LỜI CẢM ƠN
Là một học viên của Học Viện Thanh Thiếu Niên Việt Nam, trong thời
gian học tập tại Học Viện, được sự giúp đỡ quan tâm của giáo viên chủ nhiệm
và các thầy cô bộ môn đã truyền đạt cho nhiều kiến thức về các môn lý luận cơ
bản, khoa học cơ sở, phương pháp luận thanh thiếu nhi; cũng như các kỹ năng
đoàn kết tập hợp thanh thiếu nhi. Những kiến thức ấy đã giúp em rất nhiều trong
quá trình vận dụng vào thưc tiễn để viết chuyên đề tốt nghiệp.
Với những tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc, em xin được gửi lời cảm ơn
chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo trong Học viện, đặc biệt là thầy Hoàng
Minh Tuấn đã tận tình hướng dẫn đóng góp những ý kiến hết sức quý báu giúp
đỡ em trong quá trình hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị trong Ban Thường vụ Thành đoàn Hải
Phòng đã tạo điều kiện cho em được tiếp xúc học hỏi. Với sự quan tâm giúp đỡ
của Ban Chấp Hành, Ban Thường Vụ Thành đoàn Hải Phòng đã cung cấp những
tài liệu, những số liệu chính xác cụ thể giúp chuyên đề này thuyết phục hơn.
Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn để hoàn thành chuyên đề, măc dù đã
cố gắng hết sức nhưng chắc chắn chuyên đề khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy, em rất mong các thầy cô giáo, các đồng chí và các bạn đóng góp ý kiến.
Xin chân thành cảm ơn !
Hải Phòng, ngày 23 tháng 10 năm 2010
Người thực hiện
Dương Thị Hà Vân
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TTN
: Thanh thiếu niên
: Trung học phổ thông
TNXP
: Thanh niên xung phong
2
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Với nguồn nhân lực dồi dào, một thế hệ trẻ hóa là thuận lợi cho đất nước
phát triển ngày một đi lên. Tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi những khó khăn
thách thức mà đất nước ta đang phải đối mặt với nó từng ngày, từng giờ.
Thanh niên hiện nay chiếm hơn 70% dân số cả nước, họ là nguồn nhân
lực dồi dào, hay nói cách khác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thanh niên
là giường cột của nước nhà”, “Là chủ nhân của tương lai đất nước”. Thanh niên
có vai trò hết sức to lớn trong mọi thời kỳ, mọi lĩnh vực, thanh niên luôn luôn là
lực lượng xung kích đi đầu.
Nhưng hiện nay, tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên đang gia tăng đáng
báo động, tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS là một con số kỷ lục, đòi hỏi Nhà nước
và xã hội ngày một quan tâm hơn. Thực tế cho thấy nghiện hút không chỉ hủy
hoai sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến giống nòi, nguyên nhân rất lớn
dẫn đến HIV/AIDS, mại dâm, dẫn đến phạm tội gây ra nỗi đau về tinh thần, tổn
thương về kinh tế cho gia đình và xã hội, số lượng thanh niên mắc các tệ nạn xã
chống tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên tai thành phố Hải Phòng nhằm giảm
bớt và tiến tới xóa bỏ dần các tệ nạn xã hội trên đia bàn thành phố.
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đọc và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến tệ nan xã hội , xử lý các tài liệu để
tìm ra nguyên nhân, thực trạng và giải pháp cho phòng chống tệ nạn xã hội cho
lứa tuổi thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố.
- Phân tích những nội dung, hình thức biên pháp tổ chức mô hình, các loại hình
hoạt động của Đoàn thanh niên nhằm tuyên truyền, giáo dục Thanh thiếu niên
hiểu biết về tác hại của ma túy.
- Kiến nghị một số giải pháp với tổ chức Đảng, cơ quan đoàn thể nhằm nâng cao
vai trò của Đoàn trong viêc tham gia phòng chống tệ nạn xã hội.
3. Đối tượng nghiên cứu – khách thể nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác phòng chống tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên trên địa bàn thành
phố Hải Phòng.
3.2. Khách thể
5
- Cán bộ Đoàn, đoàn viên thanh niên trên địa bàn thành phố
- Đội ngũ cán bộ đoàn Quận, phường.
- Ban chỉ đạo phòng chống tệ nan xã hội
4. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Địa bàn : TP Hải Phòng.
- Thời gian: Từ năm 2006 – 2010
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Đọc và nghiên cứu tài liệu
5.2. Tiến hành khảo sát thu thập tài liệu, chủ trương chính sách của Đảng, các
mô hình, hoạt động có liên quan trực tiếp đến công tác phòng chống tệ nạn xã
hội, cơ quan, tổ chức đóng trên địa bàn.
Hêrôin đến những chất chỉ sử dụng hạn chế theo chỉ định của thầy thuốc để chữa
bệnh nh: Moocphin, Xeluxen và những chất sử dụng hợp pháp nh: Thuốc lá, rợu.
Ma tuý đợc hiểu theo nghĩa hẹp, thông dụng: Là một số thảo mộc đợc hoá
chất, có tác dụng kích thích mạch thần kinh hoặc gây ảo giác dùng để chữa bệnh
đúng liều, đúng lúc, đúng bệnh thì có tác dụng tốt, ví dụ nh: Moocphin, Dolagan
có tác dụng giảm đau. Nếu dùng vào mục đích giải trí với liều cao để có cảm
giác đặc biệt, dùng nhiều lần thành thói quen, trở thành nhu cầu và dẫn đến
nghiện.
Theo báo cáo khoa học của Bộ Nộ vụ (nay là Bộ Công an mã số KX 0414) thì ma tuý là những chất mà ngời ta dùng một thời gian sẽ gây trạng thái
nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào thuốc.
Từ những khái niệm trên có thể đi đến một khái niệm thống nhất về ma tuý
nh sau: "Ma tuý có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khi thâm nhập vào cơ thể
con ngời sẽ gây tác dụng làm thay đổi trạng thái, ý thức, trí tuệ, tâm trạng của
ngời đó. Nếu dùng lặp lại làm nhiều lần sẽ làm cho con ngời bị lệ thuộc vào nó,
lúc đó gây tổn thơng và nguy hại cho cá nhân và cộng đồng".'
* Một vài nét về lịch sử Ma tuý
Từ xa xa, nhiều bộ lạc trên thế giới đã biết sử dụng một số cây cỏ để ăn, hút
làm sảng khoái tinh thần và chống lại mỏi mệt. Việc trồng và sử dụng thuốc
7
phiện để chữa bệnh nh: Đau bụng, ho, nhức đầu, ỉa chảy, đợc bắt đầu cách đây
hàng ngàn năm ở khu vực Địa Trung Hải, Nam á, Trung á.
Với tiến bộ khoa học kỹ thuật ngời ta xác định đợc các thành phần hoạt
chất trên các loại cây cỏ nêu trên, tách và chiết xuất các hoạt chất tinh khiết. Đầu
thế kỷ XIX đợc sĩ ngời Đức Sertune đã chiết xuất đợc Côcain từ cây
Cocaethreylon.
Do quá trình tìm kiếm các loại thuốc chữa bệnh ngời ta đã dựa vào các chất
có sẵn trong tự nhiên để chế biến thành các chất bán tổng hợp hoặc tổng hợp
toàn phần để thu đợc các chất có cấu trúc cơ bản hơn. Bên cạnh những mặt tích
Cây thuốc phiện:
Hay còn gọi là cây Anh túc, có tên khoa học là PapaverSommiferum. Từ
quả xanh của cây Anh túc ngời ta trích lấy nhựa. Thành phần của nhựa có chứa
tới 20alcaloi (moocphin, côdêin, narcôtin) gọi là thuốc phiện, có màu đen, đặc
quánh. Từ thuốc phiện ngời ta chiết xuất ra moocphin, tinh chế ra Hêrôin dạng
bột trắng và xốp. Đây là loại ma tuý chủ lực, mạnh nhất, dễ dàng gây cho ngời
nghiện sự lệ thuộc về thể xác lẫn tinh thần.
Cây Côca:
Có tên khoa học là Erythoroxylum, hoạt chất chính của cây côca là côcain
(từ 0,3 đến 1%). Loại cây này thờng mọc thành bụi, xanh quanh năm, chính từ
côca ngời ta chiết xuất ra côcain. Ngời ta dùng côcain ban đầu thấy ngất ngây, lơ
mơ, sau đó bồn chồn, bứt rứt, mất ngủ. Côcain có tác dụng kích thích thần kinh
và gây nghiện, nếu dùng liều cao sẽ để lại di chứng rối loạn chức năng cơ quan
thần kinh, và gây nghiện, nếu dùng liều cao sẽ để lại di chứng rối loại chức năng
cơ quan thần kinh, gây ngộ độc cho con ngời (chân tay co quắp, liệt hô hấp tuần
hoàn, có thể dẫn đến tử vong). Năm 1886 một dợc sĩ ngời Mỹ đã tìm đợc cách
pha chế chất Côca và nớc Côcacôla có thêm khíc CO2 đợc ra đời. Chính vì vậy
việc trồng Côca để phục vụ sản xuất nớc giải khát Côcacôla vẫn đợc mở rộng,
phát triển ở nhiều nớc nên cũng không thể tránh khỏi tệ nạn nghiện hút Côcain ở
nhiều nớc nh hiện nay.
Cây Cần sa:
Có tên khoa học là Canabissodiva hay còn gọi là cây Gai dầu, gai mèo, sản
phẩm của cây Cần sa là hashish. Cây Cần sa ở Việt Nam đợc trồng nhiều ở An
Giang và Kiên Giang. Trên thế giới trồng nhiều ở ấn Độ, Pakistan, Iran, Thổ Nhĩ
Kỳ.
Cây Cần sa là loại cây thảo mộc, thân thẳng cao từ 2-3m, từng đoạn phân
thành nhiều cành lá và thờng đợc gieo vào tháng 8 hàng năm.
Việc sử dụng nhựa cây cần sa đã đợc biết đến từ lâu vì thuốc gây cho ngời
đây là loại ma tuý rất độc hại và gây nghiện nặng, nếu dùng không đúng liều sẽ
dẫn đến tử vong, đó chính là nguy cơ làm cho tệ nạn ma tuý tăng vọt trong
những năm gần đây và mạng lới buôn bán vận chuyển này có nguy cơ hoạt động
xuyên quốc gia. Vì vậy, đòi hỏi sự phối hợp giữa các quốc gia trong việc bài trừ
chống ma tuý phải đợc đẩy mạnh nhiều hơn.
2. Tác hại của ma tuý đối với bản thân ngời nghiện, gia đình và xã hội.
2.1. Đối với bản thân ngời nghiện.
Ma tuý phá hoại thể xác và nhân cách ngời nghiện. Ma tuý gây rối loạn
sinh lý, tàn phá huỷ hoại cơ thể ngời nghiện qua các triệu chứng đã đợc thống kê
nh sau:
- Gây rối loạn toàn thân: 84,0%.
+ Gây mất nớc: 94,3%
+ Suy nhợc: 78,1%
- Rối loạn về tiêu hoá: 81,0%
+ Chán ăn: 75,0%.
+ Nôn hoặc buồn nôn 87,5%
+ Đi rửa, táo bón xen kẽn: 78,1%.
+ Đau bụng: 53.1%
+ Rối loạn dinh dỡng (phù)
- Rối loạn tuần hoàn:
10
+ Tim bị loạn nhịp
+ Huyết áp tăng , giảm đột ngột
- Rối loạn chức năng thần kinh: Khi đa ma tuý vào cơ thể, nó tác động ngay
đến hệ thần kinh, gây ra xung đột kích thích hay ức chế ở các trung khu của bấn
cầu đại não, gây rối loạn các phản xạ thần kinh, nh:
+ Chóng mặt: 81,3%.
+ Nhức đầu: 68,8%
chịu ngày càng nhiều nỗi bất hạnh dẫn đến: Ngời nghiện không chịu học hành,
11
làm lụng, không làm ra của cải, lại phải chi ngày càng nhiều tiền để mua ma tuý
với liều lợng ngày càng cao, dấn tới gia đình cạn kiệt về kinh tế, thậm chí
"khuynh gia bại sản". ở thành phố thì có chuyện "nhà lầu tan trong ống tiêm
chích", ở miền núi thì có chuyện "con trâu chui qua cái tẩu hút thuốc phiện".
Chuyện tởng nh đùa, nhng lại mô tả sâu sắc bằng hình tợng của cải trong nhà
phải bán đi để mua ma tuý. Nhiều ngời nghiện bán dần tài sản trong nhà, bán cả
nhà, đất để mua ma tuý, để rồi lang thang ăn mày, ăn xin.
Sự bất hoà thờng xuyên xảy ra giữa những ngời nghiện ma tuý với các
thành viên trong gia đình do mâu thuẫn về lối sống, thái độ c xử, tún quẫn về
kinh tế, làm cho tình cảm trong gia đình bị tổn thất, hạnh phúc gia đình tan vỡ,
vợ chồng ly hôn, thanh danh gia đình bị hoen ố.
Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động và thơng binh xã hội cho thấy hiện
nay có hơn 90% gia đình có ngời nghiện hút bị sa sút về kinh tế, 70% cặp vợ
chồng bị nghiện hút phải ly tan. Nhiều gia đình có ngời nghiện (bố, mẹ, vợ,
chồng, anh em...) liên tục bị bất hoà, 24% ngời thân từ bỏ trách nhiệm đối với
ngời nghiện ma tuý. Đã có nhiều bà mẹ bất lực trớc con cái, phải lấy cái chết ra
để cảnh tỉnh con cái.
2.3. ảnh hởng đến nền kinh tế - chính trị của đất nớc.
Ma tuý không chỉ gây tác hại đối với bản thân, gia đình ngời nghiện mà ma
tuý chính là tác nhân ảnh hởng lớn đến tình hình kinh tế, chính trị của đất nớc.
Một ngời bị nghiện có thể trạng ốm yếu, lợng tài sản làm ra không đáng kể,
trong khi đó họ lại dùng một lợng tài sản rất lớn vào việc hút chích thuốc phiện.
Sự tổn phí về kinh tế, sức lực do nan ma tuý gây ra cho xã hội rất lớn. Hàng
chục vạn ngời có sức lao động tốt, tài năng đang nở rộ nhng khi vớng vào nghiện
ma tuý đã trở thành những kẻ ăn bám rồi sinh ra ăn cắp, ăn trộm, giết ngời, cớp
của.
mặt đối với sự phát triển của quốc gia nói chung và của đất nớc nói riêng. Đối
với nớc ta trong thời kỳ hiện nay, việc giải quyết các tệ nạn xã hội trở thành một
vấn đề nóng bỏng trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội. Mỗi con ngời, mỗi
gia đình, mỗi cộng đồng đều phải tự phòng vệ cho mình chống lại sự tấn công
của các tệ nạn xã hội. Có nh vậy công cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội
của chúng ta mới thu đợc kết quả nh mong muốn.
2.4 Những quan điểm của Đảng, Chính Phủ về công tác phòng chống tệ
nạn nghiện hút ma tuý.
Ma tuý là một vấn đề bức xúc trong toàn xã hội, nó đã và đang là hiểm hoạ
của loài ngời, ảnh hởng rất lớn đến nền kinh tế chính trị, trật tự an xã hội, đạo
đức lối sống và cả thuần phong mỹ tục của ngời, của dân tộc, ảnh hởng tới hạnh
phúc gia đình, tới đời sống văn hoá, xã hội. Để lại hậu quả nghiêm trọng đến
giống nòi, tạo ra lối sống ích kỷ, thực dụng, truy lạc mất phẩm giá nhân cách. Có
thể nói, tệ nạn nghiện hút ma tuý là một trong những tệ nạn trái với thuần phong
mỹ tục, đạo đức truyền thống của dân tộc ta, đồng thời gây ra nhiều nhiều hậu
quả nặng nề trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Chính vì vậy, công tác phòng chống tệ nạn xã hội đã đợc Đảng và Nhà nớc
hết sức quan tâm đầu t chỉ đạo, đồng thời cũng xác định đây là một vấn để của
toàn xã hội, của mọi công dân đối với sự phát triển và phồn vinh của đất nớc.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã chỉ ra một trong
bốn nguy cơ tụt hậu của đất nớc là "Tệ nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội
khác" đã nói lên yêu cầu cấp bách và tầm quan trọng của công tác phòng chống
13
tệ nạn xã hội của đất nớc. Tính kiên quyết, triệt để trong đấu tranh phòng chống
tệ nạn ma tuý thể hiện qua các Chỉ thị, Nghị quyết.
- Ngày 29/01/1993, Chính phủ ban hành Nghị quyết 06/CP về "Tăng cờng
chỉ đạo trong công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý" với 6 nhiệm vụ cơ bản
là: "Tổ chức điều tra cơ bản, phân tích đánh giá thực trạng ma tuý, xoá bỏ việc
bạc và say rợu bê tha; pháp lệnh sử lý vi phạm hành chính trong đó quy định rõ
đối tợng và thủ tục đa ngời nghiện đi cai nghiện ma tuý. Nghị định số 49/CP
14
ngày 15/8/1996 quy định việc xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm
quy định về kiểm soát ma tuý. Đặc biệt, sau khi Quốc hội Ban hành Luật phòng
chống ma tuý, Chính phủ đã ban hành gần 20 bản Nghị định, Quyết định hớng
dẫn thi hành Luật phòng chống ma tuý. Ngày 10/3/2005 Thủ tớng Chính phủ đã
ra quyết định số 49, phê duyệt kế hoạch tổ thể phòng chống ma tuý đến năm
2010.
- Chơng trình hành động phòng chống ma tuý giai đoạn 2005 -2010 (Ban
hành kèm theo quyết định số 49/2005/QĐ-TTg ngày 10/3/2005 của Thủ tớng
Chính phủ) xây dựng và triển khai các đề án phòng chống ma tuý. Ví dụ nh:
Đề án 1: Thông tin, tuyên truyền giáo dục phòng chóng ma tuý.
Đề án 2: Xoá bỏ và thay thế việc trồng cây có chất ma tuý.
Đề án 3: Đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý và kiểm soát chất ma
tuý. Đồng thời yêu cầu các ban hành cùng cấp liên quan thực hiện phòng chống
ma tuý tại cộng đồng.
Nội dung cơ bản của các văn bản trên đã nói rõ Đảng và Nhà nớc ta coi giải
quyết vấn đề xoá bỏ tệ nạn ma tuý là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và phải
sử dụng nhiều giải pháp kinh tế, xã hội, hành chính, giáo dục, pháp luật nhằm
kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn ma tuý ở nớc ta, khu vực Đông
Nam á và Thế giới.
3/ Tác hại của tệ nạn mại dâm, HIV/AIDS với lứa tuổi thanh thiếu niên
và xã hội.
3.1. Cơ sở pháp lý.
1. Nghị quyết số 46-NQ-TW ngày 23/2/2005 của Bộ chính trị về "Công tác
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới".
2. Chỉ thị số 54-CT/TW ngày 30/11/2005 của Ban Bí th Trung ơng Đảng về
- Thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi giúp mọi ngời hiểu
biết đúng hơn về HIV/AIDS, làm giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử với ngời
nhiệm HIV và những ngời bị ảnh hởng bởi HIV/AIDS trong cộng đồng.
- Thông tin,g iáo dục và truyền thông thay đổi hành vi góp phần nâng cao
trách nhiệm và sự quan tâm của các cấp, các ngành, thu hút d luận xã hội ủng hộ
cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, duy trì bền vững những thành quả
đã đạt đợc.
- Thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi góp phần định hớng
cho mọi ngời thực hiện pháp luật và các chính sách về phòng, chống HIV/AIDS,
kết nối và thúc đẩy các dịch vụ về dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc, hỗ trợ và
điều trị cho ngời nhiễm HIV và các dịch vụ hỗ trợ về kinh tế xã hội khác, tạo
môi trờng thuận lợi cho mọi ngời duy trì việc thực hiện các hành vi an toàn.
3.2.2. Kiến thức, thái độ và hành vi phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
rất cần đợc tiếp tục nâng cao.
Thời gian qua, dới tác động của công tác thông tin, giáo dục và truyền
thông thay đổi hành vi, nhận thức của ngời dân về dự phòng lây nhiễm
HIV/AIDS ở nớc ta đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên nhiều nghiên
cứu cho thấy nhận thức của ngời dân về HIV/AIDS nhìn chung vẫn cha cao và
đặc biệt mức độ thay đổi hành vi, thực hành hành vi an toàn vẫn còn ở mức độ
hạn chế. Ví dụ, nghiên cứu "Lợng giá nguy cơ nhiễm HIV/AIDS ở nhóm thanh
niên 12-24 tuổi tại 7 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Phớc, Bình Dơng,
Long An, Sóc Trăng" (Trờng Đại học Y Hà Nội tiến hành năm 2002) cho thấy, có
tới 35,3 65,9% thanh niên nêu sai ít nhất 1 trong 3 biện pháp phòng lây nhiễm
16
HIV. Tỉ lệ thanh niên dùng bao cao su trong lần quan hệ tình dục đầu tiên tơng
đối thấp (từ 13,3 46,9%). Số thanh niên có quan hệ tình dục với nữ bán dâm
trong 12 tháng qua chiếm tỉ lệ từ 4,8 11,2%, và chỉ có khoảng 1/3 - 2/3 số họ
sử dụng bao cao su thờng xuyên trong mỗi lần mua dâm.
mỗi khu vực này, số trờng hợp nhiễm HIV/AIDS đã tăng lên xấp xỉ một triệu ngời trong giai đoạn từ năm 2003 2006.
17
Tại Châu á, các nớc Campuchia, Thái Lan và Myanma đợc đánh giá là
những nớc có tỉ lệ nhiễm HIV cao nhất trong khu vực, tiếp theo là Indonesia,
Nepal, Việt Nam, TrungQuốc. Đến cuối năm 2005, tại Châu á ớc tính có khoảng
8,3 triệu ngời nhiễm HIV đang còn sống.
3.3.2. Tại Việt Nam
Tính đến hết ngày 31/10/2006, cả nớc đã phát hiện đợc 114.367 ngời nhiễm
HIV, trong đó có 19.695 ngời chuyển sang AIDS và trên 11.468 trờng hợp đã tử
vong do AIDS.
- Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam hiện vẫn tập trung chủ yếu trong các nhóm
ngời có hành vi nguy cơ cao, nh nhóm tiêm chính ma tuý (TCMT), nhóm nữ bán
dâm (NBD).Trong tổng số ngời mới nhiễm HIV đợc phát hiện trong năm 2005
có 52,7% là ngời TCMT và 2,65% là NBD. Đặc điểm này cho thấy, trong những
năm tới, việc ngăn chặn lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT, nhóm NBD vẫn tiếp
tục có ý nghĩa quan trọng trong các nỗ lực nhằm khống chế dịch HIV/AIDS ở
Việt Nam.
- Nam giới hiện chiếm 85,19% và nữ giới chiếm 14,81% tổng số ngời
nhiễm HIV đợc phát hiện. Tuy nhiên, theo số liệu ớc tính của Bộ Y tế Việt Nam,
tại thời điểm cuối năm 2005, ở Việt Nam đã có khoảng 262.000 ngời nhiễm
HIV, trong đó có 176.000 nam giới và 86.000 nữ giới. Nh vậy, tỷ lệ nữ trong số
ngời nhiễm HIV ở Việt Nam có thể lên tới 32,82%. Đây là điều đáng lu ý, vì nó
vừa là chỉ báo về nguy cơ lây truyền HIV qua đờng quan hệ tình dục khác giới,
vừa là bằng chứng cần thúc đẩy hơn nữa các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
hớng vào phụ nữ.
- Khoảng 95% các trờng hợp nhiễm HIV/AIDS đợc phát hiện ở Việt Nam
nằm trong độ tuổi từ 15-49, trong đó nhóm tuổi 20-29 hiện chiếm 55% và nhóm
vị thành niên (từ 10-19 tuổi) chiếm 8,3%. Điều này cho thấy thanh thiếu niên
tăng cờng lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong hình hình mới. Chỉ
thị đã yêu cầu các cấp uỷ Đảng tăng cơng flãnh đạo công tác phòng, chống
HIV/AIDS đặc biệt nhấn mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông để
nâng cao nhận thức thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS của các cấp uỷ
Đảng và mỗi ngời dân.
+ Ngày 17/3/2004, Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Chiến lợc quốc gia
phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, trong đó
thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành là một trong các chơng trình
hành động quan trọng để thực hiện thành công chiến lợc.
Các văn bản này đã tạo ra cơ sở pháp lý cho công tác thông tin, giáo dục và
truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS.
b. Các hoạt động chuyên môn.
Hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng,
chống HIV/AIDS trong những năm qua đã đợc triển khai trên diện rộng với sự
tham gia của hầu hết các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội và của
quần chúng nhân dân. Công tác truyền thông đợc thực hiện dới nhiều hình thức,
đa dạng, phong phú về nội dung và kết quả đã nâng cao đợc hiểu biết của ngời
dân về công tác phòng, chống HIV/AIDS.
Hàng năm, tất cả các tỉnh, thành và các Bộ, Ngành đã tổ chức tốt hai tháng
chiến dịch truyền thông nhân Ngày ban hành Pháp lệnh phòng, chống HIV/AIDS
(31/5) và ngày thế giới phòng, chống HIV/AIDS (1/12).
Triển khai nhiêu lớp tập huấn về chuyên môn kỹ thuật, tổ chức nhiều buổi
giao ban, sinh hoạt khoa học cũng nh các hội nghị, hội thảo, tổ chức nhiều loại
19
hình truyền thông nh giáo dục đồng đẳng, phân phát tờ rơi, áp phích, in ấn, sách,
xây dựng panô, ghi băng video cassette và nhiều loại tài liệu khác. Các tỉnh cũng
đã triển khai đều đặn các buổi giao ban, sinh hoạt khoa học và tổ chức nhiều lớp
tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tham gia công tác quản lý, đồng
thức và chất lợng. Hoạt động truyền thông cha triển khai một cách sâu rộng và
đồng bộ tới cộng đồng, nhất là ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng
bào dân tộc.
20
- Công tác tuyên truyền, giáo dục cha tạo đợc sự gắn kết chặt chẽ thờng
xuyên giữa công tác phòng, chống HIV/AIDS với các phong trào, các cuộc vận
động quần chúng.
- Nhận thức của ngời dân về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS tuy có đợc
nâng lên nhng thực hành các hành vi an toàn còn thấp và hiểu biết sai còn khá
cao (điều tra trên nhóm thanh niên từ 15 24 tuổi tại 5 tỉnh cho thấy tỉ lệ trả lời
sai về đờng lây truyền HIV là 28,3%). Việc thay đổi hành vi còn ở mức độ thấp
(ngời nhiễm HIV sau khi bị nhiễm HIV vẫn tiếp tục quan hệ tình dục với gái bán
dâm là 21,7% và sử dụng bao cao su chỉ là 61,3).
- Công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi mới đề cấp
chủ yếu đến quyền của ngời nhiễm HIV mà ít đề cấp đến trách nhiễm và nghĩa
vụ của ngời nhiễm HIV với gia đình và cộng đồng.
- Sự kết nối giữa truyền thông thay đổi hành vi với các chơng trình, dự án
các dịch vụ có liên quan, tổ chức phi chính phủ cha chặt chẽ và thiếu đồng bộ
nên hiệu quả chao.
- Cha có một cách tiếp cận sâu sắc và có hiệu quả với nhóm đối tợng có
hành vi nguy cơ cao nh nhóm ngời bán dâm và nhóm ngời tiêm chích ma tuý.
- Cha có tài liệu thống nhất đào tạo về truyền thông thay đổi hành vi phòng,
chống HIV/AIDS cho mạng lới truyền thông viên.
- Cha xây dựng đợc bộ tài liệu truyền thông mẫu cho từng nhóm đối tợng,
do vậy các tổ chức vẫn tự phát triển các loại tài liệu truyền thông một cách tự do,
thiếu định hớng dẫn đến không đảm bảo chất lợng và lãng phí nguồn lực.
21
hội năm 2009.
2.1. Công tác chỉ đạo.
Xác định công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS là một nhiệm vụ
quan trọng của công tác Đoàn, góp phần nâng cao nhận thức thay đổi thái độ
hành vi của thanh thiếu niên trớc đại dịch AIDS; hàng năm Ban Thờng vụ Thành
Đoàn đã xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động tuyên truyền phòng chống
22
HIV/AIDS; đồng thời, chỉ đạo BTV Đoàn các cơ sở chủ động xây dựng nội
dung, chơng trình hoạt động phù hợp với đặc thù địa phơng, đơn vị để triển khai
thực hiện đạt hiệu quả cao.
Chỉ đạo lồng ghép các chơng trình phòng chống tệ nạn xã hội, chống ma
tuý, HIV/AIDS với thực hiện Cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hoá
trên địa bàn dân c, chú trọng xây dựng và phát triển mô hình hoạt động, giáo dục
tại cộng đồng.
Với phơng châm hớng về cơ sở, đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả; Ban Thờng vụ Thành Đoàn đã giao ban truyền giao trực tiếp tham mu tổ chức hoạt
động, bố trí cán bộ hớng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng tổ chức hoạt động tuyên truyền
cho các cơ sở Đoàn. Nhờ đó, công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS
hàng năm đó nâng cao cả về số lợng và chất lợng, nhất là trong đợt cao điểm
tháng 12.
Kết quả công tác tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS đợc bTV Thành
đoàn xác định là một tiêu chí quan trọng để xếp loại tổ chức cơ sở Đoàn hàng
năm; đồng thời, có biện pháp nhằm biểu dơng, động viên các cá nhân, tập thể đạt
thành tích cao trong các hoạt động tuyên truyền.
2.2. Công tác tuyên truyền giáo dục:
Đoàn TN thành phố thờng xuyên chỉ đạo tổ chức các hoạt động tuyên
truyền giáo dục phòng chống HIV/AIDS trên các phơng tiện thông tin của tổ
chức Đoàn, phát băng catset trên hệ thống phát thanh địa phơng, các bản tin, tờ
rơi... chú trọng ở địa bàn xã, phờng, thị trấn. Bên cạnh những nội dung cơ bản
niên thành phố... nhằm nâng cao nhận thức cho đoàn viên thanh niên và là tài
liệu sinh hoạt chi đoàn, các hoạt động truyền thông tại cơ sở về công tác phòng
chống các tệ nạn xã hội mà đặc biệt là công tác phòng chống HIV/AIDS.
Hởng ứng ngày Thế giới phòng chống AIDS (1/12), các cơ sở Đoàn đó
đồng loạt tổ chức 243 buổi truyền thông thu hút trên 37.000 lợt ĐVTN và quần
chúng nhân dân tham gia. Phát hành 85.000 tờ rơi tuyên truyền về phòng chống
ma tuý, HIV/AIDS, giáo dục sức khoẻ sinh sản, cách phòng tránh các bệnh lây
truyền qua đờng tình dục cho ĐVTN. Các mô hình hoạt động nh Câu lạc bộ CLB
t vấn chăm sóc sức khẻo sinh sản vị thanh niên xã Kiến Thiết huyện Tiên
Lãng, CLB thanh niên nhà trọ phờng Sở Dầu quận Hồng Bàng... đã thu hút đợc đông đảo hội viên tham gia.
Thông qua chuyền trang Tuổi trẻ Hải Phòng trên báo Hải phòng cuối tuần,
Website của Thành Đoàn Hải Phòng, BTV Thành Đoàn đó phổ biến nhiều nội
dung quan trọng của pháp lệnh dân số, Luật hôn nhân và gia đình, kỹ năng sống,
sức khoẻ sinh sản vị thành niên... hàng thông phát hành 5.500 số tới 100% chi
đoàn dân c trên địa bàn thành phố.
2.3. Công tác xây dựng, duy trì và phát triển hoạt động của các mô hình
can thiệp tại cộng đồng.
Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IV,
Nghị quyết Đại hội Đoàn thành phố lần thứ XI, trong những năm qua đoàn viên
thanh niên trong thành phố đã tập trung triển khai phong trào "4 đồng hành với
thanh niên trên con đờng lập thân lập nghiệp" với nội dung "Đồng hành với
thanh niên trong nâng cao sức khoẻ thể chất và đời sống văn hoá tinh thần",
nhiều cơ sở Đoàn thể hiện tính chủ động, sáng tạo trong các hoạt động tuyên
truyền.
24
100% các quận, huyện Đoàn đó tập trung chỉ đạo việc xây dựng và thành
lập các mô hình CLB tuyên truyền. Toàn thành phố hiện có trên 50 CLB tuyên
truyền phòng chống ma tuý, HIV/AIDS của ĐVTN trên địa bàn dân c. Đây
Tổ chức tuyên truyền lu động phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm,
HIV/AIDS đợc 8 buổi tại một số điểm bức xúc nh phờng Máy Chai (quận Ngô
Quyền), phờng Văn Đẩu (quận Kiến An), thị trấn An Lão (huyện An Lão), phờng D Hàng Kênh (quận Lê Chân); phát 12.000 tờ rơi, 500 áp phích, 1250 cuốn
cẩm nang tuyên truyền phòng chống ma tuý tại các lễ mít tinh, ra quân, các buổi
25