Quản lý chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo mô hình Một cửa liên thông tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng - Pdf 33

MỤC LỤC
1.1.2. Cải cách thủ tục hành chính trong công cuộc xây dựng nền hành chính của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân..................13
1.2.1. Khái niệm cơ chế “Một cửa” – “Một cửa liên thông”............................................16
.........................................................................................................................................18
1.3. Quá trình triển khai cơ chế “Một cửa” và “Một cửa liên thông” ở nước ta..............19
1.3.1. Các mô hình thí điểm cơ chế “Một cửa”................................................................19
1.3.2. Cải cách hành chính từ cơ chế “ Một cửa” đến cơ chế “Một cửa liên thông” ở
nước ta..............................................................................................................................24
2.1.1. Những yếu tố tự nhiên và xã hội tác động đến tình hình cải cách thủ tục hành
chính và thực hiện cơ chế “Một cửa – Một cửa liên thông”tại UBND các quận của thành
phố Hải Phòng..................................................................................................................27
2.1.2. Sự cần thiết khách quan của việc thực hiện cơ chế “Một cửa – Một cửa liên thông”
tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng.................................................................28
2.2.1. Công tác chỉ đạo thực hiện.....................................................................................32
2.2.2. Nội dung các bước tiến hành để xây dựng và phát triển mô hình “một cửa liên
thông”...............................................................................................................................34
2.2.3. Vị trí, điều kiện làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính
theo cơ chế ‘‘một cửa liên thông’’ ( sau đây gọi tắt là bộ phận một cửa liên thông).......35
2.2.4. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ phận “một cửa liên thông” tại UBND các
quận trên địa bàn thành phố Hải Phòng...........................................................................36
2.2.5. Mô hình và quy trình giải quyết công việc của Bộ phận “một cửa liên thông” tại
UBND các quận thành phố Hải Phòng.............................................................................39
2.2.6. Quy định chung về trình tự, thủ tục hành chính các lĩnh vực giải quyết hồ sơ theo
cơ chế “Một cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân các quận Thành phố Hải Phòng........41
- Thông tư số 106/2010/TT – BTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn lệ phí
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất;..............................................................................................................................47
Trách nhiệm......................................................................................................................48
2.3.1.Những thành tựu chung...........................................................................................73
2.3.2. Các hạn chế và tồn tại.............................................................................................80

01/01/2004 triển khai thực hiện cơ chế “ Một cửa” tại cơ quan hành chính nhà
nước cấp tỉnh, cấp huyện; Ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 93/2007/QĐ – TTg về Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”,
“một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

2


Mô hình “ Một cửa liên thông” tại thành phố Hải Phòng đã qua quá
trình thí điểm và chính thức thực hiện từ ngày 14/2/2008 tại UBND quận Ngô
Quyền và 28/1/2009 tại UBND quận Kiến An cùng một số quận huyện khác.
Trải qua một thời gian thực hiện hiệu quả đạt được từ mô hình này là rất đáng
ghi nhận, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những bất cập, khó khăn từ việc thực
hiện cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa”. Như vậy việc nghiên cứu,
đánh giá hiệu quả thực hiện từ đó đề ra các giải pháp quản lý chất lượng mô
hình “Một cửa liên thông” có ý nghĩa quan trọng và thiết thực.
Lý do chọn UBND các quận của thành phố Hải Phòng( liên hệ UBND
quận Kiến an và Ngô Quyền) là nơi tìm hiểu khảo sát thực trạng và tìm ra
những giải pháp quản lý chất lượng mô hình “Một cửa liên thông” là:
Thứ nhất: Thành phố Hải phòng là một trong những địa phương đầu
tiên thực hiện điểm mô hình “Một cửa liên thông” . Đây là một địa bàn hành
chính khá rộng với quy mô dân số đông, trình độ dân trí khá đồng đều và
lượng hồ thủ tục hành chính tại đây là rất lớn đồng thời đây là một đơn vị đi
đầu trong tiến trình thực hiện cải cách hành chính trên cả nước.
Thứ hai: trong những năm gần đây đã có nhiều công trình đề tài nghiên
cứu về mô hình “Một cửa liên thông”, tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nào
đánh giá toàn diện từ góc độ khoa học hành chính về quản lý chất lượng theo
mô hình “Một cửa liên thông” tại UBND các quận trên địa bàn thành phố Hải
phòng
Thứ ba: Tác giả hiện đang làm việc tại UBND cấp quận (UBND quận

nhìn tổng quát xác thực về mô hình “Một cửa liên thông” đang được áp dụng
trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính trong thời
kỳ mới.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu là Bộ phận một cửa tại UBND các quận của Thành
phố Hải Phòng , cụ thể lấy thực tiễn tại Bộ phận Một cửa UBND quận Kiến
An và UBND quận Ngô Quyền…với lượng kiến thức và thời gian có hạn,
trong phạm vi nghiên cứu tác giả tiếp cận vấn đề từ một số góc độ nhất định
và xem xét đánh giá thực trạng cũng như đề xuất những giải pháp nhằm quản
4


lý chất lượng và mở rộng mô hình “Một cửa liên thông” ở một số tiêu chí nhất
định.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ đạo là duy vật biện chứng và lịch
sử, tác giả đã phối hợp sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu
Nghiên cứu các văn kiện Đảng, văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình và
các công trình, bài viết có liên quan nhằm xác định cơ sở lý luận của luận văn.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp thống kê
Các tài liệu thống kê đảm bảo giá trị pháp lý được sử dụng triệt để phục
vụ cho việc nghiên cứu.
+ Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên đã trực tiếp trao đổi, tham
khảo ý kiến của các cán bộ khoa học, các nhà quản lý có kinh nghiệm về các
vấn đề liên quan tới đề tài luận văn.
Ngoài ra đây là đề tài mang tính thực tiễn nên tác giả tiến hành phương
pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với công dân và một số cán bộ công chức


CHƯƠNG 1
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ THỰC HIỆN MÔ
HÌNH MỘT CỬA LIÊN THÔNG
1.1. Yêu cầu khách quan của cải cách thủ tục hành chính.
1.1.1. Khái niệm, vai trò của thủ tục hành chính trong quản lý hành
chính công.
Để hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành có hiệu quả cơ quan
hành chính phải đảm bảo tuân thủ nghiêm túc những quy tắc, chế tài, chế độ
được pháp luật quy định. Những quy tắc, chế tài, chế độ đó chính là những
quy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của cơ quan hành chính
khi thực thi chức năng quản lý hành chính công. Những quy định trên chính là
thủ tục hành chính.
Như vậy, thủ tục hành chính là trình tự, cách thức và thời gian nhà
nước đặt ra để các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng đảm bảo sự thống
nhất trong hoạt động thực thi luật pháp. Khoa học hành chính gọi chung
những quy định đó là những quy phạm thủ tục hay quy phạm hình thức. Tất
cả các quy tắc pháp lý quy định về trình tự giải quyết công việc của cơ quan
hành chính nhà nước tao thành hệ thống thủ tục hành chính.
Về cơ bản, thủ tục hành chính mang những đặc điểm cơ bản:
Một là: mọi thủ tục hành chính đều là tổng thể các hành động diễn ra
theo trình tự thời gian, không gian nhất định được cơ quan quản lý hành chính
nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức có thẩm quyền thực hiện dựa
trên những nguyên tắc do pháp luật quy định một cách chặt chẽ. Trong số các
loại thủ tục hành chính thì loại thủ tục giải quyết các tranh chấp về quyền và
xử lý vi phạm được quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh chặt chẽ hơn hết
vì nó liên quan đến việc bảo vệ quyền và thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể
luật hành chính, đến lợi ích của công dân và nhà nước.
Hai là: Đối tượng công việc cần thực hiện thủ tục hành chính rất khác
nhau liên quan đến nhiều khâu, nhiều cơ quan cho nên rất ít thủ tục hành

bãi bỏ hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bãi bỏ các
8


thủ tục hành chính liên quan đến chức năng quản lý của ngành nhưng không
còn phù hợp với yêu cầu thực tế.
Người dân, khi tham gia vào một thủ tục hành chính cụ thể, chẳng hạn
thủ tục đăng kí hộ tịch, thủ tục đăng ký kinh doanh, kê khai thuế… thì họ phải
biết rõ mình phải có nghĩa vụ tuân theo những quy định nào, phải cung cấp
những hồ sơ giấy tờ gì để được cơ quan có thẩm quyền đáp ứng nhu cầu đó.
Nếu người dân vì một lý do nào đó không nắm vững được những thủ tục này
thì chắc chắn họ không thể được cơ quan nhà nước đáp ứng nhu cầu. Mục tiêu
giao dịch với cơ quan công quyền không thực hiện được.
Dựa vào loại hình công việc cụ thể mà các cơ quan hành chính được
giao thực hiện trong quá trình hoạt động để phân loại các thủ tục hành chính
như: thủ tục ban hành văn bản trong cơ quan hành chính, thủ tục tuyển dụng
công chức, thủ tục thi đua khen thưởng, thủ tục kiểm tra báo cáo công tác của
đơn vị… Cán bộ, công chức khi tham gia vào thủ tục này cũng sẽ ý thức được
trách nhiệm của mình và dễ dàng định hướng trong công tác.
Trên cơ sở xem xét các quan hệ trong hoạt động của các cơ quan thuộc
bộ máy quản lý nhà nước, thủ tục hành chính được phân loại dựa trên quan hệ
công tác chia thành ba nhóm:
- Nhóm thủ tục hành chính nội bộ, là các thủ tục liên quan đến quan hệ
trong quá trình thực hiện các công việc nội bộ của cơ quan bao gồm các thủ
tục về quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cấp dưới, quan
hệ phối hợp giữa các cơ quan cùng cấp, quan hệ công tác giữa chính quyền
các cấp với các bộ, cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân.
- Nhóm thủ tục thực hiện thẩm quyền, là thủ tục tiến hành giải quyết
công việc liên quan đến quyền lợi và lợi tích hợp pháp của công dân, phòng
ngừa ngăn chặn nhưng hành vi vi phạm hành chính, trưng thu, trưng mua…

biệt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng yêu cầu hợp pháp của người
dân. Thủ tục hành chính có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quản lý hành
chính nhà nước và đời sống xã hội. Đó là những quy phạm hình thức thể hiện

10


của các quy phạm vật chất vào đời sống xã hội nên nếu thiếu thủ tục hành
chính thì các quy phạm vật chất không thể thực hiện được. Thủ tục hành
chính đảm bảo cho các quy phạm vật chất quy định trong các quyết định hành
chính được thi hành thuận lợi. Thủ tục hành chính tác động trực tiếp đếm hiệu
quả của các quyết định hành chính vì nó là khâu đảm bảo đưa quy phạm vật
chất vào thực hiện. Khi luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành vào ngày
01 tháng 7 năm 2003 trong đó có quy định trình tự cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên trong thực tế
vẫn chưa thể tiến hành cấp Giấy chứng nhận ngay được vì chưa có thủ tục
hành chính hướng dẫn cụ thể. Cho đến khi hàng loạt các văn bản hướng dẫn
ra đời, trong đó quy định rõ trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
nghĩa vụ tài chính, đối tượng cụ thể thực hiện nghĩa vụ tài chính… thì mới có
thể tiến hành trong thực tế.
Thủ tục hành chính còn tạo ra khả năng sáng tạo khi thực hiện các
quyết định quản lý, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý hành chính nhà
nước nếu nó được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý. Trong thủ tục cấp
giấy phép kinh doanh trước khi luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000, với quan
điểm phải kiểm tra chặt trẽ doanh nghiệp từ khi thành lập nên các văn bản quy
định trình tự, thủ tục giấy tờ để cấp giấy phép kinh doanh, thành lập doanh
nghiệp hết sức khó khăn, phức tạp. Một doanh nghiệp chỉ kinh doanh các mặt
hàng thông thường, muốn thành lập và đi vào hoạt động phải mất thời gian tối
thiểu là 30 ngày, chưa kể khoản thời gian cơ quan cấp phép yêu cầu bổ sung
hồ sơ, hoàn thành thủ tục xin cấp con dấu, kê khai vốn điều lệ ký quỹ tại ngân

được vận hành bởi một bộ máy hành chính hoàn thiện vì đây là hai mặt của
một vấn đề gắn bó chặt chẽ với nhau. Hai mặt này bổ xung, hoàn thiện lẫn
nhau để cho cả bộ máy hành chính vận hành một cách thống nhất, hiệu quả,
phát huy vai trò quan hệ mọi mặt đời sống xã hội.
Thủ tục hành chính còn là biểu hiện trình độ văn hóa của tổ chức, là
văn hóa giao tiếp, điều hành trong bộ máy nhà nước. Trình độ văn minh của
nền hành chính sẽ biểu hiện thông qua mối quan hệ giao tiếp của cơ quan nhà

12


nước, cán bộ, viên chức nhà nước đối với cá nhân, tổ chức khi họ có yêu cầu
công tác. Bởi vì, suy cho cùng thủ tục hành chính là chiếc cầu nối quan trọng
trong nội bộ cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước với dân, với các tổ
chức khác. Chính vì vai trò quan trọng như vậy cho nên thủ tục hành chính
phải được xây dựng một cách khoa học và có một bộ máy vận hành phù hợp.
Nếu không đảm bảo nguyên tắc này sẽ làm cho các quan hệ trong nội bộ cơ
quan nhà nước, giữa nhà nước với nhân dân lỏng lẻo, không những làm mất
lòng tin của nhân dân với nhà nước mà còn kìm hãm các quan hệ kinh tế - xã
hội phát triển.
1.1.2. Cải cách thủ tục hành chính trong công cuộc xây dựng nền
hành chính của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân.
Bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta nhận thấy
mục tiêu cải cách kinh tế phải gắn liền với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Một trong những giải pháp để đạt
được mục tiêu này là phải cải cách hành chính trong đó xác định lấy cải cách
thủ hành chính làm khâu đột phá. Văn kiện của Đảng mang tính nền tảng đầu
tiên chỉ đạo quá trình cải cách hành chính nói chung và thủ tục hành chính nói
nói riêng là Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản

mà các cấp, các ngành phải tiến hành thực hiện và hoàn thành để đảm bảo yêu
cầu cải cách hành chính trong đó cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá
đi sâu vào những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến người dân như: thủ tục cấp
giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, cấp đất;
đăng ký kinh doanh, hành nghề, sở hữu và sử dụng phương tiện giao thông;
hộ khẩu; xuất cảnh; nhập cảnh; trước bạ mua bán chuyển nhượng các loại tài
sản; cho vay vốn; công chứng; thanh tra doanh nghiệp. Ngày 23-01-1995, tại
hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, khóa VII xác định
nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính “phải cải cách một bước cơ bản
các thủ tục hành chính… Loại bỏ những khâu xin phép, xét duyệt không cần

14


thiết, giảm phiền hà, ngăn chặn tệ nạn, cửa quyền, sách nhiễu, tham những hối
lộ, vi phạm pháp luật. Chính phủ nắm quyền ban hành thủ tục hành chính;
đồng thời quy định phạm vi giao quyền cho cấp tỉnh, thành phố được ban
hành một số loại thủ tục đặc thù của địa phương. Tập trung cải cách thủ tục
trong các lĩnh vực tác động trực tiếp tới đời sống và sản xuất kinh doanh của
nhân dân”.
Tiếp tục nhiệm vụ cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính,
các văn kiện tiếp theo của Đảng tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
nghị quyết lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đều có nội dung trọng tâm là cải cách
hành chính, lấy cải cách thủ tục hành chính làm khâu đột phá. Vì thực chất,
thủ tục hành chính là bộ mặt, phương thức giao tiếp của nhà nước với dân, thể
hiện cụ thể bản chất nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
và vì nhân dân. Trong một thời gian dài, trước khi cải cách đổi mới, người
dân khi có việc bắt buộc phải đến cơ quan nhà nước luôn gặp thái độ coi
thường, thậm chí xúc phạm của cán bộ, viên chức nhà nước, dẫn đến tâm lý

Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một bước thủ tục hành
chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức là văn bản
mang tính pháp lý đầu tiên có đề cập đến việc giải quyết thủ tục hành chính
thông qua “Một cửa”, dựa vào nguyên tắc nơi nào là đầu mối có trách nhiệm
chính trong việc giải quyết công việc thì cá nhân, tổ chức trực tiếp đến đó:
“Trường hợp đề nghị của tỉnh và thành phố có liên quan đến nhiều bộ, thì Bộ
chuyên ngành phải làm đầu mối bàn với các Bộ liên quan khác. Không nên để
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải đi đến từng Bộ để xin ý kiến
giải quyết của bộ trưởng sau đó mới đến bộ trưởng chuyên ngành giải quyết”
và “Những công việc liên quan đến nhiều bộ phận trong cơ quan thì Thủ
trưởng cơ quan phải đề ra quy chế phối hợp giải quyết trong nội bộ cơ quan
để công dân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc chỉ phải làm việc với
một công chức được giao nhiệm vụ làm đầu mối tiếp xúc, nhận hồ sơ và giải
quyết công việc”. Như vậy có thể xác định trong việc giải quyết thủ tục hành

16


chính liên quan đến nội bộ của bộ máy hành chính trung ương, địa phương
hay trong mối quan hệ cung cấp dịch vụ công cho công dân thì nguyên tắc tập
trung vào một đầu mối chính, có chức năng quản lý chủ yếu để giải quyết
công việc là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình thực hiện. Đây cũng là tinh
thần chủ đạo của cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa”.
Theo Quyết định số 93/2007/QĐ- TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thông” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương thì cơ chế “một cửa”,
“một cửa liên thông” được định nghĩa như sau:
* Cơ chế một cửa: là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân
thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính Nhà nước từ
hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện

một
chức,
cửa
công (1) Nộp hồ sơ của
dân
UBND
cấp quận

Các cơ quan
Chuyên môn

(2) Chuyển

(3) Trả KQ
Lãnh đạo UBND
quận, phòng ký

(4) Trả KQ

Sơ đồ 2: Quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa
liên thông
Tổ chức,
công dân
Các cơ
quan khác

Bộ phận 1
cửa UBND
Phường
Lãnh

đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động của các Ban quản lý các khu công
nghiệp và các khu chế xuất từ đó cho đến nay. Thực hiện Nghị quyết số
38/CP ngày 04/05/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành
chính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức, từ năm 1995 nhiều
địa phương đã chủ động thí điểm thực hiện áp dụng cơ chế giải quyết công
việc theo mô hình “một cửa” hoặc “một cửa, một dấu”. Đi đầu trong lĩnh vực
này là thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân thành phố đã xây dựng đề án
kèm theo công văn số 2853/UB-NCVX ngày 27/9/1995 về việc xin thí điểm
việc tổ chức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện tại một khu
19


hành chính theo mô hình “Một cửa, một dấu” đối với Ủy ban nhân dân quận
1, quận 5 và huyện Củ Chi. Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho
thực hiện (Thông báo số 6194/CCHC ngày 30/10/1995) của Văn phòng Chính
phủ). Ngày 18 tháng 10/1996 Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã có chỉ thị
số 04/CT-TU về việc thực hiện cải cách hành chính theo mô hình “một cửa,
một dấu”. Tháng 11/1996 sau khi sơ kết đánh giá việc thực hiện cải cách hành
chính theo cơ chế “một cửa, một dấu”, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh đã có chỉ thị số 36/CY-UB-NC ngày 11/11/1996 về việc tiếp tục thực
hiện cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa, một dấu”; đặc biệt lưu ý tất cả
các quận, huyện chuẩn bị tốt mọi điều kiện, xây dựng đề án để đồng loại thực
hiện cơ chế này trong toàn thành phố. Ngày 13/2/1997, Ủy ban nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh đã có báo cáo số 490/UB-NC gửi Thủ tướng Chính
phủ về việc báo cáo phương án mở rộng thực hiện cải cách hành chính theo
cơ chế “một cửa, một dấu” đối với quận, huyện thuộc thành phố và đã được
Thủ tướng chính phủ đồng ý mở rộng diện thí điểm cải cách hành chính theo
mô hình “Một cửa một dấu” ở các quận, huyện còn lại và thí điểm cơ chế
“một cửa” ở Văn phòng ủy ban nhân dân thành phố và một số cơ sở, ban
ngành thuộc Ủy ban nhân dân thành phố.

tồn tại trong một hệ thống. Hiện tượng pháp lý thứ nhất đó là cơ quan nhà
nước, cán bộ viên chức nhà nước có thẩm quyền là chủ thể tiến hành thủ tục
hành chính khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu. Chỉ với quyết định của người có
thẩm quyền thì các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức mới được
đảm bảo các yêu cầu về cấp phép, chứng nhận, giải quyết khiếu nại… Có hai
loại cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Ủy ban nhân dân – cơ quan có thẩm
quyền chung và cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân – cơ quan có thẩm
quyền riêng.
Hiện tượng pháp lý thứ hai là dấu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Thủ tục hành chính thường phải qua nhiều công đoạn để giải quyết, mỗi công
đoạn lại thuộc thẩm quyền của các cơ quan chuyên môn khác nhau. Các cơ
quan chuyên môn căn cứ và chức năng nhiệm vụ của mình cho ý kiến về công

21


việc, tức là phải có con dấu xác nhận tư cách pháp nhân công quyền. Cuối
cùng, ủy ban nhân dân trên cơ sở ý kiến tham mưu, đóng góp của cơ quan
chuyên môn, người có thẩm quyền quyết định việc đáp ứng yêu cầu của người
dân. Theo cách thức tiến hành trước đây, người dân phải đi qua “nhiều cửa”
để có được “nhiều dấu”. Kết thúc quá trình, người dân nhận được một quyết
định tổng hợp từ những quyết định của các cơ quan quản lý có liên quan. Quá
trình này đòi hỏi người dân phải đảm nhận thêm vai trò “giao liên” mang, gửi,
bổ sung hồ sơ, chuyển hồ sơ đến các cơ quan liên quan.
Để đơn giản quy trình này thì các đơn vị thực hiện thí điểm tại Thành
phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thu hồi con dấu của các phòng ban thuộc quận,
huyện và gom tất cả về một đầu mối, thành lập Tổ tiếp nhận và trả hồ sơ, thực
hiện ba công khai: Công khai các quy định của từng loại thủ tục hành chính,
công khai thời gian và quy trình giải quyết đối với từng loại hồ sơ; Công khai
lệ phí giải quyết hồ sơ. Quy trình giải quyết hồ sơ được khép kín, người dân

các cơ quan này còn phải thực hiện chức năng quản lý được phân công và
phối hợp với những cơ quan khác trong công tác. Khi tiến hành thu dấu một
cách “thủ công” sẽ gây khó khăn cho những cơ quan này khi thực hiện chức
năng vì không thể hiện được tư cách của một pháp nhân công quyền.
Do là bước thí điểm nên nhiều địa phương đã tự ý rà soát và bỏ những
quy định không còn phù hợp không chỉ của riêng địa phương mà còn bãi bỏ
những quy định của Trung ương quy đối với từng loại thủ tục cụ thể. Dưới
góc độ lợi ích của người dân thì đây là việc làm cần thiết. Nhưng xét theo
nguyên tắc Pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước thì
không đảm bảo.
- Quy định về phân cấp chưa được cụ thể rõ ràng nên chưa có cách hiểu
và áp dụng thống nhất của các quận, huyện.
- Việc điều động, phân công cán bộ gặp khó khăn do chưa quen với tư
duy làm việc mới và chế độ chính sách chưa phù hợp với tính chất công việc.

23


1.3.2. Cải cách hành chính từ cơ chế “ Một cửa” đến cơ chế “Một
cửa liên thông” ở nước ta
Thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,
bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ hành chính theo cơ chế " một cửa " đã được
thành lập và triển khai thực hiện tại các cơ quan hành chính. Sau hơn 3 năm
hoạt động, bước đầu đã cơ bản giải quyết nhanh, gọn, thuận tiện với thủ tục
hành chính ở một số lĩnh vực đã đảm bảo đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
Tuy nhiên theo đánh giá chung, hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả hồ sơ hành chính theo cơ chế một cửa ở hầu hết các cơ quan còn bộc lộ
những hạn chế sau:
Thứ nhất, cơ sở vật chất sơ sài, trang thiết bị lạc hậu, chưa đáp ứng yêu
cầu của cơ chế một cửa cũng như công cuộc cải cách hành chính.

nước sẽ áp dụng triển khai cơ chế “Một cửa liên thông” trong việc tiếp nhận
và giải quyết các hồ sơ hành chính của các tổ chức, công dân nhằm mục đích
phát huy tối đa các tiến bộ tích cực của cơ chế “một cửa” cũ cũng như khắc
phục các khuyết điểm tồn tại, yếu kém để cải cách mang tính hiện đại và hiệu
quả cao hơn.
Có thể nói cơ chế “Một cửa liên thông” là một sáng kiến, bước đột phá
trong quá trình cải cách hành chính ở nước ta. Nó đã tạo ra được chuyển biến
đáng kể trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, tạo được sự đồng
tình, ủng hộ cao của nhân dân góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền
hành chính, nâng cao trình độ nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức; chấm dứt quan niệm “xin cho” nơi bộ máy công
quyền.
Cơ chế đã tạo một diện mạo mới, phát triển chất lượng ở mức độ cao
hơn so với thời kỳ trước. Thủ tục hành chính giờ đây được thực hiện một cách
đơn giải, nhanh chóng, thuận lợi làm giảm đi các phí tổn, phiền toái cho
người dân một cách không cần thiết. Đây là điều có ý nghĩa hết sức to lớn
không chỉ mang ý nghĩa thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển thuận lợi mà
còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, nếu thực hiện tốt nhân dân thông qua cơ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status