Giải pháp đối mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực thuộc Bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Pdf 33

4

21

3

Bộ GIẢO
DỤCƠN
VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CẢM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Với tình cảm chân thành, xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng
Đào tạo Sau đại học, Khoa Quản lý Giáo dục, Phòng Quản lý Khoa học-Thiết
bị trường Đại học Vinh, Ban Giám hiệu trường Đại học Sài gòn, quý thầy
ĐỖdạy,
HỮU
TUYẾT
giáo, cô giáo đã tận tình giảng
giúp
đỡ, cung cấp tài liệu và hướng dẫn
tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện
hỗ trợ giúp đỡ; lãnh đạo cùng cán bộ quản lý Phòng ban chức năng các trường
Đại học Sư phạm, Đại học Kinh tế, Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Đại học Luật,
Đại Sư phạm TDTT, Đại học Mở, Đại học Nông Lâm, Cao đẳng Sư phạm
Trung ương tại Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi được điều tra, khảo
sát để có dữ liệu viết luận văn. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến PGS.TS.Thái Văn Thành, người hướng dẫn khoa học đã quan tâm,
tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.



Trang


5

Chương 2

Thực trạng công tác quản lý và đối mới cơ chế quản lý

36

2.4

49


6

3.2.6

Giải pháp xây dựng cơ chế cho các trường đại học

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

97


7


8

tác động đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ, góp phần quan
trọng vào sự tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia,
quốc phòng và hội nhập quốc tế thắng lợi. Rõ ràng là sau khi Chiến lược phát
triển giáo dục được triển khai thực hiện từ năm 2001 đến năm 2010, giáo dục
đại học nước ta đã có sự khởi sắc, phát triển, huy động nhiều hơn các nguồn
lực xã hội và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Tuy vậy, trong quá trình phát triển giáo dục đại học cũng đã bộc lộ
nhiều hạn chế và yếu kém như hệ thống văn bản pháp quy phục vụ quản lý
giáo dục đại học vừa thiếu vừa không đồng bộ và không theo kịp thực tiễn.
Đặc biệt, kỷ cương trong quản lý chưa nghiêm. Việc quản lý giáo dục đại học
bị phân tán, có quá nhiều đầu mối. Việc phân cấp, phân công lại chậm trễ; vấn
đề xử lý công việc hành chính đối với các cơ sở giáo dục đại học, những đánh
giá chỉ mang tính định tính, bình quân và thiếu tính khuyến khích ... Nguyên
nhân căn bản, sâu xa của các yếu kém của hệ thống giáo dục đại học chính là
sự yếu kém trong quản lý nhà nước về giáo dục đại học và yếu kém trong
quản lý của bản thân các trường đại học, cao đắng. Đây là hai nguyên nhân cơ
bản làm cho công tác quản lý nhà nước về giáo dục chưa được như mong
muốn, dẫn đến chất lượng đào tạo đại học còn thấp và chưa theo kịp với thực
tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiện nay giáo dục đại học đang
đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu phát triển toàn diện về quy mô, đa
dạng về loại hình với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Việc đối
mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý đối với giáo dục đại
học là một yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần đối mới căn bản, toàn diện sự
nghiệp giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triên nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đúng như Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khăng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách


Vấn đề đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực thuộc

Bộ GD-ĐT.


10

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp đối mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực
thuộc Bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
4. Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý có cơ sở khoa
học và có tính khả thi thì có thể nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý các
trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại thành phố Hồ Chí Minh
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cúu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài.

- Đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công
lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại thành phố Hồ Chí Minh.
5.2. Phạm vi nghiên cúu:

Đe tài nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi các trường cao đăng và
đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Hồ Chí


Chương 2. Thực trạng quản lý và đổi mới cơ chế quản lý các trường đại
học công lập trực thộc Bộ Giáo dục - Đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 1

cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ ĐỐI MỚI cơ CHÉ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG


13

1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN cứu VẤN ĐÈ

1.1.1.

Các nghiên cúu ngoài nước

1.1.1.1.

GDDHỞHoaKỳ

GDĐH Hoa Kỳ là một hệ thống GDĐH đồ sộ, đa dạng và phức tạp
nhất thế giới. Nếu chưa thâm nhập lâu dài vào nền GDĐH nước này, người ta
sẽ khó hiểu biết sâu sắc về nó. Đế có thể học tập những gì từ hệ thống này
nhằm áp dụng vào phục vụ quản lý GDĐH Việt Nam cần phải hiểu được
những đặc trưng quan trọng nhất, bản chất nhất của nền GDĐH Hoa Kỳ qua
lịch sử phát triển và hiện trạng của nó.

Đặc điểm cơ bản nhất và rất riêng biệt của nền đại học Hoa Kỳ là vai
trò quản lý trực tiếp mờ nhạt của nhà nước và quyền tự chủ các trường được

tạo của học chế tín chỉ của Mỹ.

- Chính sách thu hút nhân tài: Các đại học ở Hoa kỳ tuyển sinh rất chặt
chẽ, thu hút học sinh giỏi trên thế giới thông qua học bống và sau khi học
xong nếu xuất sắc thì thu hút ở lại trường (không ít người được giải thưởng
Nobel tuy thuộc quốc tịch Hoa Kỳ nhưng vốn là người nhập cư). Đây là hiện
tượng mà người ta gọi là “chất xám của thế giới chảy về Hoa Kỳ”.

-

GDĐH ở
Anh


15

Mô hình giáo dục đại học ở xứ sở sương mù được nêư lên như một tấm
gương sáng về một hệ thống giáo dục bậc cao được hưởng sự tự trị về thể chế
rất rộng rãi. Trước năm 1992, Nhà nước quản lý các trường đại học thông qua
việc ban hành, kiểm soát thi hành điều lệ và cấp phát tài chính. Các trường đại
học ở đây thực hiện cơ chế quản lý dựa vào hai Hội đồng là, Hội đồng điều
hành và Hội đồng học thuật và hoàn toàn có quyền sử dụng kinh phí đã được
cấp mà không có sự can thiệp hay kiểm tra của nhà nước. Sinh viên ở đây bắt
buộc phải ở trong ký túc xá, hợp thành một cộng đồng sinh hoạt và học tập
dưới sự quản lý của nhà trường. Tuy nhiên, hạn chế của giáo dục đại học ở
Anh so với các nước khác chi phí trung bình 15.000 USD một năm đối với
một sinh viên là quá cao, chỉ có những gia đình khá giả mới có khả năng chi
trả khoản tiền khổng lồ này. Hiện nay, có thế thấy rằng, giáo dục đại học ở
Anh dường như chỉ mở cửa đối với tầng lớp giàu có ở trong và ngoài nước.
1.1.1.2.

Mô hình giáo dục đại học Đức do Ưyn-hem Vôn Hăm-bôn sáng lập từ
thế kỷ XIX với mục đích xây dựng những trung tâm nghiên cứu đại học hiện
đại để “đây lùi những biên giới của kiến thức”. Mô hình này không coi trọng
sự can thiệp của chính trị và quyền lực nhà nước đối với giáo dục đại học. Nó
đảm bảo tính độc lập, tự quyết của các trường đại học và quyền tự do của các
thành viên được theo đuổi việc nghiên cứu mà không có sự can thiệp của
chính quyền. Chính phủ liên bang và các bang chỉ có quyền hạn quản lý một
phần công việc của các trường đại học, thông qua việc cấp phát tài chính và
qua Hội đồng đại học đê bàn bạc đánh giá công việc của các trường. Các
trường đại học ở Đức có toàn quyền tuyển dụng, trả lương và thưởng-phạt
nhân sự của mình.
1.1.1.4.
GDĐHỞNhật Bản

Nhật Bản đã chú trọng xây dựng một nền GDĐH hiện đại ngay từ
những năm 1950. Hiện nay, Nhật bản đã bước vào giai đoạn đại chúng hóa
GDĐH với tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học bậc cao vào các trường cao
đẳng, đại học khoảng 60% (2009). Trong các kỳ đánh giá của khối OECD về
chất lượng giáo dục đã phần nào cho thấy tính đúng đắn và hiệu quả của các
chính sách phát triển GDĐH của Nhật bản trong nhiều thập kỷ qua.


17

Hệ thống GDĐH mới, hiện đại của Nhật Bản được hình thành từ sau
khi kết thúc Thế chiến thứ II theo mô hình Mỹ (America model) với hệ thống
đào tạo 4 cấp ở bậc đại học: Cao đăng, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Đen nay,
Nhật Bản đã có hơn một nghìn trường đại học và cao đẳng với hơn 3 triệu
sinh viên trong đó phần lớn là ở loại hình trường tư.
* Bài học kinh nghiệm:

- Chú trọng phát triển các truờng đại học đa ngành, đa lĩnh vực nhưng
phải tổ chức, sắp xếp lại hợp lý đồng thời tăng cường giao quyền tự chủ,

tự chịu trách nhiệm cho họ.

- Nâng cao vai trò của các tố chức chuyên môn, tố chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức đánh giá độc lập trong đánh giá và kiêm
định chất lượng GDĐH thông qua đánh giá 3 bên.

- Tăng cường liên kết với đại học quốc tế (mời giáo sư sang nghiên
cứu và giảng dạy, quốc tế hóa chương trình đào tạo, liên kết đào tạo...)
1.1.1.5.
Quản lý giáo dục đại học Thái Lan

Chỉ trong vòng 50 năm phát triển, Thái Lan đã có một hệ thống GDĐH
tương đối hoàn chỉnh. Một số ĐH Thái Lan đã trở thành những trung tâm giáo
dục có uy tín ở châu A, thu hút được nhiều sinh viên nước ngoài đến học.

Trong công cuộc cải cách GDĐH, Uỷ ban Điều hành Cải cách GDĐH
được thành lập với người đứng đầu là một Phó Thủ tướng. Ưỷ ban chịu trách
nhiệm ra các quyết định liên quan đến định hướng của cải cách giáo dục, xây
dựng kế hoạch làm việc cũng như giám sát việc thực hiện các giải pháp cải
cách kế cả hình thành chiến lược cần thiết. Đế tạo điều kiện cho sự hoạt động

tố chức


19

Bài học kinh nghiệm: Tổng quan về cách thức và nội dung chương



20

2. Chính phủ luôn có cơ chế, chính sách quản lý và quan tâm đến hoạt
động giáo dục đại học thông qua chính sách đầu tư ngân sách, phân quyền
quản lý cho địa phương, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho cơ sở,
đa dạng hóa hoạt động giáo dục đại học đáp ứng thiết thực mục tiêu đào tạo
nguồn nhân lực.

3. Giáo dục đại học luôn là nội dung chính trong các cuộc cải cách
giáo dục hoặc các chiến lược phát triển giáo dục của các nước, trong đó yếu tố
con người và yếu tố tài chính luôn luôn được đề cập.
1.1.2.

Các nghiên cứu ở trong nước

1.1.2.1.

Thời kỳ trước đôi mới

* Giai đoạn trước 1975 ở miền Bắc

Vào năm 1070 Vua Lý Thánh Tông đã thành lập Văn Miếu tại Thủ đô
Thăng Long (Hà Nội). Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075. Đến
thời Vua Lý Nhân Tông, “Quốc Tử Giám” được thành lập để con vua và con
các đại thần học. Đây là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam với hơn 4000
năm văn hiến.

Vào năm 1902, hệ Đại học được thiết lập đầu tiên ở Việt Nam khi Pháp

Trường Đại học Y khoa Hà Nội: trước thuộc Viện Đại học Hà Nội
nhưng theo nghị định năm 1956 thì tách riêng. Trường Y khoa bị cắt khỏi Bộ
Giáo dục và chuyển sang Bộ Y tế và học trình rút bỏ từ bảy năm thành sáu
năm. Ngoài ra Bộ Y tế mở một chương trình hai năm học bắt đầu từ năm
1960 ở Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hà
Nam, Hà Đông và Phú Thợ đê đào tạo hàng ngàn y sĩ trung cấp trong khi học


22

trình bác sĩ y khoa rút xuống còn bốn năm. Việc này diễn ra được hai năm
nhưng vì thấy không hiệu quả nên sau đó lại trở lại học trình sáu năm cho y
khoa.

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội: thành lập năm 1956, có 9 khoa với
khoảng 30-40 ngành học.

Trường Đại học Tống hợp Hà Nội: thành lập năm 1956, tập trung vào
các ngành khoa học cơ bản. Năm 1993, trường này sáp nhập với Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội để
hình thành Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội: thành lập năm 1951, ban đầu với tên
gọi Trường Đại học Sư phạm Khoa học (1951-1956), sau đó là Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (19661993), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1993-1999) thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội và trở lại tên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 10 năm
1999.

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội: thành lập năm 1956. Các tên
gọi khác: Học viện Nông Lâm (từ 1958), Trường Đại học Nông nghiệp (từ

trường XHCN. Hệ thống trường đại học miền Nam cũ được tổ chức lại thành
15 trường đại học đó là: Đại học Sư phạm TPHCM; Đại học Bách khoa
TPHCM; Đại học Kinh tế TPHCM; Đại học Sư phạm kỹ thuật TPHCM; Đại
học Tổng hợp Huế; Đại học Bách khoa Đà Nang: Đại học cần Thơ; Đại học
Đà Lạt; Đại học Nông-Lâm TPHCM; Đại học Kiến trúc TPHCM; Đại học Sư
phạm Huế; Đại học Y Huế; Đại học Y-Dưọc TPHCM; Đại học Thuỷ sản Nha
Trang; Đại học Tây Nguyên.


24

Tính đến năm 1977-1978 cả nước có 50 trường đại học và 20 trường
cao đẳng. Mô hình quản lý giáo dục theo mô hình quản lý tập trung cao ở
Chính phủ và Bộ Giáo dục. Quy mô đào tạo các trường theo chỉ tiêu kế hoạch
Nhà nước giao. Tổ chức quá trình đào tạo từ kế hoạch học tập, tuyến sinh, chế
độ học bống, phân công công tác đều do kế hoạch của Nhà nước. Mục tiêu
đào tạo chủ yếu là cung cấp cán bộ biên chế Nhà nước và cho biên chế của
hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.

Việc tổ chức thi tuyên sinh cũng được tiến hành thống nhất theo kế
hoạch: Ngày thi được qui định chung trong toàn quốc, mỗi thí sinh được thi
một trường đại học và có ba khối thi A, B, c để thí sinh lựa chọn. Bộ Giáo
dục quản lý thống nhất các khâu ra đề thi, chỉ đạo chấm thi, thông báo kết
quả.

Năm 1976, lần đầu tiên một Luận án Phó Tiến sĩ đã được bảo vệ thành
công trong nước, đánh đấu một bước phát triển mới về chất của giáo dục đại
học Việt Nam. Hệ đào tạo sau đại học, đào tạo Phó tiến sĩ theo mô hình của
Liên Xô (cũ) chính thức được hình thành trong hệ thống giáo dục quốc dân
nước ta.


Thực hiện chính sách mới về đóng học phí. Năm học 1987-1988 lần
đầu tiên áp dụng việc thu học phí đối với hệ đào tạo không chính quy (tuyển
sinh ngoài chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao).

Tổ chức lại quy trình đào tạo, thực hiện quy trình đào tạo hai giai đoạn
đáp ứng mục tiêu đào tạo theo diện rộng (mở rộng kiến thức cơ bản), với chế
độ học phí mềm dẻo theo nguyên tắc người học tích luỹ kiến thức, tăng tính
chủ động và phát huy sở trường cá nhân.

Đổi mới việc lựa chọn cán bộ quản lý thông qua việc thăm dò tín


26

Từ những năm 1990 của thế kỷ XX, giáo dục đại học Việt Nam đã có
những bước chuyển biến rất căn bản.
1.2. MỘT SỚ KHÁI NIỆM cơ BẢN
1.2.1.

Trường đại học công lập

1.2.1.1.

Trường đại học

Trường đại học (tiếng Anh: Ưniversity) là một cơ sở giáo dục bậc cao
tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng
học tập tiếp lên trên. Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và
cấp các bằng cấp khoa học trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Các


Quản lý, quản lý giáo dục và cơ chế quản lý

1.2.2.1.

Quản lý

Quản lý là một hoạt động đặc trưng bao trùm lên mọi mặt đời sống xã
hội, là công việc vô cùng quan trọng, nhưng rất khó khăn và phức tạp. Sở dĩ
như vậy, vì công tác quản lý hên quan đến nhân cách của nhiều cá nhân trong
tập thể xã hội, liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm và cuộc sống
của mỗi một con người.

Thực tế khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực

khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Do đối tượng quản lý rất đa
dạng, phong phú, phức tạp, tùy thuộc tìmg lĩnh vực hoạt động cụ thê và ở mỗi
giai đoạn phát triển xã hội khác nhau cũng có quan niệm khác nhau, nên định
nghĩa về quản lý cũng có sự khác nhau:

- Theo Từ điên Bách khoa Việt Nam “ Quản lý là chức năng và hoạt động


28

khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [3; tr 6 ].

- Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ): Quản lý là chức năng của hệ
thống có tổ chức với những bản chất khác nhau ( Kĩ thuật, sinh vật, xã hội);


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status