LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của xã
hội hiện đại. Sự phát triển của công nghệ thông tin trong mấy thập kỷ gần đây đã
làm biến đổi sâu sắc diện mạo của thế giới. Cùng với các ngành công nghệ khác,
công nghệ thông tin đã đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, mạnh mẽ mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Đối với Việt Nam, công nghệ thông tin mới đi sâu vào đời sống kinh tế, xã
hội khoảng hơn hai mươi năm nay, đã và đang thể hiện được vai trò quan trọng của
mình, đặc biệt trong một số lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Công nghệ thông
tin ngày càng thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng của nó trong điều kiện nước ta tiế
hành hội nhập kinh tế toàn cầu và đang bước vào thời kỳ “đẩy mạnh Công nghiệp
hóa- hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.
Cùng với sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới, công việc của
con người cũng ngày một phức tạp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã
hội, chính vì vậy một bài toán đặt ra là phải làm sao quản lý nhân sự một cách chặt
chẽ và hợp lý trong tất cả các ngành nghề như y tế, giao thông, quốc phòng… chứ
không chỉ riêng trong kinh doanh sản xuất.
Sau khi học tập và nghiên cứu bộ môn tin học chuyên ngành Quản trị nhân
lực, em đã chọn đề tài tiểu luận “Giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả
công tác triển khai, ứng dụng công nghệ trong tin trong quản trị nhân lực”, với
mong muốn đưa ra được những nhận định toàn diện về tình hình công tác triển
khai, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị nhân lực và đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.
Tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản trị nhân lực
Chương 2: Tình hình triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
quản trị nhân lực
Chương 3: Một số đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác triển
khai, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị nhân lực
lợi, nhanh chóng, chính xác thông qua hệ thống máy tính.
2
1.2. Sự cần thiết ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản trị nhân lực
1.2.1. Sự cần thiết
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản trị nhân lực đóng vai trò quan
trọng ở nước ta hiện nay. Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra sự cần thiết tất yếu
của sự thay đổi này
- Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nền kinh tế
thế giới đang biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, về chức năng, về phương
thức hoạt động. Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế thế
giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin – kinh tế tri
thức, nền văn minh loài người đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn
minh trí tuệ. Những công nghệ hiện đại như công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ tự động hóa, công nghệ năng lượng… ngày một tác động làm thay
đổi cách thức hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có hoạt động quản trị
nguồn nhân lực.
- Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định phải đầy mạnh CNH, HĐH để đến
khoảng năm 2020, nước ta về cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp, đồng thời
cũng xác định là chúng ta sẽ phải “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến,
hiện đại về khoa học và công nghệ, đặc biệt là tin học, tranh thủ ứng dụng ngày
càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu công nghệ hiện
đại và tri thức mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức”. do vậy, việc tin học hóa
các hoạt động Quản trị nhân lực là một công việc rất cần thiết.
- Nguồn nhân lực là một nguồn lực ngày càng được coi trọng, nguồn lực
cần được quan tâm, được đánh giá một cách đầy đủ. Tuy vậy, đây cũng là nguồn
lực thường xuyên có sự thay đổi và biến động. Vì vậy, mọi thông tin về nó cũng
cần được theo dõi một cách thường xuyên, cập nhật, đánh giá liên tục. Theo dõi,
của Quản trị nhân lực
Hoạch định nguồn nhân lực
Để có thể biết được hiện trạng và sắp tới bộ phận nào đang thiếu và thừa
nhân sự thì ngoài một cách bị động là báo cáo của các trưởng bộ phận, bộ phận
nhân sự cần có sự chủ động để có kế hoạch nhân lực giải quyết những tồn tại và
chuẩn bị nhân lực cho kế hoạch hàng quý, 6 tháng hay một năm tiếp theo.
Nếu làm theo phương pháp truyền thống sẽ mất nhiều thời gian, công sức,
nhưng với hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý nhân lực thì sẽ thống kê được một
cách nhanh chóng về mỗi bộ phận hiện tại đang đủ, thiếu hay dư nhân sự; từ đó so
sánh với chiến lược, kế hoạch của doanh nghiệp để biết hiện tại: thiếu nhân sự hay
đủ nhân sự nhưng thiếu kỹ năng? Nếu dư thì có thể thuyên chuyển công việc khác
đến bộ phận đang thiếu không? ….nhờ đó sẽ có hoạch định nhân lực phù hợp với
chiến lược, kế hoạch, nguồn lực của doanh nghiệp trong thời gian tới.
Thiết kế công việc
4
Hiện nay việc thiết kế công việc được coi là một phần quan trọng trong
quản trị nhân lực, vì đây là tiêu chuẩn mô tả cho người làm việc biết phải làm gì và
đạt đến đâu. Nhưng nếu lưu trữ và triển khai bằng phương pháp thủ công thì có khi
rất nhiều bản thiết kế mà không biết bản nào chuẩn, có khi sửa thiết kế rồi nhưng
khi phát đi lại là bản cũ,…
Còn khi có ứng dụng CNTT thì bản thiết kế cho mỗi phòng ban, mỗi
công việc đặc thù là duy nhất. Vì vậy, theo lịch trình triển khai, khi cần thiết như
tuyển dụng, đào tạo, …chỉ cần chuyển cho trưởng bộ phận, người có trách nhiệm
sửa đổi bổ sung những tiêu chí, mô tả chưa phù hợp; và sau khi thống nhất thì cập
nhật vào cơ sở dữ liệu là hoàn chỉnh và được sử dụng cho đến khi có bản sửa đổi
tiếp theo. Với tiện ích này, vừa không mất công tìm kiếm, mất thời gian rà soát
những bản không cần thiết, mà còn thống nhất được nội dung, mục tiêu của công
tác quản trị nhân lực trong doanh nghiệp.
1.2.2. Mối quan hệ tin học- quản trị nhân lực
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản trị nhân lực rất cần
thiết và quan trọng, tuy nhiên nếu không có sự liên kết hợp lý, khoa học thì hai
chuyên ngành này chỉ tồn tại độc lập và không có sự hỗ trợ, trợ giúp cho nhau.
- Trước hết, muốn thực hiện được việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào
công tác quản trị nhân lực, cần phải có đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ về quản trị nhân lực và trình độ về Công nghệ thông tin (hay còn gọi là
IT) để tiến hành xây dựng nên các chương trình quản trị nhân lực trên máy tính
(phần mềm ứng dụng). Tuy nhiên, số lượng nhân sự có thể am hiểu cả hai lĩnh vực
là không nhiều, do vậy, có thể kết hợp những người có trình độ ở hai chuyên ngành
kết hợp nghiên cứu ứng dụng để xây dựng những phần mềm ứng dụng trong công
tác quản trị nhân lực. Sau khi xây dựng được phần mềm, tổ chức cần có người có
chuyên môn nghiệp vụ, hiểu được phần mềm, làm chủ và ứng dụng được phần
mềm đó trong xử lý công việc chuyên môn của mình. Nếu tổ chức không có nhân
sự nào có thể sử dụng phần mềm thì việc xây dựng hoàn toàn không có ý nghĩa.
- Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ quản trị nhân lực, tin học/ công nghệ
thông tin không thể thay thế cho con người, không thể thay thế cán bộ chuyên
trách công tác quản trị nhân lực hay cán bộ quản lý, lãnh đạo các cấp. Hệ thống
mạng, máy tính chỉ là phương tiện trợ giúp, công cụ tính toán, là tủ hồ sơ lưu trữ
thông tin cỡ lớn và là nơi thực hiện các lệnh in báo biểu chuyên nghiệp nhanh
chóng và tiện lợi hơn mà thôi. Nó chỉ có thể trợ giúp cho con người để thực hiện
nghiệp vụ nhanh hơn, chuyên nghiệp hơn mà không thể thay thế được cho họ. Trên
một khía cạnh khác ta có thể nói, nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, các khâu, các
thủ tục giải quyết, xử lý công việc có thể nhanh hơn. Từ đó, tổ chức có thể tiết
kiệm được thời gian lao động, tiết kiệm được nhân sự tham gia vào quá trình xử lý
6
công việc. Dù vậy, ta vẫn phải khẳng định tin học/ công nghệ thông tin không thể
thay thế được con người.
7
- Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong lĩnh vực
Quản lý nhân sự nói riêng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cả nước nói
chung. Tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ công nhân viên trong tất cả các tổ
chức được đào tạo về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc.
1.3.2. Vai trò của ứng dụng tin học trong quản trị nhân lực
• Đối với tổ chức
- Đảm bảo kho lưu trữ tư liệu lớn, cơ động, bảo mật
- Hỗ trợ tối đa cho quá trình xử lý công việc của các cấp quản lý, lãnh đạo:
o Hỗ trợ tìm kiếm thông tin nhanh, nhạy
o Nắm bắt thông tin về nguồn nhân lực của đơn vị mọi lúc, mọi nơi.
o Các lệnh giao dịch cũng có thể được thực hiện ngay cả khi không có
mặt tại đơn vị.
o Một số thủ tục được tự động hóa
o Một số giao dịch được tự động liên kết không phải di chuyển, đăng ký,
trực tiếp giao dịch
o Tự động, định kỳ nhắc việc
o Hỗ trợ thông báo, tuyên truyền chủ chương, chính sách lao động
o Các báo cáo được kết xuất một cách nhanh chóng, chính xác và không
sai sót.
- Tiết kiệm chi phí. Đảm bảo bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động
- Khẳng định tính chuyên nghiệp trong hoạt động của bộ phận quản trị riêng,
của tổ chức nói chung. Khẳng định sức mạnh, năng lực cạnh tranh, khả năng hội
nhập của tổ chức.
• Đối với Người lao động
- Có thể được phân quyền trong khai thác, cập nhật thông tin
8
9
thấy ngày càng có nhiều tổ chức, doanh nghiệp muốn ứng dụng các tiện ích của
công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động quản lý, sản xuất cũng như hoạt
động kinh doanh.
- Quá trình đổi mới đất nước đã tạo ra những tiền đề mới cho sự phát triển
khoa học- công nghệ thông tin của nước ta trong thời gian tới. Nền kinh tế nước ta
có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian qua là điều kiện thuận lợi để
tăng đầu tư cho phát triển CNTT, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng
dụng thành tựu CNTT trong nền kinh tế, nhất là trước sức ép về cạnh tranh trong
điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế.
- Trên thực tế hiệ nay ở Việt Nam, đã có rất nhiều Tổ chức, doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp thành công và đạt hiệu quả hơn khi ứng dụng CNTT vào các hoạt
động quản lý, sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, hội nhập với kinh
tế thế giới, nếu như tổ chức, doanh nghiệp nào chậm đổi mới, chậm cải tiến chu
phù hợp với xu thế phát triển chung, đơn vị đó sẽ bị tụt hậu và nguy cơ bị ra khỏi
cuộc ganh đua trên thị trường. Do đó, việc tin học hóa các nghiệp vụ quản lý đã trở
thành điều không thể thiếu đối với các đơn vị.
- Việc ứng dụng CNTT vào công tác quản trị nhân lực giúp tổ chức, doanh
nghiệp thu được nhiều lợi ích: Tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức hơn; hiệu
quả công việc cao hơn; doanh thu lợi nhuân cao hơn; đẩy nhanh tốc độ Công
nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Vì thế, việc ứng dụng CNTT vào quản trị nhân
lực có một cơ hội rất lớn trong xu thế phát triền hiện nay.
1.5.2. Những rào cản
- Nước ta là nước đang phát triển, trình độ Khoa học- Công nghệ thông tin
còn nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho mục tiêu tin
học hóa các nghiệp vụ quản lý còn sơ sài, chưa theo kịp các nước khác trên thế giới.
Do vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào Công tác Quản trị nhân lực tuy đã
được quan tâm đầu tư nhưng vẫn khá khiêm tốn so với một số quốc gia trong khu
CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
2.1. Những mặt đạt được
2.1.1. Về cơ sở vật chất phục vụ cho việc ứng dụng công nghệ thông tin
- Nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đều quan tâm, đầu tư
cho hệ thống trang thiết bị Công nghệ thông tin cơ bản như: trang bị hệ thống máy
tính để bàn, máy tính xách tay, máy in, máy fax, các máy móc kỹ thuật số hiện đại
phục vụ cho công việc.
Theo kết quả điều tra về tình hình ứng dụng công nghệ thông tin- truyền
thông (CNTT-TT) trong doanh nghiệp năm 2010 do Viện Tin học thuộc Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (TM&CN) Việt Nam tiến hành khảo sát tại
1560 doanh nghiệp trên cả nước, có 100% doanh nghiệp được trang bị hệ thống
11
các thiết bị công nghệ thông tin cơ bản phục vụ cho công việc, trong đó có một số
doanh nghiệp đầu tư máy móc cho bộ phận văn phòng, trung bình 2 người/1 máy.
- Tại một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn, việc ứng dụng CNTT vào quản lý
rất được chú trọng, bên cạnh những trang thiết bị cơ bản như hầu hết các doanh
nghiệp đều sử dụng, các công ty này còn đầu tư những thiết bị chuyên dụng phục
vụ cho các nghiệp vụ Quản trị nhân lực như: Máy chấm công điện tử, máy chấm
công bằng vân tay, cửa tự động nhận diện khuôn mặt, thẻ từ…
Ví dụ: Tại công ty B.O.T Cầu Phú Cường, khi đến làm việc tại Công ty, tất
cả Cán bộ công nhân viên phải thực hiện chấm công bằng thẻ cảm ứng tại máy
chấm công của Công ty được đặt tại cửa ra vào Văn phòng. Việc này nhằm đảm
bảo quyền lợi của toàn thể Cán bộ công nhân viên khi làm việc tại Công ty, cũng
như tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấm công hàng tháng được thuận tiện, chính
xác và nhanh chóng.
- Qua nghiên cứu, điều tra về tình hình ứng dụng công nghệ thông tin tại các
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (TM&CN) Việt Nam tiến hành khảo sát tại
1560 doanh nghiệp trên cả nước, Kết quả điều tra tổng hợp cho thấy, có khoảng
2/3 số doanh nghiệp được điều tra thường xuyên sử dụng các phần mềm soạn thảo
văn bản, phần mềm kế toán để hỗ trợ hoạt động kinh doanh, 58% số doanh nghiệp
có sử dụng kết nối mạng nội bộ, gần 90% doanh nghiệp có sử dụng Internet và
hơn 50% doanh nghiệp có ban lãnh đạo đã sử dụng email hàng ngày.
- Gần 90% doanh nghiệp có phần mềm quản lý công tác tài chính, kế toán,
theo dõi chi trả lương, quản lý tài sản
- Một số doanh nghiệp đã mua sắm phần mềm phục vụ cho lưu trữ số liệu,
thiết kế mẫu mã sản phẩm, kiểm tra chất lượng KCS; các doanh nghiệp có vốn
nước ngoài, hoặc gia công theo đơn đặt hàng của nước ngoài, nhất là doanh nghiệp
may mặc...đã ứng dụng CNTT trong thiết kế mẫu mã.
- Bên cạnh những phần mềm được sử dụng phổ biến thì hiện nay, rất nhiều
tổ chức, doanh nghiệp với đội ngũ nhân lực có trình độ cao về CNTT đã tự thiết
kế, xây dựng những phần mềm quản lý chuyên dụng cho Công ty mình mà không
cần sử dụng đến những phần mềm có sẵn trên thị trường. Đây là một tín hiệu rất
đáng mừng của việc ứng dụng CNTT vào Công tác quản trị nhân lực ở nước ta.
Một số Công ty tự xây dựng được phần mềm và hoạt động có hiệu quả như: Công
ty Cổ phần LICOGI 18.6, Công ty TNHH đầu tư và thương mại Việt Phát…
2.1.3. Xây dựng các Website, cổng thông tin giao dịch điện tử
- Đối với những tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn lớn, nhu cầu trao đổi thông
tin nhiều, số lượng nhân sự phải quản lý lớn, mô hình tổ chức bộ máy tương đối
phức tạp, việc xây dựng Website của công ty đã được triển khai và thu được nhiều
hiệu quả. Thông qua Website, mọi thông tin tuyển dụng, thông tin về Công ty, các
văn bản quản lý được truyền tải đến những người muốn quan tâm, tìm hiều về
Công ty đó.
- Hiện nay, một sốTổ chức, doanh nghiệp đã thiết kế, xây dựng Website cho
Công ty của mình và đăng tải nhiều thông tin hữu ích về các hoạt động của Công
13
hiện nay đang có trong tay những lãnh đạo tài năng, vừa có kỹ năng chuyên môn tốt
và kỹ năng CNTT vững vàng, mọi hoạt động Quản trị nhân lực đều được tin học
hóa, công tác ứng dụng CNTT cũng được quan tâm, đầu tư hơn.
- Số lượng nhân sự đảm nhiệm phụ trách Công nghệ thông tin của các tổ
chức, doanh nghiệp trong những năm gần đây đã liên tục gia tăng và ngày càng có
14
chỗ đứng trong doanh nghiệp. Điều này thể hiện quyết tâm và quan điểm đầu tư
cho ứng dụng CNTT vào quản lý của các tổ chức, doanh nghiệp.
2.1.5. Về bảo mật dữ liệu và an ninh mạng
- Do việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào Quản trị nhân lực luôn phải
đảm bảo công tác an toàn, bảo mật thông tin vì những thông tin quản lý đều rất
quan trọng và là “tính mạng” đối với mỗi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nên hầu
hết các doanh nghiệp khi sử dụng mạng Internet hoặc các phần mềm ứng dụng đều
chú ý đến công tác bảo vệ dữ liệu và thông tin. Song song với việc sử dụng mạng
thông tin nội bộ để gửi, nhận và lưu chuyển thông tin, các tổ chức doanh nghiệp
cũng đã chú trọng lắp đặt các hệ thống và công cụ bảo đảm an toàn, an ninh thông
tin trong quá trình trang bị cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho khai thác
và ứng dụng CNTT.
Theo kết quả điều tra về tình hình ứng dụng công nghệ thông tin- truyền
thông (CNTT-TT) trong doanh nghiệp năm 2010 do Viện Tin học thuộc Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (TM&CN) Việt Nam tiến hành khảo sát tại
1560 doanh nghiệp trên cả nước, 95% các doanh nghiệp thuộc diện khảo sát đã
cài đặt phần mềm diệt virus cho hệ thống máy tính tại cơ quan
- Về vấn đề bảo mật, 82% doanh nghiệp sử dụng hệ thống tường lửa, hệ
thống phát hiện, phòng chống truy cập trái phép, 90% cơ quản sử dụng phần mềm
quét, lọc thư rác trong hệ thống thư điện tử sử dụng tại cơ quan, 80% doanh nghiệp
sử dụng hệ thống an toàn dữ liệu trong mạng cục bộ như tủ/băng đĩa/SAN/NAS.
Nhận xét chung
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ phổ cập và sử dụng các ứng dụng CNTT của
các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ cũng như giữa các doanh nghiệp ở các
địa bàn hoạt động khác nhau là chưa đồng đều. Còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn
về nhu cầu và mức độ ứng dụng CNTT giữa các loại hình doanh nghiệp cũng như
giữa các vùng miền trên cả nước.
- Về vấn đề sử dụng phần mềm ứng dụng: Nhiều công ty hiện nay xảy ra
tình trạng vi phạm bản quyền khi sử dụng phần mềm lậu, gây ảnh hưởng tới uy tín
của tổ chức, doanh nghiệp và vi phạm pháp luật.
Tháng 4 năm 2012,Thanh tra Bộ VH-TT&DL vừa phối hợp với Cục Cảnh
sát Phòng chống Tội phạm sử dụng Công nghệ cao đã tiến hành kiểm tra việc tuân
thủ bản quyền phần mềm máy tính tại 4 doanh nghiệp lớn của Việt Nam liên doanh
với Đài Loan có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh và đã phát hiện giá trị phần mềm vi
phạm lên tới hơn 4 tỉ đồng. Trong số hơn 221 máy tính được kiểm tra tại 4 doanh
nghiệp này đã phát hiện một số lượng lớn phần mềm bất hợp pháp. Các phần mềm
sao chép chủ yếu là các phần mềm văn phòng thông dụng của Microsoft như
Microsoft Server, Window XP, Microsoft Office; các phần mềm của Lạc Việt như
từ điển Lạc Việt và phần mềm quản trị nhân lực Devsoft.HRM; các phần mềm
chuyên dụng cho thiết kế như: AutoCAD, SolidWorks, Adobe Photoshop. 1
1
Theo “Chương trình hợp tác bảo vệ quyền tác giả chương trình máy tính”- Bộ VH-TT &DL
16
- Một số doanh nghiệp mua bản quyền phần mềm quản lý tại các nhà cung
cấp, tuy nhiên việc ứng dụng thì còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết hiệu quả sử
dụng của phần mềm.
- Đa số các tổ chức, doanh nghiệp và rất nhiều người sử dụng máy tính và
17
- Tỷ lệ nhân viên văn phòng tại các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng thành
thạo máy vi tính còn khá khiêm tốn. Số nhân viên văn phòng thường xuyên sử
dụng máy vi tính trong nghiệp vụ chiếm 65,45% trong tổng số nhân viên văn
phòng, trong đó mức độ sử dụng thành thạo chỉ chiếm 15,28%. Chỉ có gần 52.000
doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT chiếm tỷ trọng 14% tổng số doanh
nghiệp; trong đó tập trung chủ yếu ở khối các doanh nghiệp có vốn nước ngoài và
các công ty cổ phần có quy mô vốn lớn, các ngân hàng thương mại....
- Một số ít tổ chức, doanh nghiệp có đội ngũ được đào tạo bải bản về CNTT
chuyên trách, chịu trách nhiệm về Công nghệ thông tin cho đơn vị mà chủ yếu là
các cán bộ kiêm nhiệm, hoặc là cán bộ được cử đi đào tạo tại các khóa đào tạo
ngắn hạn, vì vậy trình độ còn chưa cao, việc triển khai thực hiện các ứng dụng
chưa thu được hiệu quả.
- Do đội ngũ nhân lực không có kiến thức sâu về CNTT nên nhiều tổ chức
xảy ra tình trạng phần mềm mua về nhưng hầu như không được sử dụng đến hoặc
sử dụng những tính năng cơ bản, hoặc là sử dụng không đúng cách nên thường
xuyên gây hư hỏng, lỗi hệ thống…
2.2.5. Về bảo mật dữ liệu và an ninh mạng
- Trong thời buổi kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tính cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp ngày càng cao, có khá nhiều tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam đã
xảy ra tình trạng bị rò rỉ thông tin bí mật về kinh doanh, về các hoạt động và kế
hoạch Quản trị nhân lực, ảnh hưởng tới sự sống còn của tổ chức, doanh nghiệp.
- Nhiều tổ chức, doanh nghiệp hiện nay mua các phần mềm ứng dụng từ
phía các công ty cung cấp phần mềm nhưng chính những nhà cung cấp này lại
thiếu các chuyên gia bảo mật, dẫn đến tình trạng thông tin của tổ chức sử dụng
phần mềm chưa được bảo mật.
Ví dụ: Công ty TNHH Thiên Hà tốn khá nhiều chi phí thuê viết phần mềm
Quản lý kế toán nhằm “số hóa” hệ thống kế toán của họ. Để đảm bảo an toàn thông
cán bộ công nhân viên vẫn còn thụ động, ít chịu đổi mới, chưa hình thành thói
quen thường xuyên sử dụng, khai thác và trao đổi thông tin trên môi trường Công
nghệ thông tin.
- Đa số các đơn vị chưa có một đội ngũ chuyên gia thực thụ về CNTT để
quản lý, xây dựng và phát triển các ứng dụng CNTT mà chủ yếu vẫn là cán bộ
công nhân viên của Tổ chức, doanh nghiệp kiêm nhiệm, vì thế nên hiệu quả ứng
dụng chưa cao..
- Nhìn chung, hệ thống cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị CNTT còn khá cũ,
chậm đổi mới, phần lớn chưa theo kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực
và trên thế giới. Vì vậy, một số chương trình, phần mềm mới mang tính ứng dụng cao
mà các nước đang sử dụng thì nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa được tiếp cận.
- Về vấn đề bảo mật thông tin: Trách nhiệm trong việc làm rò rỉ thông tin
một phần từ phía công ty vì công ty đã không có những chính sách để quy định
việc mua sản phẩm, giải pháp một cách cụ thể, rõ ràng. Nhưng hơn hết là từ phía
công ty bán sản phẩm, giải pháp- bảo mật và chuyên nghiệp hóa bảo mật. Các lập
trình viên của họ đã không được cập nhật các lỗi bảo mật, cách viết source code
19
(mã nguồn chương trình) an toàn. Các nhân viên bảo mật trong các công ty phần
mềm phải chịu trách nhiệm đưa các tư vấn vè bảo mật ngay từ khâu thiết kế, truyền
đạt cho các lập trình viên về cách viết code bảo ật cho chương trình và kiểm tra,
phát hiện lỗi trong quá trình thử nghiệm, bởi những công việc bảo mật như vậy bản
thân một lập trình viên không thể đảm nhiệm được. Chính vì không có những việc
này mà dẫn đến các công ty sử dụng các sản phẩm, giải pháp của chính các công ty
phần mềm cũng rơi vào thực trạng không được bảo mật bởi chính sản phẩm mà họ
tưởng đó là trách nhiệm của phía công ty sản xuất.
20
năm, số lượng máy móc được đầu tư từ sớm nên nếu muốn thay mới cùng lúc toàn
bộ những máy móc trang thiết bị đó có thể là một khó khăn đối với nguồn quỹ của
21
tổ chức. Bởi vậy, các đơn vị có thể lập danh sách và phân loại mức độ các thiết bị
cần thay mới. Thiết bị nào cần thiết hơn thì thay trước và còn sử dụng tạm được thì
thay mới đợt sau.
- Tiếp tục trang bị, thay thế các máy tính đạt tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với
công tác xử lý, phân tích thống kê trong giai đoạn mới.
- Thay thế, nâng cấp máy chủ (server) để đảm bảo hoạt động tốt đồng thời
đáp ứng yêu cầu quản lý và sử dụng các phần mềm dùng chung.
- Trang bị hệ thống máy chiếu, các PC xách tay để phục vụ công tác thuyết
trình cho các cuộc tập huấn nghiệp vụ thống kê.
- Sửa chữa kịp thời những máy móc thiết bị hư hỏng nhưng vẫn còn sử dụng
được. Các máy móc đăc biệt là liên quan đến tin học nếu như hư hỏng mà không
sửa chữa kịp thời sẽ ảnh hưởng đến kết quả làm việc và chất lượng của máy bởi
vậy khi máy móc bị hư hỏng, mỗi đơn vị cần bố trí sửa chữa kịp thời.
- Thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc, bảo vệ máy móc trang thiết bị trong
cơ quan bằng cách hướng dẫn sử dụng máy móc trang thiết bị cho cán bộ công
nhân viên của tổ chức, doanh nghiệp.
- Tăng cường công tác quản lý, sử dụng máy móc thiết bị CNTT trong toàn
bộ hệ thống, lập hồ sơ chi tiết các thiết bị CNTT để có cơ sở theo dõi, quản lý chặt
chẽ và hiệu quả.
3.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong việc ứng dụng Công nghệ
thông tin
Muốn ứng dụng CNTT vào quản lý nhân sự thì chất lượng nguồn nhân lực
trong việc thực hiện là một yếu tố quan trọng. Bởi vậy cần có biện pháp nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này bằng một số biện pháp cụ thể sau:
- Tổ chức đào tạo cho các đối tượng khác nhau với những nội dung và
3.5. Nâng cao chất lượng phần mềm ứng dụng
Việc nâng cao chất lượng phần mềm ứng dụng là một trong những yêu cầu
cấp bách đối với mỗi đơn vị bởi các phần mềm ứng dụng hiện tại vẫn còn nhiều
mặt hạn chế trong khi ứng dụng. Để nâng cao chất lượng của các phần mềm cần
thực hiện một số biện pháp sau:
- Tiến hành kiểm tra, rà soát các phần mềm đang được ứng dụng cho công
tác quản lý đang được triển khai tại đơn vị để phát hiện những sai sót, vướng mắc,
hạn chế của các phần mềm rồi tổng hợp lại để kiến nghị lên bộ phận phụ trách
CNTT của đơn vị nghiên cứu, bổ sung, chỉnh sửa hợp lý.
- Đối với những đơn vị chưa có điều kiện tự mình thiết kế được phần mềm
thì khi thuê các công ty chuyên thiết kế phải có cán bộ giỏi chuyên môn và thông
thạo CNTT cùng theo sát quá trình để bổ sung nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị.
- Giải pháp trong dài hạn vẫn là phải đào tạo được cán bộ giỏi về chuyên
môn và tin học để họ cùng với các chuyên gia tin học khác cùng thiết lập nên
những phần mềm ứng dụng hiệu quả cao, tiện lợi hơn. Mà khi đó, tổ chức, doanh
nghiệp không phải mất thêm một khoản tiền để thuê người thiết kế các phần mềm
ứng dụng.
3.6. Lựa chọn nhà cung cấp tin cậy
23
- Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều công ty cung cấp trang thiết bị, phần
mềm ứng dụng CNTT cho doanh nghiệp từ tổng thể đến từng bộ phận chức năng.
Nhưng để đầu tư và ứng dụng hiệu quả, góp phần nhanh chóng mang lại lợi nhuận
cho doanh nghiệp, cần lựa chọn được nhà cung cấp đáng tin cậy. Để chọn lựa được
đối tác “đồng hành” với mình, người chủ doanh nghiệp nên chú trọng đến các yếu tố :
+ Sự uy tín thương hiệu của nhà cung cấp
+ Nhà cung cấp đó đã cung cấp giải pháp đó trên thị trường được bao lâu?
+ Phương pháp luận triển khai của nhà cung cấp đó có thật sự khoa học hay không?
+ Đội ngũ nhân sự mà nhà cung cấp đó bổ nhiệm để triển khai dự án có
cần được xây dựng theo xu hướng Web hóa. Nếu bị hạn chế về kỹ thuật, yêu cầu
tối thiểu là phải có một thành phần (module) chạy trên nền tảng công nghệ Web.
Các ứng dụng web được phát triển phải đáp ứng được yêu cầu về công nghệ web
tiên tiến và phải được kết hợp với một hệ quản trị cơ sở dữ liệu nào đó (như:
MySQL, Oracle, DB2…) Điều này sẽ đảm bảo cho việc phát triển các cổng thông
tin tích hợp (portal) sau này. Đồng thời việc phát triển ứng dụng vẫn được diễn ra
trong khi chưa có được mô hình kiến trúc phần mềm tổng thể.
+ Xây dựng và ban hành mô hình kiến trúc phần mềm tổng thể cho các
đơn vị (đặc biệt là các cơ quan quản lý nhà nước). Đây là điều kiện tiên quyết để
đảm bảo cho sự tích hợp về sau.
3.8. Hệ thống thông tin quản lý nhân lực (phần cứng, phần mềm) đáp ứng
yêu cầu thực tế của doanh nghiệp, dễ nâng cấp khi cần thiết
Vì hiện nay trên thị trường có rất nhiều hệ thống quản lý thông tin nhân lực,
nhưng để có được hệ thống thông tin quản lý nhân lực tốt, ngoài việc chọn nhà
cung cấp tin cậy thì cần có sự kiểm thử vận hành trước khi đưa vào sử dụng thực tế
để có những công cụ phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp và đạt được một số
tiêu chí sau:
- Phần mềm cần có sự phân cấp, phân quyền truy nhập: vì những thông tin
nguồn nhân lực thực sự quý giá, là tài sản của doanh nghiệp nên không phải ai
cũng xem được hoặc sửa được.
- Dễ sử dụng các công cụ: nhằm hạn chế thời gian đào tạo và thao tác.
- Dễ cập nhật thông tin
25