CỘ
NG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
************
CHUYÊN ĐỀ:
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY VÀ BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI QUỐC GIA TRONG GIẢNG DẠY PHẦN LỊCH
SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954”
Tác giả: NGUYỄN THÙY HƯƠNG
Đơn vị: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy - Ninh Bình
A.
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Trong tiến trình Lịch sử Việt Nam nói chung và Lịch sử Việt Nam hiện
đại từ năm 1919 đến năm 2000 nói riêng, giai đoạn Lịch sử Việt Nam 19451954 là một trong những nội dung quan trọng. Giai đoạn lịch sử này tuy kéo
dài 9 năm nhưng khối lượng kiến thức nhiều, có những vấn đề phức tạp, đòi
hỏi học sinh không chỉ có kiến thức tốt, mà còn phải có trình độ tư duy, khái
quát cao… Phần kiến thức của giai đoạn lịch sử này cũng là một trong những
nội dung chính của đề thi THPT Quốc gia, của các đề thi chọn học sinh giỏi
cấp Tỉnh, cấp Quốc gia hàng năm.
Do vậy, giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THPT nói chung
và các trường THPT chuyên nói riêng cần phải trang bị tốt kiến thức giai
đoạn lịch sử này cho các em học sinh, để giúp các em có một hành trang
đã học để hiểu biết kiến thức mới thì học sinh không thể nào giải quyết được
các vấn đề đặt ra của đề thi học sinh giỏi các cấp. Muốn học sinh có những
phẩm chất trên, vai trò của người thày là rất lớn.
Trong những năm được phân công giảng dạy ở lớp chuyên Sử và tham
gia bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử, khi dạy và ôn luyện phần
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954, tôi đã tích lũy được một số kinh
nghiệm sau:
I.
LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY
Căn cứ vào SGK Lịch sử 12 Nâng cao, giáo trình Lịch sử Việt Nam
1945-1954 (PGS.TS Trần Bá Đệ chủ biên, NXB Đại học Sư phạm 2008), tôi
chia giai đoạn Lịch sử Việt Nam 1945-1954 thành các chuyên đề nhằm thuận
tiện hơn trong việc lựa chọn nội dung kiến thức để giảng dạy:
1. Chuyên đề: Việt Nam trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám
(1945-1946)
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
- Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam sau khi Cách mạng tháng Tám
thành công.
3
- Công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền sau khi Cách mạng tháng Tám
thành công.
- Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ.
- Cuộc đấu tranh ngoại giao từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946.
2. Kháng chiến bùng nổ và Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
của Đảng (1946-1954)
6. Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945-1954)
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
- Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (19451954)
- Ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Sau khi phân chia thành các chuyên đề cũng như lựa chọn nội dung
kiến thức của chuyên đề như trên, ở mỗi chuyên đề tôi thực hiện các bước
như sau:
-
Xác định các vấn đề cơ bản và các sự kiện tiêu biểu.
Xác định mối quan hệ, tác động giữa tình hình thế giới với tình hình
trong nước, của sự kiện trước với sự kiện sau, của giai đoạn 1945-1954
-
với giai đoạn khác.
Tái hiện sự kiện một cách chính xác, khoa học trên quan điểm sử học
-
mác-xít.
Cuối mỗi chuyên đề đưa ra những câu hỏi để ôn tập, củng cố.
II.
LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP DẠY
Lâu nay, theo quan niệm của nhiều người, thậm chí là của cả một bộ
phận giáo viên dạy Lịch sử cho rằng: Lịch sử là một môn học thuộc, chỉ cần
một cách tích cực, không trở thành học sinh giỏi được.
Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT nói chung, bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng đầu tiên phải hình thành mục tiêu,
động cơ, thái độ học tập đúng đắn, tức là người thày phải khơi gợi được hứng
thú của học sinh đối với việc học tập, giúp các em xác định được mục đích
học tập. Công việc này được thường được tiến hành trong bài mở đầu, tiết
6
học đầu tiên, nhưng vẫn có thể được nhắc lại nhiều lần trong suốt quá trình
giảng dạy ở lớp chuyên Sử.
Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh có thể được tạo ra bằng sức
mạnh của nội dung bài học: Trong bài mở đầu, giáo viên giúp học sinh thấy
được mục đích, yêu cầu của học kì, của năm học, thậm chí của cả cấp học
đồng thời biết nêu ra 1 số vấn đề trong nội dung học tập có khả năng khêu
gợi hứng thú của học sinh, khiến các em khao khát muốn được biết, muốn
được chiếm lĩnh tri thức, từ đó kích thích tính tích cực học tập của học sinh.
Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh cũng có thể được tạo ra bởi
quyền lợi được hưởng của các em (được khen thưởng, được cộng điểm hoặc
được vào thẳng 1 số trường Đại học, Cao đẳng…).
Thông qua việc được giáo viên truyền cảm hứng trong những tiết học
đầu tiên, học sinh xác định được mục tiêu học tập, có động cơ, hứng thú
trong học tập môn Lịch sử, đây chính là khởi nguồn để phát huy tính tích cực
của các em trong học tập, là tiền đề để có học sinh giỏi bộ môn Lịch sử.
II.2. Trang bị cho học sinh những kĩ năng học và làm bài
II.2.a. Kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử
Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cũng như
trong học tập. Trong học tập Lịch sử, việc ghi nhớ kiến thức vô cùng quan
trọng, là cơ sở để học sinh đi sâu, tìm hiểu bản chất của các sự kiện, hiện
điểm...), và tài liệu tham khảo.
II.2.a.4. Ghi nhớ nhân vật lịch sử:
Lịch sử là do con người sáng tạo nên, hoạt động của các nhân vật góp
phần cụ thể hóa quá trình phát triển của lịch sử, của một chế độ chính trị liên
quan đến nhân vật đó. Để nhớ các nhân vật lịch sử, giáo viên hướng dẫn cho
học sinh các cách:
- Nêu đặc điểm của nhân vật, kết hợp với tranh ảnh chân dung
- “Lấy người nói việc”
- “Lấy việc nói người”
- Nhớ câu nói nổi tiếng của nhân vật hay câu nói của những người nổi
tiếng về một nhân vật nào đó…
8
II.2.b. Kĩ năng tư duy lịch sử
Tư duy lịch sử là một hoạt động trí tuệ, giúp con người đi sâu vào nhận
thức bản chất sự kiện, hiện tượng cũng như mối liên hệ, quan hệ có tính quy
luật giữa chúng. Đặc điểm của tư duy lịch sử là: biết miêu tả, khôi phục lại
những sự kiện lịch sử quá khứ trên cơ sở tài liệu; nêu được nguyên nhân xuất
hiện của sự kiện lịch sử; xác định được điều kiện, hoàn cảnh, những mối liên
hệ của các sự kiện; nhận biết tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm rút ra từ
sự kiện, nhất là những sự kiện lớn, quan trọng; xác định động cơ hoạt động
của những tầng lớp, tập đoàn, cá nhân trong lịch sử; biết liên hệ, so sánh, đối
chiếu sự kiện lịch sử với đời sống và rút ra bài học kinh nghiệm...
Theo tôi, đối với học sinh nói chung và học sinh chuyên Sử nói riêng,
rất cần thiết phải được phát triển kĩ năng tư duy lịch sử. Có kĩ năng tư duy
lịch sử, học sinh mới hiểu được lịch sử, say mê lịch sử và bộ môn Lịch sử
mới phát huy hết giá trị “ôn cố tri tân” của mình - tức là học quá khứ để hiểu
biết hiện tại và dự đoán tương lai. Nếu không có kĩ năng tư duy lịch sử thì đối
với học sinh, môn Lịch sử chỉ là một môn học khô khan, chán ngấy, với một
Bảng so sánh là loại đồ dùng trực quan qui ước dùng để đối chiếu, so
sánh nhằm làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Qua việc giáo viên sử dụng Bảng so sánh khi giảng dạy và hướng dẫn học
sinh cách lập Bảng so sánh, kĩ năng tư duy đối sánh của học sinh được phát
triển.
II.2.c. Kĩ năng sử dụng sơ đồ lịch sử và sơ đồ tư duy trong học tập
Sơ đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung một
sự kiện, hiện tượng lịch sử bằng những mô hình hình học đơn giản để học
sinh nắm được những nét đặc trưng của mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử và
nêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Sơ đồ tư duy là một hình thức “ghi chép” bằng cách kết hợp việc sử
dụng đồng thời những “từ khóa”, hình ảnh, đường nét, màu sắc với sự tư duy
tích cực, nhằm tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa kiến
thức của một chủ đề, hay cách giải của một dạng bài tập… So với sơ đồ lịch
10
sử, sơ đồ tư duy mới được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006, nhưng vẫn chưa
được ứng dụng đại trà trong dạy học Lịch sử.
Để giúp học sinh học tập bộ môn hiệu quả, nhiều lần tôi đã sử dụng và
hướng dẫn học sinh sử dụng 2 loại sơ đồ này. Tuy nhiên do điều kiện cơ sở
vật chất nhà trường, nên việc áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy - học mới chỉ
dừng lại ở cách lập truyền thống với hình thức đơn giản nhất (dùng phấn, bút,
bảng, giấy).
II.2.c.1. Hướng dẫn học sinh kĩ năng xây dựng sơ đồ lịch sử và trình bày kiến
thức qua sơ đồ:
- Bước 1: Xây dựng khung sơ đồ.
Xác định kiến thức cơ bản nhất và mã hóa bằng các hình quy ước để
làm khung sơ đồ (sử dụng các hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn…)
Đề thi học sinh giỏi gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi có thể đề cập tới
một hoặc nhiều sự kiện, vấn đề. Các câu hỏi trong đề thi học sinh giỏi nhất là
cấp Quốc gia thường ra theo các cấp độ nhận thức như sau:
- Nhận biết: thể hiện qua các động từ “nêu, liệt kê, trình bày, kể tên,
nhận biết…”.
- Thông hiểu: thể hiện qua các động từ “hiểu được, giải thích, phân
biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát…”.
- Vận dụng (bậc thấp): thể hiện qua các động từ “xác định, dự đoán,
thiết lập liên hệ, phân biệt, chứng minh, phân tích, so sánh…”.
- Vận dụng (bậc cao): thể hiện qua các động từ “bình luận, nhận xét,
đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn…”.
Để làm một bài thi tốt, cần phải xác định đúng đề bài, xác định đúng
yêu cầu về kiến thức và kĩ năng làm từng câu hỏi: câu hỏi yêu cầu trình bày
kiến thức nào, diễn ra trong thời gian nào, không gian nào; làm theo cách
nào. Vì vậy, nếu không hiểu kĩ đề và không biết cách giải quyết các câu hỏi
thì khó có thể bài bài đúng, đủ nội dung, không thể đạt kết quả cao. Để học
sinh có những kĩ năng này, tôi thường rèn luyện cho các em theo các bước
sau:
12
- Nhất thiết phải dành thời gian từ 10-15 phút/ 180 phút của bài thi để đọc,
hiểu những yêu cầu, nội dung cơ bản của mỗi câu hỏi là gì.
- Gạch vào tờ đề hoặc viết ra giấy nháp những từ, cụm từ quan trọng, từ đó
tìm ra những ý chính, vấn đề chính cần quan tâm; chú ý những thuật ngữ lịch
sử có trong các “từ khóa” của đề.
- Sắp xếp các ý chính theo trình tự thời gian và tầm quan trọng để giải quyết
vấn đề được đặt ra.
Kĩ năng nhận thức đề và giải quyết đề rất quan trọng, tuy những thao
đối với những câu có yêu cầu “bình luận”, hoặc “trình bày suy nghĩ”. Đa số
các câu hỏi khác không cần thiết mở bài mà nên trình bày thẳng vào vấn đề.
- Trong một câu của bài làm có thể gồm nhiều luận điểm, mỗi luận điểm cần
phải có các luận cứ và dẫn chứng. Khi trình bày xong một luận điểm cần
xuống dòng, tránh trường hợp viết liên tục kéo dài hàng trang, nhưng cũng
tránh trường hợp gạch đầu dòng một cách tùy tiện.
- Cách thức diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, đúng ngữ pháp, không sai chính tả.
- Bài làm cần thể hiện được cảm xúc của người viết một cách phong phú, đa
dạng, hấp dẫn, có sức thuyết phục.
- Chữ viết rõ ràng, sạch đẹp thì càng tốt.
Kĩ năng làm bài của học sinh cần được rèn luyện thường xuyên, đặc
biệt nhất là trong thời gian ôn luyện chuẩn bị cho một kì thi. Học sinh chỉ có
thể đạt kết quả cao trong một kì thi nếu hội tụ đầy đủ các yếu tố: chuẩn bị kĩ
về mặt kiến thức và nắm chắc các kĩ năng làm bài. Do vậy, trong thời gian ôn
luyện, giáo viên cần tăng cường giao bài tập về nhà, bố trí thời gian để học
sinh làm bài kiểm tra viết ngay trên lớp, sau đó chấm, trả bài nghiêm túc kèm
những nhận xét, đánh giá khách quan, chính xác. Việc làm này giúp học sinh
nhận thức rõ ưu, nhược điểm của bản thân, rèn luyện kĩ năng viết bài của các
em ngày càng thuần thục để chinh phục các kì thi.
II.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực học
sinh.
II.3.a. Câu hỏi ôn tập lịch sử chính là những nội dung kiến thức cơ bản
nhất, quan trọng nhất của một giai đoạn lịch sử hoặc một khóa trình lịch sử
14
được cụ thể hóa dưới những dạng câu hỏi khác nhau, bắt buộc học sinh phải
nắm vững kiến thức mới giải quyết được.
Muốn nâng cao chất lượng dạy, học và bồi dưỡng học sinh giỏi môn
Lịch sử, trong mỗi bài, mỗi chương, mỗi giai đoạn lịch sử, người giáo viên
nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn…
II.3.b. Xây dựng hệ thống câu hỏi ba cấp độ nhận thức khi ôn luyện
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954
Câu 1: Trình bày những thuận lợi và khó khăn và thuận lợi của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành
công.
Câu 2: Tại sao nói ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”?
Câu 3: Phân tích thái độ chính trị của các thế lực ngoại xâm để xác định kẻ
thù chính của nhân dân Việt Nam sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945
thành công.
Câu 4: Phân tích chủ trương, sách lược của Đảng, Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đối với các thế lực ngoại xâm phương Bắc sau ngày Cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công, rút ra bài học cho cuộc đấu tranh bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ trong giai đoạn hiện nay.
Câu 5: So sánh chủ trương, sách lược của Đảng, Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đối với thực dân Pháp trước ngày 6/3/1946 và sau ngày
6/3/1946.
Câu 6: Vì sao Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cuộc
Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ngày 19/12/1946?
Câu 7: Phải chăng Đảng, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoàn
toàn bị động khi phát động cuộc Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
ngày 19/12/1946?
Câu 8: Hãy xác định trách nhiệm của các thế lực đế quốc đối với sự bùng nổ
của cuộc chiến tranh ở Đông Dương (1945-1954).
Câu 9: Phân tích đường lối kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp của
Đảng ta từ năm 1946 đến năm 1954.
16
Câu 21: Trình bày nội dung cơ bản của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt
Nam. Tại sao văn kiện này còn nhiều hạn chế nhìn từ phía quyền lợi của 3
dân tộc Đông Dương?
Câu 22: Phân tích những nguyên nhân làm nên thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), nguyên nhân nào có ý nghĩa quyết
định nhất?
Câu 23: Trình bày khái quát cuộc đấu tranh bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản
của nhân dân Việt Nam từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954.
II.3.c. Gợi ý trả lời một số câu hỏi
Câu 3: Phân tích thái độ chính trị của các thế lực ngoại xâm để xác định kẻ
thù chính của nhân dân Việt Nam sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945
thành công.
- Khẳng định: sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ở Việt
Nam có nhiều thế lực ngoại xâm (kể tên …)
- Phân tích:
+ Quân đội Nhật Bản: bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, đang chờ
quân Đồng minh giải giáp để hồi hương. Mặc dù chúng có những hành động
để chống phá Cách mạng Việt Nam nhưng chúng không còn là kẻ thù trực
tiếp của Cách mạng Việt Nam như trong Cách mạng tháng Tám nữa…
+ Quân đội Anh: vào Việt Nam dưới danh nghĩa quân Đồng minh làm nhiệm
vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật ở phía nam Vĩ tuyến 16. Nhưng Đông
Dương vốn là thuộc địa truyền thống của thực dân Pháp, lại thêm thực dân
Anh đang phải lo đối phó với phong trào giải phóng dân tộc lên cao ở các
thuộc địa Anh, nên chúng không có khả năng ở lại Đông Dương lâu dài.
Thực dân Anh giúp Pháp trở lại Đông Dương …
+ Quân đội Trung Hoa dân quốc: vào Việt Nam dưới danh nghĩa quân Đồng
minh làm nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật ở phía bắc Vĩ tuyến 16.
Nhưng họ phải lo đối phó với lực lượng cách mạng do Đảng Cộng sản Trung
Câu 16: Phân tích âm mưu, thủ đoạn của Pháp-Mĩ từ thu-đông 1953 đến
xuân 1954.
19
* Âm mưu, thủ đoạn của Pháp-Mĩ thể hiện qua kế hoạch Nava:
- Sơ lược về tương quan lực lượng giữa ta và Pháp trong xuân hè 1953…
-> Nava được cử sang Đông Dương, đề ra kế hoạch mới…
- Âm mưu (kế hoạch Nava):
+ Bước 1: trong cuối 1953 đầu 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ,
tiến công chiến lược ở Trung Bộ và Nam Đông Dương…; phát triển ngụy
quân, xây dựng đội quân cơ động chiến lược mạnh…
- Bước 2: từ thu đông 1954, thực hiện tiến công chiến lược ở Bắc Bộ, cố
giành thắng lợi quân sự quyết định…
- Thủ đoạn: tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44/84 tiểu đoàn toàn Đông Dương;
càn quét, bình định vùng chiếm đóng; quấy rối ở biên giới phía Bắc; mở cuộc
tiến công lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa (10/1953)…
=> NX: kế hoạch Nava là kế hoạch quân sự có qui mô rộng lớn, chứa đầy
tham vọng của Pháp-Mĩ. Tuy nhiên, kế hoạch này lại đặt ra trong thế thua,
nên nó là 1 kế hoạch liều lĩnh, phiêu lưu, chứa đựng đầy mâu thuẫn giữa tập
trung và phân tán lực lượng, giữa thế và lực của quân Pháp với mục tiêu
chiến lược mà chúng đặt ra.
* Âm mưu, thủ đoạn của Pháp-Mĩ ở Điện Biên Phủ:
- Sơ lược về tương quan lực lượng giữa ta và Pháp trong đông xuân 19531954…
- Âm mưu: Chọn Điện Biên Phủ làm khâu chính của kế hoạch Nava, xây
dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương
- Thủ đoạn: tập trung ở Điện Biên Phủ 16.200 quân, thiết lập hệ thống phòng
thủ chặt chẽ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu…
=> NX: Điện Biên Phủ từ chỗ không có trong kế hoạch lại trở thành trung
tâm của kế hoạch. Dù Điện Biên Phủ được xây dựng hoàn hảo, binh lực
- Phương hướng chiến lược của ta đông xuân 1953-1954…
- Nêu 4 hướng tiến công: Tây Bắc…; Trung Lào…; Thượng Lào…; Bắc Tây
Nguyên…
- Đánh giá:
21
+ Cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953-1954 đã đánh vào những hướng
quan trọng mà địch không thể bỏ, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối
phó…
+ Làm kế hoạch Nava bị đảo lộn, phải điều chỉnh…-> Do những thất bại trên
chiến trường, cộng thêm những khó khăn trong nước, buộc Pháp phải chấp
nhận triệu tập Hội nghị Giơ-ne-vơ (3/1954), chấp nhận mời đại diện của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (2/5/1954 ) ...
* Thắng lợi tác động tới việc kí kết Hiệp định Giơ-ne-vơ là chiến thắng Điện
Biên Phủ 1954:
- Sơ lược âm mưu, thủ đoạn của Pháp tại Điện Biên Phủ …
- 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện
Biên Phủ …
- Sơ lược về 3 giai đoạn của chiến dịch Điện Biên Phủ …
- Đánh giá: chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 đã làm kế hoạch Nava bị phá
sản hoàn toàn; giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp…
-> Đây là thắng lợi quân sự quyết định đưa đến việc kí kết Hiệp định Giơ-nevơ ngày 21/7/1954 về Đông Dương.
C.
KẾT QUẢ
22
24