của doanh nghiệp sẽ quyết định nhiều đến thành
công trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi nghiên cứu về thị trường, mặt hàng xuất khẩu, tìm hiểu đối tác và đàm phán để
thoả thuận mọi điều kiện có liên quan thì doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và đối tác
sẽ thực hiện bước tiếp theo là ký kết hợp đồng. Khi đã ký kết hợp đồng có nghĩa giữa
• Hợp đồng phải được trình bày rõ ràng, sáng sủa, nội dung phản ánh đúng, đầy
đủ các vấn đề đã thỏa thuận.
• Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng nên là thứ ngôn ngữ phổ biến mà cả hai bên
cùng thông thạo.
• Các điều khoản của hợp đồng phải tuân thủ đúng pháp luật quốc tế cũng như
pháp luật của các bên tham gia ký hợp đồng.
• Người ký kết hợp đồng phải có đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm về nội dung đã
ký.
Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi lý hợp đồng xuất khẩu doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tổ chức thực hiện hợp đồng
mình đã ký. Căn cứ vào nội dung hợp đồng, doanh nghiệp tiến hành sắp xếp các công
việc phải làm, ghi thành bảng theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng.
Sơ đồ các bước tiến hành thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
16/16