TRUNG ƯƠNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
-*-*-*-*-*-*-*-*-*-*-*-
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài :
ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH PHƯỜNG VỊ XUYÊN
- TP NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH VỚI VIỆC GIỮ GÌN
VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
Giảng viên hướng dẫn : Thạc sỹ Dương Thị Hiền
Học viên thực hiện
: Hoàng Anh Tuấn
Lớp
: K42b
Niên khoá
: 2006 - 2008
Nam Định - tháng 6 năm 2008
`
LỜI CẢM ƠN
Sau ba tháng thực tập và viết chuyên đề tốt nghiệp tại Ủy ban nhân
không chỉ những người lãnh đạo các quốc gia mà của cả từng gia đình, cá
nhân. Thông điệp của UNESCO ( tổ chức văn hóa giáo dục Liên hợp
quốc ) về vai trò to lớn của văn hóa trong sự phát triển bền vững của “thập
kỷ Quốc tế phát triển văn hóa” vừa qua đã chứng minh rằng: “không chỉ có
sự phát triển kinh tế - xã hội một cách lành mạnh, bền vững, nếu sự phát
triển ấy không nhắm tới mục tiêu văn hóa, không dựa trên động lực văn
hóa”. Vì vậy, việc Đảng và nhà nước ta kiên trì đường lối phát triển trên cơ
sở coi “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đồng
thời có tác động tích cực đến việc phát triển văn hóa ở các cấp, các ngành,
từ Trung ương đến địa phương.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : "Trong công
cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cần phải chú ý đến, cũng phải
coi là quan trọng như nhau, đó là chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội
". Văn hóa Việt Nam là thành quả lao động sáng tạo và đấu tranh dựng
nước, giữ nước hàng nghìn năm của cộng đồng các dân tộc sống trên đất
nước Việt Nam, là kết quả giao lưu quốc tế, tiếp thu những tinh hoa của
nhiều nền văn minh trên thế giới. Giữ vững bản sắc và không ngừng phát
triển từ đời này qua đời khác, văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm
hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, góp phần làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang
của dân tộc. Ngày nay cùng với xu thế " quốc tế hoá " là hoà nhập vào
cùng dòng chảy chung của nhân loại, chúng ta đang tiến hành công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH
trong những năm qua, Đảng ta thấy rằng xây dựng CNXH không thể
không coi trọng vấn đề văn hóa. Dự thảo báo cáo chính trị của đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đặt vấn đề xây dựng văn hóa ngang tầm
với các vấn đề quan trọng khác, xem phát triển văn hóa có ý nghĩa như
Nước Việt Nam ta có một nền văn hóa dân tộc ra đời từ rất sớm cùng
với sự hình thành và phát triển của đất nước, được truyền từ đời này sang
đời khác một cách bình dị nhưng rất phong phú và đa dạng, thể hiện sức
sống mãnh liệt của nhân dân các dân tộc. Đó là nền văn hóa của quần
chúng lao động trong quá trình sản xuất và chiến đấu. Văn hóa Việt Nam là
tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt
Nam sáng tạo, là kết quả của quá trình tiếp thu tinh hoa của các nền văn
hóa trên thế giới, trên cơ sở xây dựng và bồi đắp thêm cho nền văn hóa của
dân tộc ngày càng phong phú và đa dạng để không ngừng hoàn thiện mình,
chính vì vậy văn hóa dân gian các dân tộc Việt Nam luôn phản ánh rõ nét
những đặc điểm mang tính dân tộc đậm đà, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của
dân tộc Việt Nam.
Văn hóa là một mục tiêu nhân văn xây dựng và giáo dục con người,
tư tưởng coi trọng ngang nhau cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong
tiến trình xây dựng đất nước mới có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc, sự phát triển của xã hội sẽ nảy sinh những vấn đề cấp bách mà chúng
ta cần phải giải quyết, song quyết không thể duy nhất hóa, chỉ tập trung giải
quyết các vấn đề trước mắt mà không nghĩ đến toàn cục, đến những mối
liên hệ phổ biến, đến sự phát triển lâu bền. Coi trọng ngang nhau về chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội không có nghĩa là mỗi bộ phận đó của xã hội
tách rời nhau, càng không có nghĩa cái nào là cơ sở, cái nào là cơ bản. Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh : “ Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng nhưng cơ
sở hạ tầng có kiến thiết rồi thì văn hóa mới kiến thiết được ”. Văn hóa có
một vị trí đặc biệt như vậy bởi vì văn hóa gắn liền toàn diện với đời sống
của dân tộc. Trong triết lý phát triển xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì
văn hóa gắn bó trực tiếp với quá trình Cách mạng của nhân dân và nó bắt
nguồn, trưởng thành và phát triển từ chính cuộc sống của nhân dân, theo sự
phát triển của xã hội. Cho đến nay văn hóa Việt Nam vẫn còn nguyên
nhiên, công cuộc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở một số địa
phương nhất là cấp phường, quận, bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ
còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, bức xúc cần được giải quyết. Vị Xuyên là
một phường trung tâm của TP Nam Định. Trên địa bàn có 32 cơ quan,
trường học từ cấp mầm non đến Đại học. Trong phường có nhiều hộ buôn
bán kinh doanh trên các phố sầm uất như Hàn Thuyên, Hùng Vương…
Chính vì lý do trên, là người cán bộ Đoàn trong tương lai, với mong
muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở địa phương, dựa vào những giải pháp
khả thi nhằm nâng cao nhận thức, tư tưởng, hành động của Đoàn viên
thanh niên, tôi đã chọn đề tài “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Phường Vị
Xuyên- TP Nam Định với sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc” làm chuyên đề tốt nghiệp cho khóa đào tạo của mình.
II. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề
Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, đánh giá đúng nguyên nhân của
thực trạng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa sự nghiệp giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn phường Vị Xuyên - TP
Nam Định.
III. Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường
Vị Xuyên trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
IV. Nhiệm vụ của chuyên đề
1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận của vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc.
2. Nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường Vị Xuyên.
3. Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng sự
nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bàn phường Vị
đời Chu ( Trung Quốc ) cách đây khoảng 3000 năm, “ Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ “ ( quan sát dáng vẻ con người để giáo hóa thiên hạ ).
Đến đời Tây Hán, ông Lưu Hướng là người đầu tiên trong tác phẩm của
mình dùng từ “ văn hóa “ : “ Bậc thánh nhân trị thiên hạ trước hết dùng văn
đức, sau mới dùng vũ lực. Phàm là dùng vũ lực đối với những kẻ chống đối
bất trị, dùng văn hóa không được thì phải chinh phạt “. Ông Chu Thích
cũng là người dùng thuật ngữ “ văn hóa “ rất sớm : “ Văn hóa là để làm
cho bên trong hòa mục, còn võ công là để sửa sang bên ngoài”. Theo ông,
văn hóa để đối nội, võ công để đối ngoại.
Ở phương Tây, thuật ngữ “ văn hóa “ xuất hiện từ thời cổ Hy Lạp
cách đây khoảng 2000 năm. Thuật ngữ này có gốc La Tinh là “ Cultus “
( cày cấy, vun trồng, chăm bón, làm ruộng, huấn luyện, cải thiện … ), là
hoạt động thường ngày của con người về giáo dục, nâng cao dân trí.
Từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 14, nhân loại trì trệ trong “ đêm trường
Trung cổ “. Đến thời kỳ Phục hưng, xuất hiện rất nhiều nhà văn hóa khổng
lồ về văn học nghệ thuật : Williams Shakespeare, Leonardo Da Vinci …
khai thác nhân văn, họ coi “ Văn hóa là năng lực để con người sáng tạo ra
những giá trị “.
Vào thế kỷ 19, khoa học văn hóa ra đời. Martin Taylor là người đầu
tiên đã đưa ra định nghĩa “ văn hóa “ trong tác phẩm của mình ( năm 1871 )
: “ Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà
con người đã đạt được trong xã hội “, “ Văn hóa là tất cả những gì do con
người sáng tạo ra một cách có ý thức và vì sự tiến bộ của nhân loại “.
Ngày nay, thuật ngữ “ văn hóa “ còn đang được tiếp tục bổ sung và
hoàn thiện, do lịch sử loài người luôn vận động và phát triển. Theo các nhà
nghiên cứu văn hóa thì hiện nay có khoảng hơn 400, thậm chí cả nghìn
định nghĩa văn hóa theo các góc độ tiếp cận khác nhau.
Văn hóa là sự thể hiện năng lực, bản chất của con người, là các giá
- Văn hóa tinh thần : Là toàn bộ những sản phẩm và giá trị được tạo
ra trong sản xuất tinh thần của con người, bao gồm : tư tưởng chính trị, đạo
đức, văn học nghệ thuật, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo.v.v.. Khi
nói đến văn hóa thì văn hóa tinh thần được đề cập nhiều hơn.
Sự nghiệp đổi mới của đất nước, của Đảng và nhân dân ta đòi hỏi
phát huy cao độ năng lực tinh thần của con người Việt Nam về trí tuệ, đạo
đức, tâm hồn, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là một sự sáng tạo to lớn của
nhân dân ta đồng thời là quá trình cải biến xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy
nguồn lực trí tuệ, bản lĩnh của mỗi con người Việt Nam. Sự thay đổi về cơ
cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hóa của mọi tầng lớp
dân cư, quá trình dân chủ hóa xã hội … là yếu tố quan trọng làm thay đổi đời
sống văn hóa dân tộc.
Đến đây ta có thể nhấn mạnh một điều : “ Văn hóa là kết quả lao
động sáng tạo của con người trong suốt tiến trình lịch sử của mình ”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người đã sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ để ăn, mặc, ở,
đi lại … các phương tiện sử dụng toàn bộ các sáng tạo văn minh đó chính
là văn hóa” .
2. Khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc
Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến mặt bất biến của văn hóa trong
quá trình hình thành và phát triển của lịch sử. Dĩ nhiên, văn hóa là một hệ
thống những giá trị tinh túy, bền vững, là nơi hội tụ của những tinh hoa văn
hóa dân tộc. Các hệ thống quan hệ này mang những tên gọi riêng, có thể
chứa đựng những cách lý giải khác nhau trong cách biểu hiện qua các thời
đại. Cải tạo các hệ thống quan hệ này thành cái bất biến là nhu cầu trong
bản sắc riêng, khuôn mẫu riêng của văn hóa Việt Nam chắc chắn phải bao
gồm các giá trị đặc biệt về ứng xử, phải có lối ứng xử thông minh và khôn
ngoan tới mức nào đó, các chủ thể văn hóa Việt Nam mới tiếp thu được
những giá trị tốt đẹp của văn hóa ngoại sinh, đồng thời chiến thắng hoặc
tránh được những âm mưu “ đồng hóa “, “ khai hóa “ của các cường quốc
là chủ thể của các nền văn hóa ấy.
Trong điều kiện của thế giới ngày nay, những gì trong văn hóa Việt
Nam có thể coi là sức mạnh của nó, giúp nó tiếp tục khẳng định mình và
đóng vai trò là động lực thúc đẩy xã hội phát triển? Về điều này, có thể nêu
ra một số phẩm chất đã định hình ở cộng đồng người Việt, những phẩm
chất mà vai trò của chúng trong đời sống xã hội đã được thừa nhận bởi số
đông, như là những giá trị “ tiềm ẩn “, như là những định hướng bên trong
đối với hoạt động xã hội như sau :
Thứ nhất, một trong những sức mạnh của văn hóa Việt Nam là
phương thức ứng xử đặc biệt của người Việt trước hiện thực : linh hoạt,
năng động, mềm dẻo, thích nghi, thích ứng nhanh với hoàn cảnh.
Thứ hai, phong cách sống của người Việt : tôn trọng tình nghĩa, ghét
cực đoan ( cả hai phẩm chất này đều là sản phẩm được kết tinh dài lâu từ
trong lịch sử. Hoàn cảnh sống nông thôn - nông nghiệp - làng xã, cuộc đấu
tranh phức tạp và gay gắt với các triều đại phong kiến hùng mạnh ở phương
Bắc để bảo vệ nền độc lập dân tộc, những thời kỳ đấu tranh giành độc lập
và đối thoại với các nền văn minh Âu, Mỹ … Tất cả các giai đoạn lịch sử
đó đã định hình trong văn hóa người Việt và tạo thành nét ưu trội về lối sống
và phương thức ứng xử).
Thứ ba, trong tương quan với các cộng đồng quốc tế khác, cộng
đồng người Việt thường ít nhiều tự hào về phẩm chất trí tuệ của mình.
Những phẩm chất nói trên nếu được khuyến khích và nuôi dưỡng
hợp lý chắc chắn sẽ có tác dụng không nhỏ trong việc thúc đẩy mỗi người
nồng nàn, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết
cá nhân, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù
sáng tạo trong lao động, tế nhị trong cư xử, giản dị trong lối sống .v.v.. Bản
sắc dân tộc còn mang đậm nét trong các hình thức biểu hiện tính dân tộc
độc đáo.
Bản sắc của mỗi dân tộc thể hiện những màu sắc chung mang tính
đại diện cho dân tộc đó qua mọi thời đại. Nó bao gồm cả đạo đức,
phong cách, lối sống … của con người Việt Nam, của các dân tộc sinh
sống trên lãnh thổ Việt Nam.
“ Bản sắc văn hóa Việt Nam được bồi đắp ngày càng thêm rạng rỡ
bằng trí tuệ và tâm hồn của biết bao thế hệ, tự hào về truyền thống yêu
nước nồng nàn và ý chí bất khuất quật cường, tinh thần nhân văn cao cả,
tình nghĩa, nhân hậu, thuỷ chung của nhân dân ta luôn hướng tới chân thiện - mỹ” ( nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười ). “ Đó là lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa
tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong lối sống …” - Nghị quyết Trung ương 05 khóa VIII
của Đảng CSVN.
4. Nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc:
Xuất phát từ thực trạng của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định
việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là
một vấn đề cấp bách mang tính chiến lược lâu dài, là vấn đề có ý nghĩa
sống còn với quốc gia, dân tộc.
Đối với thế hệ trẻ, vấn đề giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc
trong lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nêu cao ý thức về bản sắc văn
hóa dân tộc đã thức tỉnh những ai mơ hồ về lịch sử dân tộc, suy giảm lòng
tự hào dân tộc, mơ hồ về giá trị truyền thống, bị choáng ngợp bởi những
thành tựu văn minh kỹ thuật phương Tây mà mất tự tin, mất lòng tin vào
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội hậu bị tin cậy của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là đội quân xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ
nghĩa của thanh niên, là đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của tuổi trẻ, là lực lượng chính trị nòng cốt trong phong trào thanh niên và
trong các tổ chức thanh niên Việt Nam. Ngoài ra Đoàn còn lãnh một trách
nhiệm rất lớn lao được Đảng và nhà nước giao cho là phụ trách và dìu dắt
Đội Thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh, tổ chức của những thiếu niên,
nhi đồng xuất sắc.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức trong hệ thống chính trị, hoạt
động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Trong hệ thống chính trị, Đoàn là một thành viên bình
đẳng với các thành viên khác, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đoàn giữ vai
trò nòng cốt, định hướng chính trị cho Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam,
phối hợp với các thành viên khác trong công tác thanh niên, phát huy hiệu
quả các chức năng của mình trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đoàn
luôn được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh luôn đoàn kết, hợp tác bình đẳng với các
tổ chức thanh niên tiến bộ trên thế giới phấn đấu vì tương lai và hạnh phúc
của tuổi trẻ, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thế hệ trẻ thanh niên, thiếu niên là những người kế tục sự nghiệp
Cách mạng của dân tộc, của giai cấp công nhân và của Đảng, là người cầm
nắm tương lai của dân tộc, tương lai văn hóa của nước nhà. Trong nhiều
nghị quyết, Đảng đã khẳng định : " Thế hệ trẻ có vai trò lịch sử rất quan
trọng, là lớp người năng động nhất trong nhân dân, là lực lượng xung kích
Cách mạng, Đảng và Bác Hồ vĩ đại luôn coi trọng thế hệ trẻ, coi trọng công
tác thanh niên, động viên thế hệ trẻ hăng hái chiến đấu, học tập, tu dưỡng,
góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi lịch sử vẻ vang của đất nước.
gia tích cực vào sự nghiệp văn hóa nghệ thuật.
Trong giai đoạn hiện nay, thế hệ trẻ Việt Nam vẫn không ngừng phát
huy tính tích cực cơ bản của mình trong các lĩnh vực, thể hiện rõ sự năng
động, ý chí vươn lên trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa nghệ
thuật, đạo đức, lối sống … Bởi thế hệ trẻ giữ vai trò to lớn không chỉ trong
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, trong lĩnh vực xây dựng kinh tế, văn hóa mà còn
đi sâu trong việc xây dựng lối sống của đất nước nhằm tạo diện mạo con
người mới trong xã hội mới.
Đoàn thanh niên là lực lượng nhạy bén trong việc tiếp thu những tinh
hoa văn hóa của các nước trên thế giới, từ đó chắt lọc làm giàu thêm nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Thực hiện việc tổ chức quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước và trên cơ sở Nghị quyết đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VII, hai
phong trào lớn “ Thanh niên lập nghiệp “ và “ Tuổi trẻ giữ nước “ được
triển khai rộng khắp, góp phần cổ vũ hàng triệu thanh niên vươn lên lập
thân, lập nghiệp, xung kích thực hiện các chương trình kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh của đất nước tạo sự chuyển biến tích cực trong nội dung,
phương thức đoàn kết tập hợp thanh niên và công tác xây dựng tổ chức Đoàn
trên toàn quốc.
Hai phong trào lớn “ Thanh niên lập nghiệp “ và “ Tuổi trẻ giữ nước
“ là một chủ trương đúng đắn được triển khai có hiệu quả, đánh dấu bước
phát triển mới của công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong điều kiện
mới, tạo nên nguồn lực tinh thần và vật chất, làm chuyển biến nhận thức và
hành động của cán bộ, Đoàn viên thanh niên cả nước, được xã hội quan
tâm ủng hộ ( báo cáo Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VII ).
Công tác tư tưởng - văn hóa, tuyên truyền giáo dục của Đoàn bám
sát các chủ trương, đường lối của Đảng được thanh niên tiếp nhận một cách
tích cực. Các hoạt động giáo dục truyền thống dân tộc và Cách mạng,
gạn đục, khơi trong “ mà Bác Hồ kính yêu đã dạy.
Là lực lượng nòng cốt trong việc tổ chức hoạt động, kỷ niệm ngày lễ lớn
của dân tộc thông qua đó để tuyên truyền nhắc nhở cho Đoàn viên thanh
niên biết được truyền thống của ông cha ta. Một truyền thống đầy vẻ vang.
III. MỘT SỐ TƯ TƯỞNG QUAN ĐIỂM VỀ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc:
Thuở đương thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo xây
dựng khối đoàn kết cũng như sự nghiệp phát triển văn hóa của tất cả các dân
tộc. Người nhìn thấy rõ các sắc thái riêng của văn hóa mỗi dân tộc, không
chỉ là nét văn hóa cá thể của nó mà chính cái sắc thái cá thể đó làm phong
phú đa dạng, đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam. Chính ở đó ta tìm thấy “
tiếng nói chung “ của nền văn hóa Việt Nam, của cộng đồng các dân tộc từ
nghìn đời nay cùng sống, lao động, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam.
Tất cả chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt tôn
trọng lối sống văn hóa giữa các dân tộc. Người luôn mong các dân tộc Việt
Nam được bình đẳng sao cho các dân tộc miền núi tiến kịp miền xuôi,
Người chăm lo đến đời sống vật chất tinh thần của các dân tộc và tất cả tấm
lòng yêu thương, trìu mến, một tình cảm đầm ấm, tôn trọng và công bằng.
Theo Người, một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải
là nền tảng tinh thần cho quá trình giữ vững độc lập dân tộc, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thể hiện dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên CNXH. Giữ
vững bản sắc dân tộc không có nghĩa là thực hiện việc “ đóng cửa “ để xây
dựng một nền văn hóa đơn điệu, nghèo nàn mà phải nhìn ra thế giới, tiếp
thu tinh hoa văn hóa dân tộc của các nước trên thế giới để làm giàu và
phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam. Phải có sự đào thải những cái cũ
Mỗi dân tộc khẳng định bản sắc văn hóa của mình và phát triển sự hiểu biết
đối với các dân tộc khác.
2. Những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam:
Hội nghị lần thứ 05 Ban chấp hành TƯ Đảng ( họp từ ngày 6/7/1998