PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN CAO LÃNH
TRƯỜNG THCS MỸ HỘI
____________
HOÀNG QUỐC KHÁNH
GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG – KỸ NĂNG SỐNG
CHO ĐỘI VIÊN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cao Lãnh, tháng 3 năm 2013.
1
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
A. Phần mở đầu
01
B. Phần nội dung
03
Phòng Giáo dục và Đào tạo
PGDĐT
Trung học cơ sở
THCS
Học sinh
HS
Giáo viên
GV
Phụ huynh học sinh
PHHS
Kỹ năng sống
KNS
Giá trị sống
GTS
Đội viên
Với nội dung KNS hiện nay đã khá phổ biến nên trong giới hạn của đề
tài này tôi chủ yếu đề cập đến GTS, đây là nội dung được BGDĐT triển khai
trong năm học 2012-2013. Do đó, tôi chọn nội dung này để thực hiện đề tài
nhằm giúp cho ĐV nhận biết được giá trị và từ đó rèn luyện kỹ năng cho bản
thân thông qua việc tham gia tích cực vào các hoạt động do liên đội phát động
và tổ chức.
3
2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài ở trường THCS Mỹ Hội trong năm 2012-2013.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu đội viên.
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp điều tra thực tiễn giáo dục.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
4. Cấu trúc
Gồm: A. Phần mở đầu
B. Nội dung (03 phần)
C. Kết luận
4
B. Phần nội dung
I. Cơ sở lý luận
1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan
- Khái niệm giá trị tựu trung, có 2 loại giá trị cơ bản: giá trị kinh tế và giá
trị về tâm lý xã hội, trong đó giá trị kinh tế hướng tới chủ yếu thế giới vật thể,
* Nếu căn cứ vào ý nghĩa xã hội hay cá nhân của những mục đích mà
con người hướng tới, thì có 2 loại:
+ Định hướng giá trị xã hội: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân trong quan hệ với xã hội như lòng thương người, chấp hành luật pháp, lịch
sự nơi công cộng, biết ơn thế hệ trước...
+ Định hướng giá trị cá nhân: là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị trong
mối quan hệ với bản thân như lòng trung thực, sự khiêm tốn, vị tha, yêu cầu cao,
chấp nhận thử thách...
* Nếu căn cứ vào đối tượng của sự định hướng giá trị ta có:
+ Định hướng giá trị vật chất: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân hướng tới các giá trị vật chất như tiền bạc, của cải, cách làm giàu...
+ Định hướng giá trị tinh thần: tương tự trên nhưng hướng tới các giá trị
tinh thần như sự thanh thản, tình yêu nghệ thuật, yêu thương con người...
* Căn cứ vào ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những giá trị mà con
người đang theo đuổi ta có:
+ Định hướng giá trị tích cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân
hướng tới các giá trị tích cực như trung thực, thẳng thắn, giúp đỡ, thương người,
tự hào dân tộc...
+ Định hướng giá trị tiêu cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân
hướng tới các giá trị tiêu cực như dối trá, hèn nhát, ích kỷ...
Vai trò của định hướng giá trị sống
Định hướng giá trị giúp con người lập chương trình cho hành động
của mình trong một thời gian dài, quy định đường lối chiến lược cho hành vi,
đồng thời định hướng giá trị có thể quy định trực tiếp hành vi thậm chí từng thao
tác, động tác của con người.
Định hướng giá trị là nhân tố trung tâm chi phối mọi suy nghĩ, điều
chỉnh hành vi, hoạt động của con người, từ đó hướng hoạt động tới mục đích cơ
bản của cuộc đời.
6
nông thôn, tình trạng ngại ngùng, thiếu hiểu biết, ngại nói lên ý kiến của mình,
7
rụt rè không dám phát biểu, vô hình trung gây ra thiệt hại cho các em. Bởi vậy,
tùy theo từng trường hợp mà có những biện pháp giáo dục phù hợp. Trường
cũng cần phải xây dựng được quy ước ứng xử văn hóa. Thầy cô giáo, cán bộ,
phụ huynh phải gương mẫu. Muốn con tốt thì cha mẹ phải tốt, muốn trò tốt thì
GV phải tốt.
Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã hội đã làm cho các giá trị
đạo đức được bồi đắp thường xuyên trong suốt thời gian rèn luyện. Cùng với
thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và được lưu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc của nhân cách con
người.
3. Nhận định
Trong mỗi người chúng ta ai cũng đã có những giá trị nhưng chúng ta
chỉ thực hiện nó một cách tự phát. Vì vậy học giá trị sống để khơi dậy, làm sống
lại các giá trị trong chúng ta, từ đó chúng ta sống và làm việc theo các giá trị,
giúp cho mỗi con người ngày càng hoàn thiện hơn. Giúp các em ĐV hiểu các giá
trị sống để các em có khả năng sống hòa nhập và tự tin.
Có được phương pháp giáo dục GTS-KNS cho ĐV sẽ giúp GV rất nhiều
trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động trong nhà trường. GV hoàn toàn có
thể tổ chức các giờ dạy hay hoạt động giáo dục GTS-KNS một cách riêng biệt
hoặc lồng ghép trong dạy học các môn học mà GV đảm nhận.
Nghiên cứu này được viết lồng ghép giữa giáo dục GTS-KNS, trong đó
giáo dục GTS luôn là nền tảng và KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận
và thể hiện GTS. Chính vì vậy, khi GV tổ chức hoạt động giáo dục nếu trọng
tâm nghiêng về GTS thì cần chỉ ra những KNS nào cần hình thành và nếu hoạt
động trọng tâm nghiêng về KNS thì cần chỉ ra GTS nào làm nền tảng cơ bản cho
KNS đó.
cầu hóa.
Hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao: Vui chơi, giải trí là nhu cầu
thiết yếu của ĐV, đồng thời là quyền lợi của các em. Nó là một loại hoạt động
có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với ĐV. Hoạt động này làm thỏa mãn về tinh thần
cho ĐV sau những giờ học căng thẳng, góp phần rèn luyện một số phẩm chất:
tính tổ chức, kỉ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, lòng
9
nhân ái… Nói về hoạt động này thì trường đã tổ chức thực hiện thông qua Hội
khẻo Phù Đổng, các hội thao. Nhưng do điều kiện về cơ sở vật chất cũng như
trình độ chuyên môn của tổng phụ trách, của GV chưa thể đáp ứng được hết nhu
cầu của các em. Nhưng trường cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt
động này để hướng hoạt động đạt mục tiêu đã đề ra.
Hoạt động xã hội: Bước đầu đưa ĐV vào các hoạt động xã hội để giúp
các em nâng cao hiểu biết về con người, đất nước, xã hội. Đây là một hoạt động
tuy khó nhưng nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Thông qua hoạt động này,
các em ĐV sẽ được bồi dưỡng thêm về nhân cách, đặc biệt là tình người. Trong
thực tế, hoạt động này đã được nhà trường tiến hành tương đối tốt như Thăm mẹ
Việt Nam anh hùng, chăm sóc nhà bia tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ, ...
Nhưng, theo chúng tôi, hoạt động này phải được khai thác một cách triệt để
nhằm phát triển tối đa nhân cách ở các em ĐV.
Hoạt động lao động công ích: Đây là một loại hình đặc trưng của hoạt
động giáo dục ngoại khoá, giáo dục ngoài giờ lên lớp. Thông qua lao động công
ích sẽ giúp các em gắn bó với đời sống xã hội. Ngoài ra lao động công ích còn
góp phần làm cho ĐV hiểu thêm về giá trị lao động, từ đó giúp ĐV có ý thức lao
động lành mạnh. Lao động công ích giúp ĐV vận dụng kiến thức vào đời sống:
Trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường, chăm sóc hoa kiểng làm đẹp trường, lớp
giữ vững trường Xanh-Sạch-Đẹp. Đây là hoạt động thường xuyên là hoạt động
thật sự cần thiết giúp các em thích nghi với cuộc sống xung quanh. Sau này dù
tạo. ĐV cảm thấy thích thú, đồng thời tạo khí thế thoải mái cho tiết học sau.
- Tổ chức hoạt động giáo dục GTS-KNS cho ĐV ngày đầu tuần giúp
ĐV biến nhận thức thành hành động, nghĩa là không chỉ hiểu biết mà còn phải
làm được điều mình hiểu. Được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
dục thể thao; các trò chơi dân gian, hội thi tài năng, các hoạt động vui chơi khác
để phát huy vai trò chủ động, tích cực phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi ĐV, đạt
hiệu quả giáo dục nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa học đường.
- Đội viên tích cực tham gia cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng
tỉnh và đạt được giải C duy nhất trong huyện.
Với những việc làm trên liên đội đã được Hội đồng đội huyện ghi nhận,
xếp loại mạnh hạng nhất năm năm liền và được Hội đồng đội tỉnh đánh giá liên
đội mạnh cấp tỉnh.
11
C. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
- Đến thời điểm này, có thể đánh giá sự tích hợp giáo dục GTS-KNS vào
các hoạt động giáo dục là rất tốt, đã đáp ứng được những yêu cầu dự án.
- Tuy nhiên, không phải mọi việc đều hoàn hảo, vẫn còn một số ít PHHS
cũng như ĐV chưa bắt kịp quá trình thay đổi nhận thức và hành động nên chưa
nhiệt tình tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường.
Trong cách giáo dục mới, đội viên được giúp đỡ để biết mình là ai, mình
muốn gì, có mục đích gì trong cuộc sống, biết dung hòa giữa cái tôi và cái chúng
ta và có những chọn lựa và quyết định đúng trước những biến cố do cuộc sống
đưa đến. Để có năng lực tâm lý xã hội này, đội viên được dạy các GTS-KNS
như: ý thức về bản thân, thấu cảm với người khác, suy nghĩ sáng tạo và có phán
đoán, truyền thông và giao tiếp có hiệu quả, giải quyết vấn đề, lấy quyết định,
ứng phó với cảm xúc và stress... các kỹ năng này có thể được dạy riêng, nhưng
thường thì được lồng ghép trong giáo dục sức khoẻ nói chung và sức khoẻ sinh
của Hiệu trưởng tựa như một “nhạc trưởng” là cực kỳ quan trọng. Nội dung đã
được ban hành. Nay muốn nó được áp dụng tốt, những “nhạc trưởng” này cần
khẩn trương triển khai đúng tiến độ và thường xuyên giám sát, kiểm tra bảo đảm
duy trì tốt, không để bị rơi vào tình trạng “đầu voi đuôi chuột” như không ít các
phong trào khác. Trên cơ sở đó, thực hiện một sự “đột biến” về chất lượng giáo
dục của ngành ta ngay từ bậc tiểu học và trung học cơ sở, rồi mở rộng ra toàn
ngành, nhằm đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới.
13
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH
1. Ưu điểm chính
....................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
2. Tồn tại cần khắc phục
....................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
3. Kết quả thực hiện tại đơn vị
....................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................