Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ nghệ nhân và thợ giỏi tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Thực hiện đổi mới chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn trong
các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, khoá IX đã đề
cập đến phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở
nông thôn, tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân…
Trong thời gian qua, sự phát triển của các làng nghề đã trải qua những
bước thăng trầm. Một số làng nghề truyền thống đã phục hồi và phát triển,
cùng với việc xuất hiện một số làng nghề mới. Có nhiều làng nghề đã phát
triển khá mạnh và lan toả sang các khu vực lân cận, tạo nên một cụm các
Làng nghề, với sự phân công và chuyên môn hoá trong SXKD. Tuy vậy cũng
có một số Làng nghề dần bị mai một, thậm chí mất hẳn. Thực tế cho thấy,
ngay trong sự phát triển, l àng nghề vẫn đứng trước những khó khăn như: Đội
ngũ nghệ nhân và thợ giỏi ngày càng mai một, càng ít đi, lao động được ít đào
tạo và truyền nghề. Đào tạo nghề trong làng nghề là bài toán vô cùng nan giải.
Bởi những nghệ nhân có tay nghề cao, nắm giữ tinh hoa, vốn văn hóa dân tộc của
nghề ngày một ít đi. Do vậy, nếu không tích cực tổ chức đào tạo thì sẽ không thể
truyền lại nghề và duy trì giá trị vốn là linh hồn cho sự phát triển của làng nghề.
Làng nghề nơi sản xuất các sản phẩm thủ công, đặc biệt là sản phẩm thủ
công mỹ nghệ ở nước ta đã ra đời từ hàng nghìn năm trước đây, trở thành một
thực thể vật chất và tinh thần của cả nước, từng địa phương. Qua quá trình sản
xuất, trong các làng nghề ấy đã xuất hiện những người thợ giỏi nghề có khả
năng sáng chế, cải tiến kỹ thuật và sáng tạo những sản phẩm tinh xảo, hoàn mỹ,
mà dân gian thường gọi là “nghệ nhân”. Việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn
nhân lực ở nông thôn có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của
làng nghề. Nếu thiếu yếu tố này thì việc tiếp thu khoa học công nghệ sẽ không
thành công như mong đợi.
Nghệ An hiện có 111 làng nghề được UBND tỉnh công nhận, chia thành
các lĩnh vực: mây tre đan; mộc dân dụng và mỹ nghệ; nông sản thực phẩm; hải
sản; chiếu cói; chổi đót và giấy gió; dâu, tằm, tơ, móc sợi và gạch ngói... Giá trị
kinh tế bình quân hàng năm của các làng nghề đạt khoảng 700 tỷ đồng, đóng
góp từ 18 đến 30% GDP toàn tỉnh, giải quyết việc làm cho trên 17.000 lao động

sách có liên quan đến phát triển làng nghề, nghệ nhân và thợ giỏi, tài liệu liên
quan đã được công bố trong và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn: lập phiếu điều tra các xã,
làng, các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân tiêu biểu ở làng nghề: sử dụng
bảng hỏi để thu thập đánh giá các thông tin về tình hình thực trạng việc phát
triển làng nghề và phát triển nghệ nhân, thợ giỏi TTCN;
- Đối tượng điều tra: các thợ giỏi- nghệ nhân (thợ cả) là chính. Ngoài ra có
thể hỏi thêm các nhà làm quản lý, chính sách liên quan.
- Điểm điều tra: Mỗi nghề, mỗi lĩnh vực chọn 1 số điểm đại diện các nghề đã
được UBND tỉnh công nhận; các doanh nghiệp, HTX và hộ sản xuất, kinh doanh ở
làng nghề; các cá nhân ở làng nghề ở các địa phương đại diện trong tỉnh để điều tra,
khảo sát; Số phiếu: 15 - 20 phiếu cho mỗi nghề, mỗi lĩnh vực được chọn.
+ Tổ chức điều tra, khảo sát tại các địa bàn: Vinh, Nghi Lộc, Cửa Lò,
Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Tương Dương, Anh Sơn,
2


Tân Kỳ, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Thị xã Thái Hoà, Quỳ
Hợp, Quế Phong;
- Phương pháp chuyên gia: Xây dựng các chuyên đề khoa học
- Các phương pháp hỗ trợ khác: thống kê toán học, phương pháp phân tích
- Tổ chức hội thảo khoa học
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi không gian
Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng việc phát triển
làng nghề và phát triển nghệ nhân, thợ giỏi TTCN; Các chính sách liên quan.
3.2 Phạm vi thời gian
Nguồn số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu đề tài chủ yếu được cập
nhật đến hết năm 2011.
4. Lợi ích của đề tài

ở khu vực đô thị mà đặc điểm nổi bật nhất là trình độ và công nghệ làng nghề ở
khu vực nông thôn vẫn mang nặng hoạt động thủ công và gắn với sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, để có một khái niệm đầy đủ về làng nghề cần thống nhất một
số quan điểm sau:
Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện chủ yếu sau:
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề;
- Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng
thu nhập của làng.
Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ số hộ cùng sản xuất một nghề trong làng
nghề từ 20% đến 30%. Ở Việt Nam thường lấy tỷ lệ 30% số hộ làm nghề trong
làng nghề và quy định tỷ lệ đó phải được duy trì ổn định trong một số năm.
Như vậy, Làng nghề là làng có nghề thủ công phát triển với một tỷ lệ số
hộ làm nghề nhất định và tỷ lệ thu nhập từ nghề nhất định, trở thành nguồn thu
nhập quan trọng không thể thiếu được.
Thế nhưng, trải qua nhiều bước phát triển, có thể thấy cho đến nay: làng
nghề không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công, tuy thủ công vẫn
là chính, mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa.
Quyết định số 80/2008/QĐ-UBND ngày 18/12/2008 của UBND tỉnh Nghệ
An Ban hành Quy định về công nhận làng có nghề, làng nghề và chính sách
khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ
An; Khái niệm làng nghề TTCN như sau: “Làng nghề TTCN (gọi tắt là làng

4


nghề) là làng (thôn, khu dân cư) có ngành nghề sản xuất TTCN phát triển ở các
hộ gia đình trở thành nguồn thu nhập cao của người dân trong làng” 1
Khái niệm làng nghề TTCN của đề tài tuân thủ theo Quyết định số Quyết
định số 80/2008/QĐ-UBND ngày 18/12/2008 của UBND tỉnh Nghệ An và
quyết định Số: 85/2010/QĐ-UBND, ngày 29 tháng 10 năm 2010 về việc sửa


1

Chương 2, Điều 5, Quyết định số 80/2008/QĐ-UBND ngày 18/12/2008 của UBND tỉnh Nghệ An.

5


- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định: Tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm xét công nhận.
- Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành nghề TTCN, xây
dựng và phát triển làng nghề, làng có nghề.
Theo tiêu chí này, đến nay tỉnh ta đã có 111 làng nghề được công nhận
danh hiệu làng nghề.
1.1.2. Nghề tiểu thủ công nghiệp
- Nghề thủ công: là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản
xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các
nghề thủ công có thể sử dụng máy, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công
nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất
lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay. Nguyên liệu của
các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường
là công cụ cầm tay đơn giản.
- Thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ công.
Cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công.
- Làng nghề tiểu thủ công nghiệp: là làng có nghề tiểu thủ công nghiệp
phát triển với một tỷ lệ số hộ và tỷ lệ thu nhập từ nghề TTCN nhất định, trở
thành nguồn thu nhập quan trọng không thể thiếu được của người dân trong
làng. Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ 20% hay 30%, ở Việt Nam đang có xu
hướng lấy tỷ lệ 30% hay 50% số hộ dân làm nghề và thu nhập của làng từ nghề
thủ công. Tỷ lệ đó được duy trì và ổn định trong nhiều năm.

Cũng theo Thông tư nói trên, đã có các tiêu chí dùng để công nhận nghề
truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống. Đối với tỉnh Nghệ An mới
có việc xét công nhận danh hiệu “làng nghề”. Tuy nhiên, theo văn bản nhà nước
ngoài tiêu chí xét tặng danh hiệu “làng nghề” còn có tiêu chí danh hiệu “làng
nghề truyền thống” và “làng nghề cổ truyền”. Một số tỉnh, thành phố đã xét
tặng các danh hiệu này.
1.3. Các nhóm làng nghề
Trong làng nghề, theo đặc điểm và tính chất của nghề người ta lại phân
thành các nhóm làng nghề. Cách phân nhóm cũng có sự khác nhau, ở đây ta tạm
thời chia ra thành 14 nhóm như sau:
1. Mây tre đan; kể cả các sản phẩm đan lát, bện thủ công (bàn nghế, nón lá);
2. Cói, chiếu;
3. Gốm sứ;
4. Sơn mài, khảm trai;
5. Thêu, ren;
6. Dệt (vải, khăn tay, áo, khăn quàng, kể cả dệt thổ cẩm);
7. Đồ gỗ (đồ mộc dân dụng, gỗ mỹ nghệ, chạm khắc gỗ, làm trống);
8. Đá mỹ nghệ;
9. Giấy thủ công;
10. Tranh nghệ thuật (bằng hoa khô, tre hun khói, lá khô, ốc… ); hoa các
loại bằng vải, lụa, giấy;
11. Trò chơi dân gian (sản xuất và biểu diễn rối cạn, rối nước, tò he)
12. Sản phẩm kim khí (đồ đồng, sắt, nhôm … sản xuất và tái chế);
7


13. Chế biến nông sản, thực phẩm (các loại nước chấm, bún bánh, miến
dong, đường, mật, mạch nha, rượu, trà, kể cả đóng giày da);
14. Cây cảnh (gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh).
Việc phân nhóm trên đây chỉ là quy ước; vì cho đến nay, chúng ta chưa có

tiểu thủ công nghiệp vượt trội so với nông nghiệp. Đã có nhiều xã, nhờ phát
triển nhiều nghề mà thu nhập của dân cư tăng nhanh và có đến 70 - 80% là từ
tiểu thủ công nghiệp.
8


Làng nghề phát triển còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề,
dịch vụ khác, qua đó tạo thêm việc làm, thêm thu nhập cho dân cư nhiều vùng
nông thôn, như nghề mây tre đan đã kéo theo sự phát triển những vùng trồng cây
làm nguyên liệu; ngành chế biến lương thực, thực phẩm đã thúc đấy ngành trồng
trọt, chăn nuôi phục vụ cho chế biến. Do sản xuất, kinh doanh ngày càng tăng,
các dịch vụ như: tín dụng ngân hàng, dịch vụ thương mại, khoa học kỹ thuật,...
cũng có thêm điều kiện phát triển, làm phong phú cuộc sống ở nông thôn.
1.4.2. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề chính là con đường chủ yếu
để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển từ lao động nông
nghiệp năng suất, thu nhập thấp sang lao động ngành nghề có năng suất và chất
lượng cao với thu nhập cao hơn. Mục tiêu nâng cao đời sống của cư dân nông
thôn một cách toàn diện cả về kinh tế và văn hóa cũng chỉ có thể đạt được nếu
trong nông thôn, có cơ cấu hợp lý của nông thôn mới, có nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ, có nông thôn vận động và phát triển thanh bình với hệ thống
làng nghề tiếp nối truyền thống văn hóa làng nghề với chuỗi đô thị nhỏ văn
minh, lành mạnh.
Sản phẩm làng nghề đã góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu.
Nhiều nước ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vì những kiểu dáng
độc đáo, từ hàng thủ công mỹ nghệ như đồ gốm sứ, hàng thổ cẩm, mây tre đan
trau chuốt bằng bàn tay khéo léo của nghệ nhân, đến những sản phẩm nội thất
bằng gỗ, đá mỹ nghệ làm đẹp thêm những ngôi nhà. Làng nghề phát triển đã góp
phần to lớn vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.4.3. Phát huy các giá trị văn hóa

chơi, giải trí. Khách du lịch có thể trực tiếp xem và tham gia vào một số công
đoạn sản xuất sản phẩm đặc trưng của làng nghề. Du khách được tiếp cận với
nét văn hóa, phong tục tập quán, cốt cách của người thợ ở từng vùng quê.
Du lịch làng nghề được khai thác một cách bài bản, chuyên nghiệp, sẽ là
phương tiện giao lưu, quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam một
cách sâu rộng và có hiệu quả, góp phần tôn vinh, bảo tồn và giới thiệu rộng rãi
các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Du lịch làng nghề góp phần thúc
đẩy sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng các làng nghề. Du lịch làng nghề
được quảng bá và thị trường các sản phẩm của làng nghề được mở rộng sẽ nâng
cao thu nhập của cư dân làng nghề, mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho làng
nghề và cho địa phương có làng nghề.
1.4.5. Phát triển xã hội
Làng nghề là một lực lượng có vị thế, một cộng đồng có sự liên kết bền
chặt bởi những mối liên hệ khăng khít, nhiều mặt: về lãnh thổ, dòng họ, về hoạt
động kinh tế, có chung “Thành hoàng làng” và “Tổ nghề”; có chung văn hóa và
tâm linh. Người thợ thủ công trong làng nghề gắn bó với làng, không chỉ vì yếu
tố kinh tế mà do nhiều yếu tố tâm linh, thiêng liêng, hình thành một cộng đồng
đoàn kết, gắn bó từ nhiều đời, hình thành “vốn xã hội” của cộng đồng dân cư
trong làng nghề.
Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, không chỉ là những vật phẩm văn
hóa hay vật phẩm kinh tế thuần túy cho sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà nó
chính là những tác phẩm nghệ thuật, biểu trưng cho nền văn hóa xã hội, mức độ
phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc. Đồng thời các
10


làng nghề không chỉ đơn thuần sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa như trong
một công xưởng. Làng nghề là cả một môi trường văn hóa kinh tế - xã hội và
công nghệ truyền thống lâu đời. Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật truyền từ
đời này sang đời khác, tập chung ở các thế hệ nghệ nhân tài năng với những sản

tiểu thủ công nghiệp, giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề cho thế hệ trẻ.

11


Thợ giỏi tiểu thủ công nghiệp là người thợ, có thâm niên trong nghề tối
thiểu là 5 năm, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp giỏi ở từng công đoạn
để sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh, hoặc sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh từ
khâu đầu đến khâu cuối, có khả năng sáng tác mẫu mã đạt trình độ cao mà người
thợ bình thường khác không làm được.
2.2. Vai trò của nghệ nhân, thợ giỏi tiểu thủ công nghiệp
Nghệ nhân, thợ giỏi tiểu thủ công nghiệp làm ra sản phẩm trư ớc hết là
để bán, do yêu cầu sinh kế của họ và do nhu cầu sử dụng trong xã hội. Nhưng
là người thợ có tài cao, tay nghề tinh xảo, nên sản phẩm làm ra đẹp, lại chứa
đựng cả tinh thần, tư tưởng, quan niệm nhân sinh trong đó, được người đời
coi như báu vật. Như vậy, sản phẩm thủ công vừa là hàng hoá thông th ường,
vừa là vật phẩm văn hoá phi thường.
Nghệ nhân và thợ giỏi là những tài năng sáng tạo góp phần bổ sung, làm
đẹp thêm truyền thống và bản sắc văn hoá cộng đồng. Họ có vai trò nòng cốt
trong việc giữ gìn, thực hành, truyền nghề, lưu truyền các giá trị văn hoá dân tộc
trong những sản phẩm làng nghề. Vai trò này của nghệ nhân, thợ giỏi có ý nghĩa
văn hoá - xã hội và kinh tế to lớn:
- Về giá trị văn hóa: Nghệ nhân, thợ giỏi trong làng nghề đóng vai trò hết
sức quan trọng trong việc bảo tồn giá trị văn hóa, bảo tồn giá trị sản phẩm làng
nghề không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế theo ý nghĩa thông thường, mà còn bao
gồm các giá trị văn hóa sâu sắc của dân tộc đối với việc phát triển kinh tế.
Giá trị văn hóa thể hiện rõ nét nhất trong các sản phẩm làng nghề. Làng
nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc
đáo của nền văn hóa Việt Nam - một dân tộc đã có bề dày lịch sử hàng ngàn
năm với nền văn hóa lấy cộng đồng làng làm đợn vị tổ chức xã hội cơ bản.

Cùng với việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, phát triển
làng nghề mới của cả nước, sản phẩm từ bàn tay của thợ thủ công trong các làng
nghề góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu. Nhiều nước ưa chuộng
hàng mỹ nghệ Việt Nam vì kiểm dáng độc đáo, từ hàng thủ công mỹ nghệ như
gốm sứ, hàng thổ cẩm, mây tre đan trau chuốt bởi bàn tay khéo léo của nghệ
nhân đến những sản phẩm nội thất bằng đá, gỗ mỹ nghệ,... Mỗi sản phẩm đều
mang bản sắc văn hóa dân tộc, chứa đựng những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng, đặc
điểm nhân văn, trình độ khoa học kỹ thuật rất độc đáo của dân tộc Việt Nam.
Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu mang trong mỗi sản phẩm nét tinh hoa văn
hóa dân tộc, đóng góp vào kho tàng văn hóa nhân loại. Chúng ta đang cố gắng
vừa giới thiệu với bạn bè thế giới những sản phẩm độc đáo mang truyền thống
dân tộc, vừa sáng tạo thêm những mẫu mã mới theo thị hiếu tiêu dùng của khách
hàng châu lục, từng nước, kể cả trong từng thời vụ.
2.2.1. Lựa chọn, duy trì, mở rộng cơ sở sản xuất và chế tác sản phẩm.
Nghệ nhân là người thạo nghề, tâm huyết phát triển nghề nên họ thường
đặt nền móng và có công tạo lập làng nghề, lập cơ sở sản xuất, đồng thời duy trì
nghề và làng nghề bằng nhiều biện pháp như: có người giữ bí mật nghề, giữ “bí
quyết” về công nghệ sản xuất, pha chế nguyên vật liệu,... để độc quyền sản xuất
và bán sản phẩm, chỉ truyền dạy nghề trong gia đình, gia tộc, trong làng xóm.
Nghệ nhân, thợ giỏi kiên trì theo đuổi nghề suốt đời, không giao động trước khó

13


khăn, tâm huyết với nghề, không chịu để mai một làng nghề của mình. Chính họ
là chỗ dựa về tinh thần, vật chất cho lớp thợ trẻ.
2.2.2. Cải tiến, sáng chế kỹ thuật, công nghệ và công cụ chuyên dụng, đặc biệt là
công cụ cầm tay; Kế thừa kinh nghiệm truyền thống lâu đời và giỏi vận dụng
vốn kinh nghiệm ấy. Thông qua thực tiễn sản xuất, kinh doanh, chính các nghệ
nhân, thợ giỏi mới phát hiện những vấn đề khoa học, đưa ra ý tưởng và nghiên


14


thành đội ngũ thợ tay nghề cao, tạo thêm sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế.
Mỗi nghệ nhân, hàng năm có thể đào tạo hàng chục, hàng trăm lao động mới.
Nhiều làng nghề đã giàu lên nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào phát
triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Kết quả và triển vọng ấy của làng nghề có được
chính là do công sức nhiều người, nhiều ngành, sự quan tâm chỉ đạo của Nhà
nước, nhưng vai trò của các nghệ nhân, thợ giỏi là rất lớn, trở thành một trong
những nhân tố quyết định nhất. Tài năng và công sức của họ đáng được ghi
nhận, tôn vinh. Vì vậy, việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân đối với họ cần sớm
được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện, để đánh giá đúng và phát huy sự
đóng góp, tài năng của họ đối với địa phương và đất nước.
3. Kinh nghiệm của các nước và tỉnh bạn trong phát triển đội ngũ nghệ
nhân và thợ giỏi TTCN
3.1. Nhật Bản
Nổi bật nhất, có một phong trào đã lan tỏa khắp Châu Á đó là phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm” (được gọi tắt là OVOP) của Ông Hiramatsu, thống đốc
quận Oita, Nhật Bản phát động vào năm 1979. Nội dung thực hiện của mô hình
OVOP là tìm ra những sản phẩm độc đáo, đặc trưng nhất của mỗi làng, sau đó
liên kết, xây dựng lại để giới thiệu bán trên toàn quốc và thế giới. Kết quả của
phong trào trên, là sau một thời gian các sản phẩm của mô hình OVOP đã có
tính cạnh tranh trên cả nước Nhật Bản và thế giới, nhưng quan trọng nó vẫn giữ
được giá trị của nền văn hoá địa phương.
Chính phủ Nhật Bản có chính sách đầu tư đào tạo các nhà cố vấn, xây
dựng các Trung tâm dịch vụ và Viện đào tạo nghề. Ngoài ra ở 600 thành phố,
chính quyền đã giúp thành lập nhiều văn phòng cố vấn. Nhờ có các dịch vụ cố
vấn và các nhà cố vấn giỏi hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ sản xuất mà ngành
nghề và các làng nghề truyền thống ở Nhật Bản phát triển mạnh.

nét trên các sản phẩm thủ công truyền thống. Những năm 1980, lực lượng thợ
thủ công chuyên nghiệp lên tới 4-5 triệu người, chưa kể hàng chục triệu nông
dân làm nghề phụ, đặc biệt có nghề thủ công mỹ nghệ cao cấp như: nghề kim
hoàn vàng, bạc, ngọc, ngà, đồ mỹ nghệ khác… Trong số 0,03% sản lượng kim
cương của thế giới mà Ấn Độ khai thác được là do 75 vạn thợ chế tác kim cương
của Ấn Độ thực hiện và chủ yếu là các hộ gia đình sống trong các làng nghề
truyền thống. Kim ngạch xuất khẩu kim cương đạt tới 3 tỷ USD.
Ở Ấn Độ có khoảng 450 Trung tâm dạy nghề để đào tạo tay nghề cho
người lao động. Các trung tâm này còn có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng các
công nghệ mới, tạo ra những mẫu mã mới, đa dạng, phù hợp với thị hiếu người
tiêu dùng trong nước và ngoài nước, các trung tâm dạy nghề rải rác trong cả
nước để đào tạo cho người lao động. Chính phú Ấn Độ đặc biệt quan tâm đến
thợ cả và thợ lành nghề có nhiều kinh nghiệm. Có tới 13 trung tâm trong cả
nước với nhiệm vụ chuyên lo nâng cao tay nghề cho thợ cả và thợ lành nghề
nhằm gìn giữ và khôi phục các nghề cổ truyền và nghề truyền thống đặc sắc có
nguy cơ thất truyền và bồi dưỡng cho các nghệ nhân đặc biệt tài hoa. Thợ cả,
thợ lành nghề và nghệ nhân được coi là vốn quí của quốc già và được Nhà nước
quan tâm về vật chất và tinh thần.
3.3. Thái Lan
16


Thái Lan, áp dụng mô hình OVOP của Nhật Bản, nhưng vẫn muốn tạo ra
những sản phẩm làng nghề đặc trưng hơn nữa, Thái Lan tiếp tục cho xây dựng
một phong trào mới mang tên “Mỗi huyện một sản phẩm” (có tên viết tắt là
OTOP). Tư tưởng xuyên suốt của OTOP là tạo ra các sản phẩm có hàm lượng
văn hoá và đặc trưng của mỗi địa phương, mỗi cộng đồng trong địa phương.
Thái Lan đã tổ chức các hội chợ có sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới
và bằng cách mời các nghệ nhân nước ngoài, người mua hàng ở các cửa hàng
bán sản phẩm tại các hội chợ làm ban giám khảo đánh giá chất lượng sản phẩm.



trấn là một hình thức mới của công nghiệp hoá nông thôn mang đặc sắc Trung
Quốc. Nó chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Từ
khi thực hiện cải cách mở cửa đến nay, xí nghiệp hương trấn phát triển đã
làm lớn mạnh thực lực kinh tế quốc dân, thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn,
thúc đẩy cải cách kinh tế Trung Quốc.
Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc phát triển các ngành nghề
trong các xí nghiệp hương trấn, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của công cuộc công nghiệp hoá nông thôn Trung Quốc. Trước hết là có
những cải cách về thể chế và phi thể chế đối với những vùng nông thôn để
phát triển kinh tế thị trường.
Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp cụ thể
đã tác động mạnh đến sự phát triển các xí nghiệp hương trấn:
- Chính sách đào tạo: Chính phủ chú trọng các hình thức đào tạo: đào
tạo tại chỗ, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn tại địa phương và đào tạo
thông qua các trung tâm, các trường dạy nghề để đáp ứng được việc kết hợp
giữa kỹ năng tinh xảo với kỹ nghệ tiên tiến.
- Chính sách thuế: Quy định chính sách thuế khác nhau cho các vùng
nghề khác nhau, ưu tiên các xí nghiệp hương trấn, hạ mức thuế áp dụng cho
các xí nghiệp hương trấn, miễn tất cả các loại thuế trong 3 năm.
- Chính sách tín dụng: Cung cấp tín dụng cho xí nghiệp hương trấn,
một số ngân hàng hàng đầu đã tham gia vào việc cho vay đối với các xí
nghiệp hương trấn.
- Chính sách xuất khẩu: Tạo điều kiện cho các xí nghiệp hương trấn
tham gia vào các hoạt động của thị trường xuất khẩu, từ đó tạo ra sự phát triển
vượt bậc của nhiều xí nghiệp hương trấn.
- Chính sách công nghệ: Chính phủ đã đề ra chương trình “đốm lửa”
nhằm chuyển giao công nghệ và khoa học ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ đến những vùng nông thôn, kết hợp khoa học với các hoạt động kinh tế.

nhiều nghệ nhân trong và ngoài tỉnh tham gia giới thiệu và quảng bá sản phẩm
rộng rãi, với chất lượng sản phẩm tốt.
2. Bắc Ninh
Hiện nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề thủ công, trong đó có 31 làng nghề
thủ công truyền thống, trong đó có nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ nổi tiếng
như: Đồng Kỵ, Đại Bái, Xuân Lai, Phong Kê, Văn Môn, Đông Hồ,…
Những năm qua các cấp chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã coi trọng và đang
tích cực thực hiện công tác đào tạo nghề, nhân cấy nghề mới, đồng thời áp dụng
các giải pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động sản xuất
kinh doanh. Tỉnh hướng các hoạt động khuyến công cho các cơ sở trong làng
nghề, nhất là chương trình triển khai nhân cấy nghề mới cho nông thôn, vận
dụng linh hoạt các chủ trương, chính sách của Nhà nước được tỉnh coi là biện
pháp tạo môi trường thuận lợi nhằm khuyến khích, thu hút vốn đầu tư cho các
làng nghề.
Bên cạnh đó, Bắc Ninh tiếp tục bổ sung quy hoạch các cụm làng nghề gắn
với quy hoạch nông thôn mới, phát triển làng nghề theo hình thức đa dạng hóa
chủ sở hữu, củng cố các làng nghề hiện có, tập trung đầu tư cho các làng nghề có
19


điều kiện phát triển tốt, chú trọng việc phát triển các nghề mới gắn với việc xây
dựng làng văn hóa - du lịch tại ở nông thôn. Đa dạng hóa hình thức đào tạo nghề
theo phương châm đẩy mạnh công tác dạy nghề, truyền nghề, bảo tồn, khôi phục
phát triển nghề truyền thống gắn với nhân cấy nghề mới. Đồng thời chú trọng mở
rộng hình thức đào tạo tại chỗ, gắn kết việc đào tạo với việc sử dụng lao động.
Ngoài ra, những nghệ nhân sẽ được thành phố hỗ trợ chi phí tập huấn
trong nước hàng năm và chi phí thuê một gian hàng tiêu chuẩn để trưng bày
các sản phẩm do chính nghệ nhân làm ra khi tham gia các hội chợ, triển lãm có
ngành nghề phù hợp theo kế hoạch được duyệt của Liên minh HTX; được xem
xét vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc hỗ trợ lãi suất để đầu tư nghiên cứu chế thử

Hàng năm TP Hà nội tổ chức xét tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi tiểu
thủ công nghiệp. Đây sẽ là điểm sáng để sáng tác, thiết kế và trực tiếp làm ra các
sản phẩm độc đáo có tính mỹ thuật và kinh tế cao. Bên cạnh đó, đội ngũ nghệ
nhân này cũng luôn sẵn sàng truyền nghề, dạy nghề cho thế hệ trẻ - nguồn nhân
lực dồi dào có khả năng tiếp thu nhanh, cần cù, sáng tạo để các làng nghề truyền
thống được bảo tồn, khôi phục và phát triển. Thông qua các sản phẩm thủ công
truyền thống do đội ngũ thợ giỏi của Hà Nội, nhất là ở các làng nghề truyền
thống làm ra trong đó có sự đóng góp quan trọng nhất của đội ngũ nghệ nhân đã
được rèn giũa tay nghề từ đời này sang đời khác và là những người có công gìn
giữ những công nghệ truyền thống, biết cách cải tiến mẫu mã mà không làm mất
đi phong cách truyền thống, vẫn đảm bảo về giá trị thẩm mỹ, về chất lượng và
duy trì được các yếu tố văn hóa kết tinh trong sản phẩm.
+ Tổ chức các lễ hội hàng năm ở các làng nghề để tưởng nhớ các vị tổ
nghề và các bậc danh nhân có công khai ấp, lập thôn, qua đó, động viên các thế
hệ con cháu giữ vững và phát huy làng nghề truyền thống.
+ Thành phố còn có chính sách hỗ trợ và tổ chức các hội chợ có sự tham
gia của nhiều nghệ nhân trong và ngoài tỉnh tham gia giới thiệu và quảng bá sản
phẩm rộng rãi, với chất lượng sản phẩm tốt.
+ Thành lập CLB Nghệ nhân, thợ giỏi phát động người sản xuất và sáng
tác mẫu sản phẩm độc đáo, đa dạng: Câu lạc bộ Nghệ nhân, thợ giỏi Bát tràng,
Câu lạc bộ Nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề La Phù (huyện Hoài Đức); Câu lạc bộ
Nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề mộc Vạn Điểm (huyện Thường Tín)…
Qua nghiên cứu kinh nghiệm các nước và các tỉnh trong nước cho thấy
rằng, ở khía cạnh con người có thể thấy ở Việt Nam vẫn chưa có được một hệ
thống nghiên cứu, đào tạo nghề truyền thống hoàn chỉnh nào. Nếu so sánh với
các nước láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Indonexia, Ấn Độ…
thì họ đã tiến xa, tiến mạnh và vững chắc hơn Việt Nam rất nhiều. Họ mạnh mẽ
là bởi họ đã có những trường đào tạo chuyên ngành thủ công truyền thống,
những viện nghiên cứu và đặc biệt các nghệ nhân giỏi luôn được coi như báu vật
quốc gia…2

- Thành phố Hải Phòng: Quyết định số 144/2009/QĐ-UB ngày 12/2/2009
của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành quy chế phong tặng danh
hiệu nghệ nhân Hải Phòng ngành thủ công mỹ nghệ.
- Long An: Quyết định số 80/2009/QĐ-UB ngày 18/12/2009 của UBND
tỉnh Long An, ban hành quy định về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét
tặng danh hiệu nghệ nhân tỉnh Long An, thợ giỏi tỉnh Long An và người có công
đưa nghề về Long An trong ngành thủ công mỹ nghệ.
Ngoài ra còn rất nhiều tỉnh khác đã có quyết định phong tặng nghệ nhân
và thợ giỏi. Một số tỉnh ngoài phong tặng nghệ nhân, thợ giỏi còn tặng thưởng
người có công đưa nghề về quê hương.
4. Tiêu chí phong tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi ở trung ương
Theo Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26/11/2003 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 14/6/2005. Tại Ðiều 65.
Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 quy định tặng: Danh hiệu "Nghệ nhân
nhân dân", "Nghệ nhân ưu tú" cho cá nhân có nhiều năm trong nghề, kế tục, giữ
gìn, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống. Tiêu
chuẩn được quy định như sau:

3

Theo

22


1. Danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân" được xét tặng cho cá nhân đạt các
tiêu chuẩn sau:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, có tài năng xuất sắc, tay nghề điêu luyện đã
trực tiếp làm ra các sản phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật cao;
b) Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;


23


kế được 10 mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao đồng thời đã trực tiếp
làm ra trên 20 tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật;
c) Là người có ảnh hưởng rộng rãi trong ngành và xã hội:
- Có nhiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề cho trên
150 người, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ;
- Tiếp tục giữ vững và phát huy ảnh hưởng của Nghệ nhân ưu tú. Là Nghệ
nhân ưu tú tiêu biểu xuất sắc được đồng nghiệp thừa nhận, quần chúng mến mộ,
kính trọng;
d) Đạt giải thưởng quốc gia hoặc quốc tế tính từ sau khi được phong tặng
danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.
2. Tiêu chuẩn Nghệ nhân ưu tú
a) Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất đạo
đức tốt, tận tụy với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng cho mọi người
và đồng nghiệp noi theo;
b) Là người thợ giỏi tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, có thâm niên
trong nghề tối thiểu 15 năm, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện,
sáng tác thiết kế được 10 mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao đã trực tiếp
làm ra trên 15 tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật;
c) Là người có ảnh hưởng rộng rãi trong ngành và xã hội:
- Có nhiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề cho trên
100 người, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ;
- Là Nghệ nhân đầu đàn tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, quần
chúng mến mộ, kính trọng;
d) Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, được tặng giải (loại vàng
hoặc bạc) tại các hội chợ triển lãm quốc gia hoặc quốc tế.
Sự cần thiết phải ban hành quy chế phong tặng nghệ nhân xuất phát trước

Nghị quyết 06/NQ.TU của Tỉnh uỷ (khoá XV) về lĩnh vực Tiểu thủ công
nghiệp (TTCN) và xây dựng làng nghề, Ban Chấp Hành Tỉnh uỷ (khóa XVII) đã
khẳng định: “Giá trị sản xuất TTCN tăng bình quân hàng năm đạt 18,32%/năm;
Một số sản phẩm làng nghề có thương hiệu và tốc độ tăng trưởng khá; Số lượng
làng nghề, làng có nghề được công nhận đạt cao. Công nghiệp, TTCN và làng
nghề phát triển đó góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu
ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân” 4. Năm 2011
UBND tỉnh công nhận 9 làng nghề, nâng tổng số làng nghề cả tỉnh lên 111 làng.
Giá trị tiểu thủ công nghiệp - làng nghề năm 2011 đạt 2.700 tỷ đồng, tạo ra giá
trị sản xuất hàng năm là 768.822 triệu đồng. Các làng nghề đã thu hút 24.574 lao
động thường xuyên, với mức thu nhập bình quân 16,5 triệu đồng/người/năm, đã

4

Nghị quyết 06/NQ.TU ngày 4/11/2011 của Tỉnh uỷ (Khóa XVII) về phát triển Công nghiệp,

Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề giai đoạn 2011-2020.

25


Trích đoạn Nhóm giải pháp về tuyên truyền, vận động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status