Chuyên đề: Sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh học tốt môn Lịch sử 6.
CHUYÊN ĐỀ
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN GIÚP HỌC SINH
HỌC TỐT MÔN LỊCH SỬ 6.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Dân tộc Việt Nam có lịch sử lâu đời, từ xưa nhân dân ta đã coi trọng việc
lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ. Trong các câu truyện cổ tích, truyền thuyết,
thần thoại, ca dao có nhiều yếu tố tri thức lịch sử, phản ánh nhiều sự kiện lớn
của công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Môn lịch sử cũng góp phần quan trọng trong trong xây dựng con người
mới, phẩm chất tốt đẹp của một con người và luôn nhắc nhở các em nhớ về cội
nguồn dân tộc, truyền thống đạo đức của con người sống trên đất nước Việt
Nam. Vậy mà ý thức môn lịch sử còn chưa cao, có thể do môn học bài nhiều nên
các em lười biếng. Một phần trước đây môn này chỉ xem là môn phụ, nên các
em chưa tập trung cao, chưa biết tầm quan trọng của môn này. Bác Hồ đã nhắc
nhở con cháu là “dân ta phải biết sử ta” với chúng ta đó chính là cái mốc để ta
tìm tòi phát triển ngày càng sâu sắc hơn nữa những đặc điểm XHVN, những
phẩm chất cao quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp cho
ta lựa chọn và tiến bước đi thích hợp.
Muốn đạt được mục tiêu trên, đòi hỏi GV phải sử dụng nhiều phương
pháp để giúp HS thích học môn Lịch sử. Nhưng trên thực tế môn lịch sử tồn tại
khách quan là những sự vật hiện tượng, đã diễn ra không thể phán đoán để tái
hiện lịch sử. Vì vậy, để giúp HS biết được hiện thực lịch sử, nhất thiết các em
phải biết được thông tin về quá khứ lịch sử với những nét cụ thể của nó. Muốn
vậy, trước hết phải nhờ đến sự truyền đạt sinh động của GV và phương tiện trực
quan để biểu tượng về quá khứ.
Trang 1
Chuyên đề: Sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh học tốt môn Lịch sử 6.
bằng Tiếng Việt cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp thu của bài học nên
kết quả đạt được chưa cao. Cụ thể qua kết quả họp theo dõi hàng tháng của học
sinh tôi đã thống kê được tỉ lệ HS 4 lớp mà tôi phụ trách giảng dạy năm 2007 –
2008 như sau:
Giỏi
Lớp TSHS
Khá
TB
Yếu
Kém
TS
%
TS
%
TS
2
5.9
6A5
36
3
8.3
8
22.2
10
27.8
11
30.6
4
11.1
6A6
15
35.7
9
21.4
7
16.7
5
11.9
2. Cơ sở lý luận để thực hiện chuyên đề:
Đối với GV giảng dạy lịch sử phải trả lời những vấn đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn của việc dạy học.
- Dạy học lịch sử để làm gì? (mục đích).
- Dạy học cái gì? (Nội dung).
- Dạy học bằng cái gì? (phương pháp).
Để giải đáp các vấn đề cơ bản nêu trên không phải chỉ bằng kinh Nghiệm
cảm tính và phải nghiên cứu nghiêm túc tìm hiểu mọi phương pháp các vấn đề
ảnh hưởng đến chất lượng dạy học lịch sử. Vì vậy dạy lịch sử coi trọng việc thực
hành, rèn luyện kỹ năng cho HS. Có thế mới giúp HS học tốt môn lịch sử 6
thông qua đồ dùng trực quan.
a. Đối với học sinh:
- Học sinh phải thuộc bài cũ và chuẩn bị bài mới trước khi lên lớp.
nào?
Trang 4
Chuyên đề: Sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh học tốt môn Lịch sử 6.
Âm lịch và dương lịch.
GV: Giảng thông qua lịch giúp HS xác định phía trên là Dương lịch, phía
dưới là âm lịch.
? Em cho biết cách tính của âm lịch và dương lịch?
GV: Yêu cầu HS thảo luận nhòm trong 3 phút.
- Đại diện nhóm lên trình bày.
- Nhóm còn lại nhận xét bổ sung.
? Trái Đất của chúng ta hình gì?
Hình cầu.
GV: Cho HS quan sát quả địa cầu bổ sung cụ thể hơn người xưa đã có
cách tính như thế nào?
+ Âm lịch: Căn cứ vào sự di chuyển của Mặt Trăng quanh Trái Đất (1
vòng) là 1 năm (từ 360 – 365 ngày), một tháng (từ 29 – 30 ngày).
+ Dương lịch: Căn cứ vào sự di chuyển của Trái Đât1 quay quanh Mặt
Trời (1 vòng) là 1 năm ( có 365 ngày + ¼ ngày) nên họ tính rất chính xác 1
tháng có 30 hoặc 31 ngày. Riêng tháng 2 có 28 ngày, năm nhuận cộng thêm 1
ngày vào tháng 2.
- Sau khi nắm nội dung hoàn chỉnh GV cho HS ghi nội dung vào tập.
GV: Cho HS quan sát những ngày lịch sử và kỷ niệm TD16.
? Hãy xem bảng ghi “Những ngày lịch sử và kỷ niệm” có những đơn vị
thời gian nào? Có những loại lịch nào?
GV: Cho HS thảo luận đôi trong 2 phút.
- Đại diện trình bày – HS nhận xét bổ sung.
HS dễ dàng nhận biết đâu là âm lịch và dương lịch.
hội?
Trang 6
Chuyên đề: Sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh học tốt môn Lịch sử 6.
Do sản xuất nông nghiệp phát triển thời kỳ Đông Sơn thủ công nghiệp.
Công cụ bằng đồng thay thế công cụ bằng đá.
GV: Chia lớp làm 2 nhóm và cho HS tiếp xúc với hiện vật phục chế bằng
đồng và đá với câu hỏi sau:
? Các em so sánh về các loại hình công cụ bằng đồng qua các hình 31; 32;
33; 34 với công cụ bằng đá hình 28; 29 ?
GV: Cho HS thảo luận nhóm trong 3 phút.
- Đại diện lên trình bày.
- HS còn lại nhận xét, bổ sung.
GV: Nhận xét bổ sung cụ thể hơn (công cụ bằng đồng mẫu mã đẹp hơn,
bén hơn, năng suất lao động tăng lên).
Thông qua bài học này nhằm bồi dưỡng cho HS ý thức về cội nguồn
của dân tộc, các em biết được sự nảy sinh những vùng văn hóa trên khắp 3 miền
của đất nước, nắm được kỹ năng nhận xét, so sánh.
VD3: bài 27: NGÔ QUYỀN VÀ CHIẾN THẮNG
BẠCH ĐẰNG NĂM 938.
Mục 2: CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG 938.
GV: Cho HS liên hệ phần 2 SGK trang 75 – 76.
GV: Dùng lược đồ treo tường “Chiến thắng Bạch Đằng năm 938” yêu cầu
HS quan sát.
GV: Giải thích một số ký hiệu để HS dễ nhớ. GV dán một số tên tướng
lên lược đồ.
GV: Cho HS thảo luận nhóm trong 3 phút.
? Hãy trình bày diễn biến trên sông Bạch Đằng năm 938?
Trang 8
Chuyên đề: Sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh học tốt môn Lịch sử 6.
Lớp TSHS
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TS
%
TS
%
TS
%
0
6A5
36
5
13.9
10
27.8
14
38.9
7
19.4
0
0
6A6
24
40.5
10
23.8
7
16.7
0
0
III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Khi áp dụng và thực hiện phương pháp “Sử dụng đồ dùng trực quan giúp
HS học tốt môn lịch sử 6”, với kết quả đạt được trên bảng thống kê, tôi rút ra bài
học kinh nghiệm như sau:
- Tạo cho các em có sự yêu thích, tích cực thật sự trong giờ học.
- Giúp HS nắm vững được kiến thức của từng bài học và ứng dụng vào
thực tế.
- Giúp các em có sự nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí của môn học.
IV. KẾT LUẬN:
Thực tế với một số phương pháp trên tôi thấy rất thiết thực. Vì nếu học
sinh làm quen với đồ dùng trực quan sẽ giúp các em có kỹ năng thành thạo sử
dụng lược đồ, tranh, ảnh, nhận xét trình bày diễn biến trên lược đồ, … sẽ giúp
các em học tốt hơn, nhớ lâu hơn.
Giúp HS nắm cơ bản kiến thức của bài sẽ phát huy tính tích cực, lòng say
mê học tập của HS thông qua đồ dùng dạy học.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân đã đúc kết được trong quá