Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh huyện Lạc Thủy, tỉnh HòaBình với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn cơ sở - Pdf 33

LỜI CẢM ƠN!
Qua quá trình học tập phấn đấu và rèn luyện tại Học viện TTN Việt Nam,
được sự quan tâm giúp đõ dạy bảo tận tình của Ban giám đóc học viện, phòng
quản lý đào tạo, cô giáo chủ nhiệm,các thầy cô các khoa phòng toàn học viện
đã truyền đạt những kiến thức cơ bản, kinh nghiệm quý báu về lý luận chính
trị và nghiệp vụ Đoàn-Hội-Đội cho học viên nói chung và bản thân em nói
riêng.
Với những tình cảm sâu sắc và lòng biết ơn vô hạn, em xin gưi lời cảm ơn
chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo trong Học Viện, đặc biệt là cô giáo
Thạc sỹ An Thị Mai đã trực tiếp quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận
tình và đóng góp những ý kiến hết sức quý báu giúp đỡ em trong quá trình
hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong BCH, BTV huyện Lạc Thủy
đã cung cấp những tài liệu,những số liệu chính xác, cụ thể để giúp em hoàn
thành tiểu luận này được thuyết phục hơn.
Do điều kiện thời gian, kiến thức, trình độ có hạn nên tiểu luận này em
không thể nghiên cưú sâu công tác đào tạo đội ngũ các bộ trong giai đoạn
hiện nay, mà chỉ dừng lại ỏ các kiến nghị giải phap trước mắt, còn nhiều vấn
đề cần có thời gian nghiên cứu thêm.
Qua đó tiểu luận không thể tránh khỏi được những thiếu sót, chưa hoàn
chỉnh. Rất mong cac thầy cô, các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến chỉ bảo để
em ngày một tiến bộ và tiểu luận hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên
BÙI CHÍ THỨC

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

trên địa bàn huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ Đoàn cơ sở đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
- Phân tích thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn cơ sở
trên địa bàn huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở.
3. Đối tượng nghiên cứu
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở huyện Lạc Thủy.
4. Khách thể nghiên cứu
- Đội ngũ cán bộ Đoàn huyện Lạc Thủy.
- Các cơ quan trung tâm, trung tâm đào tạo cán bộ Đoàn cấp cơ sở.
- Các cấp ủy Đảng, chính quyền liên quan đến công tác Đoàn.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Lạc Thủy.
- Thời gian: từ năm 2010 đến nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc tài liệu.
- Phương pháp duy vật – biện chứng.
- Phương pháp logic – lịch sử.
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá rút ra kinh nghiệm.
- Phương pháp điều tra xã hội học.

4


7. Kết cấu tiểu luận

của thanh niên, là đội dự bị tin cậy của Đảng, đồng thời ĐTN cũng lãnh đạo
nhiều tổ chức xã hội khác của TTN
Cán bộ Đoàn phải là những người trẻ tuổi hoặc là những người có
“cái đầu trẻ”, là những người hành động có tính năng động, linh hoạt cao
nên tuổi của cán bộ Đoàn không quá xa so với tuổi ĐVTN; ( trừ một số ít
cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, hoặc một số chuyên gia). Nếu tuổi cán bộ
Đoàn cách biệt so với tuổi ĐVTN sẽ giảm tính " xông pha ", " lăn lộn "
nhạy bén trong hoạt động.
Cán bộ ĐTN là những người ưu tú, có giác ngộ chính trị, hiểu biết
thanh niên và có kỹ năng thành thạo trong việc tổ chức các hoạt động
thanh niên, có uy tín và có sức thu hút quần chúng trẻ tuổi, biết nói, biết
viết, biết lắng nghe và biết tổ chức chỉ đạo các hoạt động TTN.
6


Cán bộ Đoàn là cán bộ làm công tác chính trị - xã hội, nhưng do đặc
thù của đối tượng, vì vậy ngoài những yêu cầu về chuyên môn, nghiêp vụ,
cán bộ Đoàn còn phải có lòng nhiệt tình, có năng khiếu, kỹ năng nghiệp
vụ và phương pháp công tác TTN.
1.1.1.2 Công tác cán bộ Đoàn.
Công tác cán bộ Đoàn: Là bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ
của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn đáp ứng với yêu cầu
nhiệm vụ công tác Đoàn và phong trào TTN trong giai đoạn mới, nhân tố
quyết định sự vững mạnh của các tổ chức Đoàn – Hội – Đội, đồng thời
tích cực tham gia xây dựng Đảng và chính quyền trong thời kỳ mới. Công
tác cán bộ Đoàn là một hệ thống bao gồm các nội dung:
- Công tác đánh giá cán bộ.
- Công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
- Công tác quản lý, bố trí sử dụng cán bộ.

tốt, kẻ xấu mà bố trí sử dụng vào công việc cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy: “Dụng nhân như dụng mộc”. Có nhiều cách thức kinh nghiệm
khác nhau khi bố trí sử dụng con người. Những ai đã từng trải nghiệm, lăn
lộn với cuộc sống, từng công tác, tiếp xúc, va chạm với nhiều hạng
người.. thường tích lũy những kinh nghiệm hay về nhìn nhận con người.
Từ đó sẽ tìm ra được phương pháp hợp lý, bố trí sử dụng cán bộ.
1.1.1.4 Công tác bồi dưỡng cán bộ Đoàn
- Bồi dưỡng là tiếp tục trang bị kiến thức, kỹ năng để cán bộ làm
việc tốt hơn, hiệu quả hơn trong môi trường luôn thay đổi.
- Công tác bồi dưỡng cán bộ Đoàn là việc tiếp tục trang bị kiến thức,
kỹ năng chuyên môn công tác nghiệp vụ Đoàn phục vụ công tác.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về xây dựng
đội ngũ cán bộ.
1.1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là sự kế thừa và phát triển
sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lênin, cổ học tinh hoa và tổng kết sâu sắc từ thực
tiễn cách mạng Việt Nam. Qua kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, mức chính

8


xác, sự đúng đắn của đường lối chính sách tuỳ thuộc cuối cùng ở chất lượng
đội ngũ cán bộ và trình độ cán bộ.
Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc”, Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ
giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân
chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.
Lựa chọn cán bộ mới chỉ là khâu trong công tác cán bộ. Lựa chọn tốt
nhưng cần phải có giải pháp đào tạo, huấn luyện tích cực thì cán bộ mới có đủ
phẩm chất và năng lực để đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ chính

sẽ ảnh hưởng đến việc xác định đường lối, nhiệm vụ chính trị.
Hai là: Xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ phải trên cơ sở giữ
vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
Quán triệt quan điểm giai cấp trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ
cán bộ là vấn đề có tính nguyên tắc. Bất cứ giai cấp nào, chế độ xã hội nào
cũng có đường lối cán bộ riêng của mình, xây dựng đội ngũ cán bộ trung
thành và có khả năng thực hiện thắng lợi, lợi ích lý tưởng của giai cấp mình.
Quan điểm giai cấp thể hiện ở tinh thần đoàn kết, tập hợp rộng rãi các
loại cán bộ, trọng dụng mọi khâu nhân tài của đất nước, không kể người đó ở
trong Đảng hay ở ngoài Đảng, thuộc dân tộc, tôn giáo nào, người Việt Nam ở
trong nước hay ở nước ngoài. Không định kiến với những người trong quá
khứ có sai lầm nay đã hối cải và sửa chữa.
Ba là: Xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn với xây dựng tổ chức và đổi
mới cơ chế chính sách.
Đảng ta khẳng định: tổ chức mạnh khiến từng người mạnh và từng người
mạnh khiến cả tổ chức mạnh.
“Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”
Do đó, muốn có cán bộ tốt phải gắn công tác cán bộ với tổ chức, chăm
lo xây dựng tổ chức. Xây dựng tổ chức phải đi đôi với xây dựng con người và
xây dựng con người phải gắn liền với xây dựng tổ chức. Một tổ chức trong
sạch, lành mạnh tạo nên môi trường rèn luyện, đào tạo cán bộ trưởng thành và
phát triển tốt. Một tổ chức yếu kém có thể làm hư hỏng cán bộ.

10


Quan điểm này của Đảng còn thể hiện ở chỗ, trên cơ sở nhiệm vụ chính trị
mà xây dựng tổ chức, xác định cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn cán bộ. Căn cứ vào đó
mới lựa chọn, bố trí cán bộ cho phù hợp. Làm sao cán bộ luôn luôn thích ứng với

lập trường của giai cấp công nhân làm lập trường của mình trong đấu tranh cách
mạng. Đoàn thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam - lãnh tụ chính
trị của mình.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chủ tịch
Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đảng ta xác định Đoàn là lực
lượng cách mạng hùng hậu nhất. Là đội quân xung kích, đội dự bị tin cậy của
Đảng. Đảng tin tưởng tuyệt đối vào lực lượng cách mạng trẻ là ĐTN. Là đội
ngũ cán bộ trẻ, có trình độ kiến thức, sức khoẻ, xung kích đi đầu thực hiện
mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đảng ta khẳng định: Cán bộ Đoàn là một bộ phận của cán bộ Đảng, xây
dựng Đoàn vững mạnh là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng.
Cán bộ Đoàn là nguồn bổ sung cho cán bộ Đảng, Nhà nước và các tổ chức
khác. Đảng có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, sử dụng đội ngũ cán
bộ ĐTN trong các thời kì cách mạng và nhất là trong công cuộc đổi mới đất
nước hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí minh đã khẳng định: “Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng nay cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ Đoàn là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn cho Đảng, Nhà nước.
Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ Đoàn theo
phân cấp của Trung ương Đảng. Đồng thời có sự tham gia của BTV Đoàn.
Đảm bảo tính kế thừa và phát triển, tính dân chủ, công khai, chú trọng về tiêu
chuẩn và chất lượng trong công tác cán bộ của Đoàn
*Cán bộ Đoàn trong TTN.
Cán bộ Đoàn, Người “thủ lĩnh” của ĐVTN, là người định ra chủ trương,
nghị quyết hoạt động đồng thời cũng là người chỉ đạo tổ chức các hoạt động
nhằm thực hiện các chủ trương, nghị quyết đó. Là người vừa lãnh đạo, tổ
chức quản lí, vừa giáo dục, thuyết phục và là người bạn, đồng nghiệp tin cậy
của TTN. Để được lớp trẻ tin yêu, và quý mến, cán bộ Đoàn cần phải bảo đảm
một số yêu cầu sau:
- Cán bộ ĐTN phải được xuất thân từ phong trào, được quần chúng thanh
niên bầu ra phải có tín nhiệm trong ĐVTN.

nhân lực cho đất nước.

13


1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Những quy định chung của Nhà nước về tiêu chuẩn cán bộ công
chức, về đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn hiện nay
Đến nay, theo quy định của luật cán bộ, công chức tiêu chuẩn chung đối
với công chức bao gồm:
- Phải là công dân Việt Nam, mang một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.
Luật quốc tịch năm 2008 đã có sửa đổi và cho phép công dân Việt Nam được
mang nhiều quốc tịch. Nhưng hoạt động công vụ là một hoạt động nhân danh
quyền lực nhà nước, thực thi và thừa hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhân
dân, của xã hội và quốc gia. Công chức phải có nghĩa vụ trung thành với thể chế
chính trị, với Nhà nước. Vì vậy, nhất thiết công chức Việt Nam tham gia vào
công vụ phải là công dân Việt Nam và chỉ mang một quốc tịch là quốc tịch Việt
Nam. Luật không cho phép vừa mang quốc tịch Việt Nam vừa mang thêm quốc
tịch của nước khác. Thông lệ và tình hình chung ở các nước khác cũng vậy,
người đăng ký tuyển dụng vào công chức chỉ được phép mang một quốc tịch của
nước đó.
- Đạt độ tuổi quy định từ đủ 18 tuổi trở lên. Đây cũng là thời điểm mới
trong tuyển dụng công chức. Trước đây, pháp luật quy định tuổi đăng ký dự
tuyển công chức là từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi, một số trường hợp tuổi dự tuyển có
thể cao hơn nhưng không quá 45 tuổi. Quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền
lợi cho những người tham gia vào công chức khi đến tuổi được nghỉ chế độ
trong điều kiện chế độ bảo hiểm xã hội trước đây còn những hạn chế. Những
quy định như vậy đã hạn chế cơ hội của công dân, không tạo điều kiện thu hút
được người có tai năng ở khu vực tự tham gia vào công vụ. Do đó, Luật cán bộ,
công chức chỉ quy định tuổi tuyển dụng ở mức sàn – là từ đủ 18 tuổi trở lên – mà

tình cảm, nguyện vọng của TTN và quy luật tình cảm riêng của từng đối tượng.
*Người cán bộ Đoàn phải có tri thức, kinh nghiệm thực tiễn phù hợp vứi
đòi hỏi của thanh niên và xã hội giao cho:
- Tri thức và kinh nghiệm của người cán bộ Đoàn mang tính tổng hợp
cao vì công tác Đoàn thực chất là công tác con người mà con người ở đây là
con người trẻ tuổi ở mọi lĩnh vực, mọi đối tượng. Do vậy người cán bộ Đoàn
không chỉ có kĩ năng nghiệp vụ công tác mà còn phải ham hiểu các kiến thức
về một số chuyên ngành có tính tổng hợp trong khoa học quản lí, giáo dục,
chuyên môn, pháp luật.

15


- Tri thức và kinh nghiệm của người cán bộ Đoàn là sự hòa quyện giữa tri
thức lí luận và kinh nghiệm thực tiễn, tri thức khoa học và kinh nghiệm bản thân,
chỉ có như thế người cán bộ Đoàn mới vừa đảm bảo được tính chung, vừa đúng
với tính, cá biệt, vừa đảm bảo tính khoa học vừa đảm bảo tính thực tế.
*Người cán bộ Đoàn phải có lập trường chính trị, phẩm chất đạo đức
cách mạng, phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn:
Phải có lập trường chính trị vững vàng, kiên định con đường đổi mới đất
nước. Lí tưởng cách mạng của người cán bộ Đoàn phải được xây dựng trên
nền tảng lí luận và phương pháp luận Mác xít. Người cán bộ Đoàn cần phải
có năng lực về thẩm mĩ và phát triển năng lực thẩm mĩ tương ứng với yêu cầu
nhiệm vụ được giao, đó là sự hiểu biết về cái đẹp, sự đam mê về cái đẹp hòa
quyện với đam mê công việc, nhạy bén với các giá trị thẩm mĩ trong các vấn
đề chính trị - xã hội.
* Tự nguyện, nhiệt tình và ham thích hoạt động xã hội.
Lao động của người cán bộ Đoàn rất khác với của cán bộ các tổ chức,
các ngành nghề khác, là loại lao động đòi hỏi sự tự nguyện, nhiệt tình cao.
Nếu không có sự tự nguyện và lòng nhiệt tình, người cán bộ Đoàn sẽ hoạt

sáng tạo, hấp dẫn để thu hút, tập hợp, đoàn kết thanh niên.
*Phong cách sống, làm việc năng động, trung thực nhân ái:
Công cuộc đổi mới đời sống xã hội và tốc độ phát triển của thế giới hiện
đại tất yếu dẫn đến sự ra đời một thế hệ thanh niên năng động, làm việc có
hiệu quả và chất lượng cao. Tuổi trẻ đòi hỏi rất cao ở cán bộ Đoàn tính trung
thực, dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ lợi ích của quần chúng, sống nhân
ái, vị tha, thương yêu, chia sẻ vui buồn với tuổi trẻ.
1.2.3 Những nội dung cần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở trong
giai đoạn hiện nay.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn là một nội dung quan trọng,
thường xuyên được các cấp bộ Đoàn tập trung thực hiện với quan điểm: vừa
chú trọng chất lượng, vừa mở rộng phạm vi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm
xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn có đủ trình độ, năng lực và đảm bảo về số
lượng để đảm đương nhiêm vụ theo yêu cầu.
17


Trong những năm qua công tác đào tạo cán bộ Đoàn cơ sở đã được đổi
mới về nội dung và chú trọng hơn về nghiệp vụ công tác Đoàn đáp ứng được
thực tiễn tại các địa phương, đã góp phần quan trọng trong chiến lược đào tạo
nguồn cán bộ cho Đảng và Nhà nước. Song bên cạnh những mặt đã đạt được
vẫn còn tồn tại những hạn chế, nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Đoàn vẫn còn nhiều bất cập, nặng về bồi dưỡng hơn là đào tạo, nội dung đào
tạo bồi dưỡng chưa chuyên sâu, chưa toàn diện, chỉ giải quyết được những
yêu cầu trước mắt mà chưa đáp ứng được mục tiêu căn cơ, lâu dài; một số bộ
phận cán bộ sau khi được đào tạo, bồi dưỡng chưa được phát huy tốt, vẫn còn
lúng túng trong tổ chức lao động, chưa chủ động sáng tạo trong công việc.
Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ yêu cầu công cuộc đổi mới đất
nước, xuất phát từ tính chất yêu cầu mới của thanh niên và công tác ĐTN
trong sự nghiệp CNH, HĐH do nhận thức của thanh niên càng ngày càng phát

169 người/1km2. Huyện Lạc Thủy có 13 xã và 2 thị trấn, với địa hình mang
tính chất đăc trưng trung chuyển giữa trung du và miền núi. Nhìn tổng thể địa
hình huyện có xu hướng thấp dần từ phía Bắc xuống Đông Nam, tương đối
phức tạp với nhiều đồ núi và đá vôi, xen kẽ la hệ thống sông suối.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng trong những năm qua đảng bộ, nhân dân huyện
Lạc Thủy đã đạt được những thành tựu to lớn, từ đó đời sống của nhân dân có
nhiều thay đổi. Những thành tựu đạt được đó có sự đóng góp của tuổi trẻ huyện
nhà, Đảng và nhân dân huyện Lạc Thủy đánh giá cao về những cống hiến trong
xây dựng và trưởng thành của những thế hệ thanh niên trong xã.
* Tình hình kinh tế – chính trị.
Trước, nền kinh tế huyện lạc thủy còn mang nặng tính tự cung tự cấp,
nền sản xuất kinh tế còn nhiều lạc hậu. Từ khi bước vào công cuộc đổi mới
(1986),theo đà phát triển chung của nền kinh tế đất nước, bộ mặt nông thôn
huyện có nhiều thay đổi khởi sắc, các ngành nghề sản xuất bước đầu phát
triển, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, nền kinh tế của huyện từ chỗ
chậm phát triển đã đạt được mưc tăng trưởng khá. Góp phần giúp cho tình
hình chính trị huyenj nhà được ôn định. Đó là tiền đề cho Lạc Thủy trở thành
19


huyện phát triển của tỉnh vào năm 2020.Từ xây dựng khá đồng bộ để phục vụ
cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của nhân dân chính từ đó đời sống nhân dân
ngày càng được nâng cao. Nền kinh tế phát triển cũng góp phần làm cho tình
hình chính trị ổn định.
* Về an ninh trật tự xã hội.
Thường xuyên quán triệt cho mọi cán bộ, chiến sĩ nắm vững quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của cấp trên về CTDV
trong thời kỳ mới, đặc biệt đối với địa bàn: vùng xa dân cư, vùng nông thôn.
Thường xuyên nâng cao cảnh giác, củng cố và xây dựng lực lượng dân
quân tự vệ, đảm bảo về số lượng và chất lượng, hàng năm tổ chức huấn luyện

cho nhân dân, được quan tâm thường xuyên. Đội ngũ cán bộ Y tế từ trung tâm
y tế huyện, đến các xã, được tăng cường. Mạng lưới y tế huyện xuống xã hoạt
động hiệu quả.Các chương trình y tế quốc gia như phòng chống sốt rét, bướu
cổ, phong, lao, dự án phòng chống HIV/AIDS, chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình … Đạt được kết quả cao.
- Về văn hoá - Thể thao: Phong trào văn nghệ thể dục thể thao được phát
triển rộng khắp. Hằng năm đều tổ chức các giải: Cầu lông, bóng đá, bóng bàn,
điền kinh… tạo nên phong trào sôi nổi rèn luyện sức khoẻ và chọn lựa vận
động viên tham gia các giải của tỉnh.
Phong trào xây dựng đời sống văn hoá, làng văn hoá, khu văn hoá, cơ
quan văn hoá, gia đình văn hoá đựơc tuyên truyền sâu rộng, tạo không khí thi
đua làm thay đổi bộ mặt văn hoá ở các khu dân cư, cơ quan, đơn vị.
- Về công tác xã hội : Uỷ ban nhân dân huyện chỉ đạo cụ thể với nhiều
chương trình nội dung, việc thực hiên chính sách với người nghỉ hưu, chế độ,
các gia đình có công với cách mạng, gia đình thương binh liệt sĩ, người có
hoàn cảnh khó khăn, trẻ mồ côi, đã được quan tâm giải quyết kịp thời, thường
xuyên
Thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển đi lên của
kinh tế, văn hoá, xã hội trong huyện được củng cố và tăng thêm niềm tin
trong nhân dân, đặc biệt là của thanh niên với Đảng, với Cách mạng.
Với những thành tựu dã đạt được trên các lĩnh vực trong các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong những năm qua, an ninh chính trị
được giữ vững trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nền kinh tế tăng trưởng
21


với tỉ lệ cao từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,
các tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi.
2.1.2 Đặc điểm công tác Đoàn và phong trào Thanh niên huyện Lạc
Thủy, tỉnh Hòa Bình.
* Công tác Đoàn:

Toàn huyện 270 chi Đoàn cơ sở( trong đó có 178 chi đoàn khu dân cư, 42
chi đoàn nhà trường, 01 chi đoàn công an, 12 chi đoàn cơ quan,37 chi đoàn
khối doanh nghiệp) với 7.378 đoàn viên.Có 01 ủy ban Hội LHTN với 23 chi
hội thanh niên với 578 hội viên. Đạt tỉ lệ thu hút 38,7%. Phát triển 212 đoàn
viên mới. Phân loại cơ sở đạt 100% cơ sở Đoàn trong sạch.
- Về cán bộ: Đội ngũ cán bộ trẻ, sôi nổi, nhiệt tình và có trách nhiệm cao.
Huyện Đoàn đã tổ chức nhiều buổi nói chuyện chuyên đề phong phú, tổ chức
được 8 lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ Đoàn và bí thư chi đoàn; Tổ chức 150
đoàn viên đi học lớp cảm tình Đảng. Hàng năm giới thiệu cho Đảng ủy huyện
kết nạp từ 40 đến 48 đoàn viên ưu tú được đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Kiện toàn, thay 07 đồng chí phó bí thư Đoàn.
Qua đó phần nào ta thấy được kết quả của Đoàn cơ sở huyện Lạc Thủy
tương đối tốt; tỉ lệ thanh niên được tập hợp là 86,7%, trong đó số lượng Đoàn
viên chiếm 66%, hàng năm số lượng đoàn viên mới được kết nạp luôn có xu
hướng tăng lên. Điều đó cho thấy công tác phát triển Đoàn, việc kiểm tra,
đánh giá đối vối chi Đoàn cơ sở được quan tâm, chú trọng.
Tổng số ủy viên Hội LHTN là 35. Trình độ chính trị: trung cấp chính trị 28
đồng chí.
*Phong trào thanh niên.
Thanh niên huyện Lạc Thủy là lực lượng đông đảo, đội quân xung kích
cách mạng đi đầu, thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh quốc phòng của huyện nhà, năng động sáng tạo, không cam chịu đói
nghèo, lạc hậu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tích cực
lao động, vươn lên xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh sư nghiệp CNH, HĐH đất
nước. Ngay từ đầu năm BTV huyện Đoàn Lạc Thủy đã chủ động xây dựng
kế hoạch chỉ đạo các chi đoàn đẩy mạnh công tác giáo dục của Đoàn, đổi mới
nội dung, hình thức theo hướng thiết thực có hiệu quả.

23



24


Nhìn chung công tác đào tạo đã được đổi mới về nội dung và chú trọng
hơn về nghiệp vụ công tác Đoàn đáp ứng được thực tiễn tại các địa phương
đơn vị. Trình độ cán bộ Đoàn hiên nay đã được nâng cao hơn rất nhiều so với
những năm trước đây. Hầu như cán bộ Đoàn cơ sở đã học hết trung học phổ
thông trở lên, có đồng chí đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học và một số đồng chí
đang học tai các lớp tại chức, sơ cấp chính trị. Tuy nhiên đối với đội ngũ cán
bộ Đoàn huyện Lạc Thủy cũng đang gặp không ít những vấn đề khó khăn và
phải quan tâm để giải quyết. Hầu hết cán bộ Đoàn chủ chốt ở cơ sở được rèn
luyện và phát triển ở các chi Đoàn nên còn thiếu, yếu về chuyên môn nghiệp
vụ, kỹ năng và phương pháp gặp nhiều vấn đề khó khăn trong chỉ đạo hoạt
động. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu
đặc ra ngân sách chi cho đào tạo còn hạn chế, đời sống của người cán bộ
Đoàn còn nhiều khó khăn. Đây là vấn đề quan tâm và cần giải quyết.
*Nội dung đào tạo:
- Về đối tượng: Tất cả các cán bộ Đoàn, từ cấp chi đoàn trở lên, kể kả cán bộ
Đoàn chuyên trách, cán bộ Đoàn đương nhiệm hoặc cán bộ Đoàn kế thừa đều cần
được đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được phân công.
- Về nội dung: Người cán bộ Đoàn cần được đào tạo một cách toàn diện với
những nội dung phù hợp với vị trí công tác, với đặc thù của khu vực, đối tượng,
phù hợp với điều kiện tổ chức của đơn vị. Cụ thể là những nội dung sau:
+ Lí luận cơ bản bao gồm lí luận chính trị và lí luận công tác thanh vận.
Trang bị những kiến thức mang tính nền tảng, những quan điểm về công tác
thanh niên, tạo tiền đề để người cán bộ Đoàn có thể nâng cao bản lĩnh và nhận
thức chính trị, phát huy khả năng tư duy, sáng tạo trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ của mình.
+ Nghiệp vụ- kĩ năng công tác Đoàn cả về phong trào và công tác xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status