Anh H vào làm việc tại công ty Y từ tháng 6/1994. Năm 2006 anh bị tai nạn lao
động được xác định suy giảm 33% khả năng lao động. Năm 2008 vết thương tái phát anh
phải vào viện điều trị 1 tháng. Sau khi ra viện anh được xác định suy giảm 40% khả năng
lao động nhưng anh vẫn tiếp tục làm việc. Năm 2009 anh chết do xuất huyết não. Anh có
mẹ đã 65 tuổi và hai con: một cháu 16 tuổi và một cháu 12 tuổi.
Xem xét tình huống của anhH và đối chiếu với những quy định pháp luật hiện hành, nhóm
chúng tôi xin tư vấn cho anh H và gia đình các quyền lợi an sinh xã hội như sau:
-
Anh H được hưởng chế độ tai nạn lao động hằng tháng.
Anh H được hưởng chế độ ốm đau khi vết thương tái phát.
Gia đình anh H được hưởng chế độ mai táng khi anh H chết
Mẹ và 2 con anh H có thể được hưởng tiền tuất hàng tháng.
Cụ thể các quyền lợi an sinh xã hội của anh H và gia đình anh H như sau:
1. Quyền lợi anh H được hưởng khi bị tai nạn lao động năm 2006: anh H được huởng
chế độ tai nạn lao động.
- Điều kiện hưởng:
Anh H là công dân Việt Nam, làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời
hạn cho công ty Y, do đó theo điểm a khoản 1 điều 2 Luật BHXH “1. Người lao động tham
gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:a) Người làm việc theo hợp
đồng lao động không xác định thời hạn...” mà theo điều 38 Luật BHXH thì “ Đối tượng áp
dụng chế độ tai nạn lao động... là người lao động quy định tại các điểm a,...khoản 1 Điều 2
của Luật này.” Như vậy anh H hoàn toàn là đối tượng được hưởng chế độ tai nạn lao động .
Trong tình huống nêu rõ anh H bị tai nạn lao động, do đó xác định anh H đủ điều
kiện hưởng chế độ tai nạn lao động.
-
Chế độ hưởng:
Sau khi điều trị ổn định tai nạn lao động, anh H được xác định là bị suy giảm khả
-Về thời điểm hưởng trợ cấp TNLĐ hằng tháng của anh H, Theo Khoản 4 Chương
III Mục B Thông tư 03/2008/TT-BLĐTBXH, anh H được hưởng trợ cấp từ tháng anh điều
trị xong ra viện hoặc từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa nếu anh H không
điều trị nội trú hoặc không xác định được thời điểm điều trị xong ra viện.
- Về chi phí chữa trị tai nạn lao động
Theo khoản 2 Điều 107 Bộ luật lao động “Người sử dụng lao động phải chịu toàn
bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động
hoặc bệnh nghề nghiệp.” Như vậy công ty Y phải trả toàn bộ chi phí điều trị cho anh H.
- Ngoài ra, nếu như anh H bị tổn thương bất kỳ bộ phận nào, chức năng nào của cơ
thể thì ngoài các khoản trợ cấp nêu trên , anh H còn được cấp phương tiện trợ giúp sinh
hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ theo tình trạng thương tật cụ thể của anh.
( quy định tại Điều 45 Luật BHXH) hoặc được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ nếu sau
khi điều trị TNLĐ còn yếu ( Điều 48 Luật BHXH)
2. Quyền lợi anh H được hưởng khi vết thương TNLĐ tái phát năm 2008
Năm 2006 anh bị tai nạn lao động, đến năm 2008 vết thương tái phát vào viện điều
trị 1 tháng. Trong trường hợp này, anh H điều trị là do vết thương TNLĐ tái phát và hiện
nay vấn đề nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể quyền lợi an sinh xã hội anh H được
huởng là gì? Nhóm xin đưa ra một số lập luận làm căn cứ để xác định quyền lợi anh H sẽ
được hưởng khi vết thương TNLĐ tái phát:
-Thứ nhất, khi NLĐ bị TNLĐ năm 2006, NSDLĐ đã chi trả toàn bộ chi phí điều trị
của NLĐ cho tới khi vết thương ổn định theo quy định Khoản 2 Điều 105; Khoản 2, Khoản
3 Điều 107, Điều 143 Bộ Luật Lao động, tức là NSDLĐ đã chịu trách nhiệm đầy đủ với
TNLĐ của NLĐ. Nên nếu NSDLĐ tiếp tục chi trả cho những lần tái phát về sau thì sẽ là
không hợp lý cũng như dễ tạo ra áp lực khi NSDLĐ phải chịu trách nhiệm quá lớn trước
TNLĐ của NLĐ.
Trang 3
việc.” Do đó, anh H được hưởng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm của tháng
liền kề trước khi anh H nghỉ việc điều trị vết thương
*. Anh H được thay đổi mức trợ cấp hàng tháng:
Năm 2006 anh bị tai nạn lao động được xác định suy giảm 33% khả năng lao động.
Năm 2008 vết thương tái phát anh phải vào viện điều trị 1 tháng. Sau khi ra viện anh được
xác định suy giảm 40% khả năng lao động nhưng anh vẫn tiếp tục làm việc. Trong khi đó,
khi điều trị TNLĐ, anh chỉ bị suy giảm 30% khả năng lao động. Tức là, đến năm 2008, mức
suy giảm khả năng lao động của anh H do TNLĐ đã tăng lên. Về điều nàỳ, tại điểm d
Khoản 5 Chương III Mục B Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH có hướng dẫn: “Đối với
người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng theo quy
định tại Điều 22 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP, khi giám định lại có mức suy giảm khả
năng lao động thay đổi thì mức trợ cấp hàng tháng mới được tính theo quy định tại khoản 3
mục III phần B Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH, trong đó mức trợ cấp tính theo mức
suy giảm khả năng lao động được tính trên mức suy giảm khả năng lao động mới; mức trợ
cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội là mức hiện hưởng” Hàng tháng anh H sẽ được
nhận khoản trợ cấp là:
+. trợ cấp hằng tháng theo mức độ suy giảm khả năng lao động: 0,3 x L min + (40 –
31) x 2% x Lmin = 49% x Lmin
+ trợ cấp hằng tháng tính theo số năm đóng bảo hiểm giữ nguyên mức hiện huởng,
tức 3,8% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi anh H nghỉ
việc để điều trị TNLĐ
-Về thời điểm hưởng trợ cấp: Theo điểm đ Khoản 5 Chương III Mục B Thông tư
03/2007/TT-BLĐTBXH thì thời điểm được hưởng mức trợ cấp mới tính từ tháng có kết
luận giám định lại của Hội đồng giám định y khoa.
*.Anh H được hưởng Bảo hiểm y tế:
Trang 5
Anh H là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn
và không thuộc các đối tượng quy định tại Điều 23 Luật bảo hiểm y tế. Vì vậy anh H sẽ
đương với thời gian anh H tham gia đóng BHXH là 15 năm.
Như đã phân tích ở trên ta xác định được: anh H là đối tượng thuộc điểm a khoản 1
Điều 63 Luật BHXH. Mặt khác, anh H được hưởng các chế độ chế độ tai nạn lao động hàng
tháng tức là anh H chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Mà tại điểm a khoản 1 Điều 64
Luật BHXH có quy định: “1. Các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này
thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng
tháng: a, Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ mười lăm năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm
xã hội một lần”
Theo đó, với việc anh H là đối tượng được hưởng trợ cấp mai táng theo khoản 1 Điều 63
Luật Bảo hiểm xã hội, đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm, anh chưa hưởng bảo hiểm xã
hội một lần thì anh H là trường hợp mà khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hàng
tháng ( điểm a khoản 1 Điều 64 Luật BHXH).
*. Thân nhân của anh H được hưởng tiền tuất hằng tháng:
Khi đã xác định anh H đủ điều kiện để thân nhân có thể được hưởng tiền tuất hàng
tháng, cần xác định trong số thân nhân của anh H thì ai có thể được hưởng tiền tuất hàng
tháng.
Theo đề bài, Anh H có mẹ 65 tuổi và hai con: một cháu 16 tuổi và một cháu 12 tuổi. Ta
xem xét đối với từng người:
-
Người con 12 tuổi của anh H:
Theo điểm a khoản 2 Điều 64 Luật BHXH thì “2. Thân nhân của các đối tượng quy định
tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm: a) Con chưa đủ mười
lăm tuổi”.
Trang 7
Như vậy, nguời con 12 tuổi của anh H hoàn toàn được hưởng tiền tuất hàng tháng.
-
+ Nếu mẹ anh H có thu nhập và mức thu nhập cao hơn mức lương tối thiểu chung tại
thời điểm anh H chết thì bà sẽ không được hưởng tiền tuất hàng tháng.
Tại khoản 2 điều 65 Luật BHXH cũng có quy định: “2. Trường hợp có một người chết
thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này thì số thân nhân được hưởng trợ
cấp tuất hằng tháng không quá bốn người”. tuy nhiên xét tất cả các truờng hợp thân nhân
của anh H có thể nhận trợ cấp tuất hàng tháng thì số người được hưởng tối đa cũng chỉ có
ba người nên không cần xem xét đến khả năng số người được hưởng trợ cấp tuất hàng
tháng vượt quá quy định của pháp luật.
*. Mức trợ cấp tuất hằng tháng:
Quy định về mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân, khoản1 Điều 65 Luật
BHXH có ghi rõ: “ 1. Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức
lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức
trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung.”
Như vậy, khi mẹ và hai con của H đã thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp tuất hằng
tháng thì mức trợ cấp tuất cũng khác nhau tuỳ thuộc vào việc những người thân nhân đó có
người trực tiếp nuôi dưỡng hay không. Cụ thể, nếu ai có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức
trợ cấp tuất hằng tháng của người đó bằng 50% mức lương tối thiểu chung. Nếu ai không có
người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng mà người đó được hưởng bằng
70% mức lương tối thiểu chung.
*. Thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng:
Căn cứ khoản 3 Điều 65 Luật BHXH xác định “3. Thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng
tháng được thực hiện kể từ tháng liền kề sau tháng mà người lao động… chết ” tức là thời
điểm mà thân nhân của anh H hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được thực hiện kể từ tháng liền
kề sau tháng mà anh H chết.
Đề bài 11: Giải quyết tình huống:
Trang 9
Anh H vào làm việc tại công ty Y từ tháng 6/1994. Năm 2006 anh bị tai nạn lao động được
xác định suy giảm 33% khả năng lao động. Năm 2008 vết thương tái phát anh phải vào viện