Quản lý Nhà nước về tiền lương thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước
Quản lý Nhà nước về tiền
lương thu nhập trong các
doanh nghiệp Nhà nước
Bởi:
Học Viện Tài Chính
Quản lý Nhà nước về tiền lương
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế xã
hội của đất nước. Chính sách này liên quan trực tiếp đến lợi ích của đông đảo người
lao động trong xã hội và được Nhà nước quản lý. Nhà nước quản lý thống nhất về tiền
lương. Đối với người lao động là công nhân viên chức, Nhà nước trực tiếp quản lý tiền
lương (theo các chỉ tiêu cụ thể về đối tượng hưởng lương, bậc lương và tiền lương tối
thiểu). Nhà nước cũng thực hiện một cơ chế kiểm soát trong thực hiện chính sách và
chế độ tiền lương, trên cơ sở luật pháp về tiền lương, các hợp đồng lao động và thuế thu
nhập. Đối với người lao động không phải là công nhân viên chức Nhà nước, Nhà nước
cũng thực hiện quản lý và kiểm soát tiền lương trên cơ sở luật pháp về lao động và tiền
lương.
* Việc quản lý Nhà nước về tiền lương được phân cấp thực hiện như sau :
• Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền
lương ở cấp cao nhất. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành các văn
bản pháp luật để hướng dẫn các doanh nghiệp phương pháp xây dựng đơn giá
tiền lương, các thông số tiền lương và các hệ số điều chỉnh cần thiết và thông
báo các thông tin cần thiết về tiền lương trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
Qua đó chỉ đạo việc quản lý tiền lương của các Bộ, ngành và địa phương trong
toàn quốc.
• Các Bộ quản lý ngành, các đại phương (cấp tỉnh, thành phố) có trách nhiệm và
quyền hạn quản lý công tác tiền lương của các doanh nghiệp, cơ quan trong
phạm vi của mình trên cơ sở chỉ đạo của Bộ LĐ - TB&XH. Trong đó, phải báo
cáo thường xuyên lên Bộ LĐ - TB&XH về công átc quản lý tiền lương tại Bộ,
nước cũng phải tăng cường biện pháp quản lý tiền lương đối với doanh nghiệp thuộc sở
hữu Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả, ổn
định việc làm, thu nhập cho người lao động và tiếp tục phát triền giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế.
Khi nói đến quản lý tiền lương, thu nhập trong doanh nghiệp Nhà nước là nói đến việc
xác định quan hệ phân phối lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Nói
đến quan hệ phân phối thì chính là nói đến sở hữu, đến vai trò quyết địnhcủa chủ sở hữu,
đến mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Sở hữu là vấn đề cốt lõi trong
quan hệ sản xuất, vì người nào nắm quyền sở hữu thì người đó sẽ có quyền chiếm dụng,
quyền định đoạt và quyền hưởng thụ. Cũng vì lẽ đó, sở hữu là xuất phát điểm, làm cơ sở
2/12
Quản lý Nhà nước về tiền lương thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước
cho chủ sở hữu quyết định sẽ quản lý tài sản của mình ra sao, sẽ phân phối kết quả sản
xuất kinh doanh mà tài sản đó mang lại như thế nào.
Trong kinh tế quốc doanh, tính chất sở hữu ở đây chính là sở hữu toàn dân mà Nhà nước
là người đại diện chủ sở hữu do vậy đương nhiên Nhà nước đóng vai trò quyết định
chính sách phân phối. Nhưng vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà
nước thì Nhà nước quản lý như thế nào, quản lý đến đâu và cụ thể là ai?
Trong thời kỳ quản lý tập trung chúng ta đã tuyệt đối hoá vai trò của Nhà nước. Trung
ương quyết định tất cả, quản lý tất cả, trong lĩnh vực lao động, tiền lương quyết định từ
tuyển dụng, đào tạo đến mức lương, tổng quỹ lương... của doanh nghiệp. Sự tuyệt đối
hoá có tính quan liêu này đã phải trả giá không nhỏ là triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo,
tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Nhà nước trở thành chỗ dựa vững chắc cho các
doanh nghiệp tồn tại, tiền lương do Ngân sách chi trả mang nặng tính bình quân, không
gắn với năng suất, hiệu quả của từng người, của từng doanh nghiệp.
Nhận thấy những tồn tại trên, từ những năm đầu của thập kỷ 80 chúng ta đã bắt đầu đổi
Những vấn đề nêu trên cho thấy vấn đề chủ sở hữu trong doanh nghiệp vẫn chưa có giải
pháp rõ ràng, giữa Nhà nước, Giám đốc và tập thể người lao động vẫn còn đan xen chưa
có sự phân định minh bạch.
Do vấn đề chủ sở hữu chưa được xác định rõ ràng nên chính sách phân phối nói chung
và chính sách tiền lương nói riêng đối với doanh nghiệp trong giai đoạn này còn nhiều
quan điểm chưa phù hợp.
Tháng 4/1995 Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội thông qua đã qui định rõ chủ sở hữu
đối với tài sản công trong doanh nghiệp Nhà nước là Chính phủ, đồng thời cho phép
Chính phủ phân cấp hoặc uỷ quyền cho các Bộ, ngành và Ủy ban thực hiện một số quyền
này. Còn đối với doanh nghiệp, dù kinh doanh hay hoạt động công ích, chỉ được quyền
quản lý, sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ của mình và tự
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệp
quản lý.
Luật doanh nghiệp nhà nước đã xác định rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn và tài
sản trong doanh nghiệp. Vì vậy vấn đề quản lý Nhà nước về tiền lương, thu nhập đối với
các doanh nghiệp cũng phải xác định phù hợp với quyền sở hữu của Nhà nước.
Trước hết, Nhà nước giữ vai trò quy định chính sách tiền lương để các doanh nghiệp áp
dụng;
Tiếp đến, Nhà nước quản lý thống nhất thông qua những biện pháp gián tiếp như ở giới
hạn thấp nhất quy định tiền lương tối thiểu, ở giới hạn cao nhất thì điều tiết thông qua
thuế thu nhập. Biện pháp trực tiếp như xác định yếu tố đầu vào chi phí tiền lương của
sản phẩm, dịch vụ hoặc chính sách phân chia lợi nhuận.
Trong phạm vi nguồn quỹ thu nhập gồm quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng doanh nghiệp
được quyền trả lương cho người lao động theo năng suất và mức độ đóng góp của từng
người.
Tóm lại vai trò của Nhà nước về quản lý tiền lương đối với doanh nghiệp là hết sức cần
thiết nhưng nội dung, phương pháp quản lý phải phù hợp với kinh tế thị trường.
Mô hình tổ chức quản lý tiền lương hiện nay như sau :
4/12
• Tiền lương và thu nhập của người lao động phải được thể hiện đầu đủ trong Sổ
lương của doanh nghiệp theo mẫu thống nhất do Bộ Lao động-Thương binh và
Xã hội ban hành.
• Quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi của doanh nghiệp được thực hiện theo khoản
4 và 5, Điều 33, Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với
doanh nghiệp Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 59/CP ngày 03/10/
1996 của Chính phủ và Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/4/1999 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh
đối với doanh nghiệp nhà nước (ban hành kèm theo Nghị định số 59/CP ngày
03/10/1996 của Chính phủ).
• Nhà nước quản lý tiền lương và thu nhập thông qua quản lý định mức lao động,
đơn giá tiền lương và tiền lương thực hiện của doanh nghiệp.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước:
* Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội:
- Trước tháng 4 hàng năm, thẩm định và giao đơn giá tiền lương cho các doanh nghiệp
xếp hạng đặc biệt sau khi trao đổi ý kiến với Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước
tại doanh nghiệp của Bộ Tài chính
- Hằng năm tổng hợp tình hình giao đơn giá tiền lương của tất cả các doanh nghiệp nhà
nước từ Trung ương đến địa phương
- Thông báo mức lương bình quân chung của các doanh nghiệp được nhà nước giao đơn
giá tiền lương vào cuối quý II, đầu quý III hằng năm làm cơ sở xác định lương bình quân
thực hiện tối đa của các doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2, điều 5 Nghị định số 28/
CP ngày 28/3/1997 của Chính phủ.
- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện, xây dựng đơn giá tiền lương và quản lý tiền lương,
thu nhập của các doanh nghiệp thuộc Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, các Tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương.
* Đối với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực:
- Trước tháng 4 hằng năm, thẩm định và giao đơn giá tiền lương cho các doanh nghiệp
thuộc quyền quản lý
- Phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, thẩm định đơn giá tiền lương cho
- Để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, yêu cầu của công tác quản lý theo Bộ Luật lao động
và Luật doanh nghiệp Nhà nước; thực hiện việc xây dựng định mức lao động, tổ chức
và phân công lao động, xây dựng đơn giá tiền lương và phân phối tiền lương gắn với
năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh của đơn vị và cá nhân người lao động, các
doanh nghiệp phải tổ chức, củng cố bộ phận chuyên trách làm công tác lao động - tiền
lương của doanh nghiệp, bố trí và bồi dưỡng cán bộ có đủ trình độ nghiệp vụ, chuyên
môn thực hiện công việc theo yêu cầu.
* Về xây dựng đơn giá tiền lương:
7/12
Quản lý Nhà nước về tiền lương thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước nói chung:
Giám đốc doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo xây dựng và đăng ký định mức
lao động theo quy định.
- Đối với doanh nghiệp được xếp hạng đặc biệt:
Tổng Giám đốc có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo xây dựng và đăng ký mức lao động theo
hướng dẫn tại Thông tư số 14/LĐTBXH-TT ngày 10/4/1997 của Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội; xây dựng đơn giá tiền lương báo cáo Hội đồng quản trị hoặc Bộ quản lý
ngành, lĩnh vực (nếu là tổng Công ty 90/TT được xếp hạng đặc biệt) xem xét, có công
văn gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề nghị thẩm định và giao đơn giá tiền
lương.
Các doanh nghiệp phải tiến hành xây dựng đơn giá tiền lương từ quý IV năm báo cáo để
gửi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kịp thẩm định và giao đơn giá tiền lương
vào quý I năm kế hoạch.
* Thủ tục hành chính đề nghị duyệt đơn giá tiền lương:
Theo phân cấp và tổ chức quản lý, sau khi xây dựng đơn giá tiền lương, doanh nghiệp
có công văn gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định và giao đơn giá tiền lương theo quy
kinh doanh, quỹ tiền lương được xác định như sau :
Vth = (Vđg x Csxkd) + Vpc +Vbs + Vtg
Trong đó :
Vth : Quỹ tiền lương thực hiện
Vđg : Đơn giá tiền lương do cơ quan có thẩm quyền giao
Csxkd : Chỉ tiêu sản xuất kinh doanh theo tổng sản phẩm hàng hóa thực hiện, hoặc
doanh thu (doanh số thực hiện), hoặc tổng thu trừ tổng chi (không có tiền lương), hoặc
lợi nhuận thực hiện ứng với chỉ tiêu giao đơn giá tiền lương
Vpc : Quỹ các khoản phụ cấp lương và các chế độ khác (nếu có) không được tính trong
đơn giá trong quy định (ví dụ : phụ cấp thợ lặn, chế độ thưởng an toàn hàng không...),
tính theo số lao động thực tế được hưởng ứng với từng chế độ.
Vbs : Quỹ tiền lương bổ sung, chỉ áp với các doanh nghiệp được giao đơn giá tiền lương
theo đơn vị sản phẩm. Quỹ tiền lương bổ sung trả cho thời gian thực tế không tham gia
sản xuất được hưởng lương theo chế độ quy định của số công nhân viên trong doanh
nghiệp, mà khi xây dựng định mưc lao dộng không tính đến, bao gồm : quỹ tiền lương
nghỉ phép năm, nghỉ việc riêng, nghỉ lễ tết, nghỉ theo chế đọ lao động nữ, hội họp, học
tập... theo quy định của Bộ luật Lao động
Vtg : Quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo số giờ thực tế làm thêm nhưng không
vượt quá quy định của Bộ Luật lao động.
- Khi quyết toán quỹ tiền lương thực hiện theo đơn giá được giao, nếu tiền lương thực
hiện bình quân của người lao động (tính theo số lao động định mức) trong doanh nghiệp
9/12
Quản lý Nhà nước về tiền lương thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước
cao hơn 2 lần mức lương bình quân chung do Bộ LĐTBXH thông báo thì doanh nghiệp
chỉ được quyết toán tổng quỹ tiền lương thực hiện ững với mức tiền lương bình quân của
lao động (tính theo số lao động định mức) trong doanh nghiệp bằng hai lần mức lương
bình quân được thông báo.
10/12
Quản lý Nhà nước về tiền lương thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước
khả kháng. Mức quỹ dự phòng do Giám đốc thoả thuận với ban chấp hành công đoàn
cùng cấp quyết định và không được sử dụng vào mục đích khác;
- Việc giao đơn giá và quỹ tiền lương kế hoạch cho các đơn vị thành viên khi tổng hợp
lại không vượt quá đơn giá và quỹ tiền lương kế hoạch do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
* Quy chế phân phối và trả lương trong các đơn vị thành viên:
- Căn cứ vào đơn giá tiền lương được giao, các đơn vị thành viên có toàn quyền phân
phối quĩ tiền lương và trả lương gắn với năng xuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất,
kinh doanh cho từng đơn vị, bộ phận và cá nhân người lao động thuộc quền quản lý trên
cơ sở quy chế phân phối, trả lương.
Bản quy chế phân phối, trả lương cho đơn vị thành viên phải được tổ chức công đoàn
cùng cấp thoả thuận trước khi ban hành và phổ biến đến từng người lao động. Sau đó
đăng ký với Sở Lao động-Thương Binh và xã hội địa phương (nếu doanh nghiệp thuộc
địa phương quản lý) hoặc với cơ quan giao đơn giá tiền lương (nếu doanh nghiệp thuộc
Trung ương quản lý).
- Việc quy định trả lương cho từng bộ phận, cá nhân người lao động theo qui chế chủ
yếu phụ thuộc vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác, giá trị cống hiến của từng
bộ phận, cá nhân người lao động, không phân phối bình quân. Đối với lao động có trình
độ chuyên môn, kỹ thuật cao, giỏi, giữ vai trò đóng góp quan trọng cho việc hoàn thành
nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của đơn vị thì mức tiền lương và thu nhập phải được trả
thoả đáng. Đối với lao động làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ giản đơn,
phổ biến thì mức lương trả cần cân đối với mức lương của lao động trên cùng địa bàn,
không tạo ra sự chênh lệch thu nhập quá bất hợp lý, gây mất cân bằng xã hội. Chênh
lệch về tiền lương và thu nhập giữa lao động phục vụ, giản đơn với lao động có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao, giỏi trong nội bộ đơn vị do đơn vị xem xét qui định cho phù
hợp, bảo đảm chống phân phối bình quân.