Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại quận hồng bàng thành phố hải phòng - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TẠI QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
HỌC VIÊN: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Viện Đại học Mở Hà nội -
Khoa đào tạo Sau Đại học, dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô, tôi đã
nghiên cứu và tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện
tại nhằm nâng cao trình độ năng lực quản lý.
Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệp khóa học thạc sỹ Quản trị kinh
doanh, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới các thầy cô
giáo Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, PGS TS Phạm
Văn Minh - thầy giáo trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành
luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp của tôi
tại UBND quận Hồng Bàng đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Kính chúc các thầy giáo, cô giáo của Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Kinh
tế quốc dân Hà Nội luôn luôn khỏe mạnh để tiếp tục đào tạo cho đất nước nhiều cán
bộ có phẩm chất và năng lực ở mọi lĩnh vực, nhằm góp phần vào sự nghiệp “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do giới hạn về trình độ nghiên cứu, giới hạn
về tài liệu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự
góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Phương Thảo
MỤC LỤC

CHÍNH TẠI BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ THEO CƠ CHẾ “MỘT
CỬA” QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 42
2.1. Khái quát chung về quận Hồng Bàng 42
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên, vị trí, địa lý 42
2.1.2. Về đặc điểm kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng 42
2.1.3. Tổ chức và hoạt động của UBND quận Hồng Bàng 49
2.2. Thực trạng cải cách thủ tục hành chính tại Bộ phận Tiếp nhận và trả
kết quả quận Hồng Bàng 52
2.2.1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả
quận Hồng Bàng 52
2.2.2. Tình hình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” quận
Hồng Bàng 59
2.2.3. Kết quả cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa” quận Hồng Bàng 75
2.2.4. Đánh giá những thành công và hạn chế của công tác cải cách thủ tục
hành chính tại Bộ phận “một cửa” quận Hồng Bàng 84
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” QUẬN
HỒNG BÀNG 89
3.1. Cải cách hành chính quận Hồng Bàng nói chung và định hướng về
cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”. 89
3.1.1. Xây dựng Chương trình cải cách hành chính quận Hồng Bàng trong

giai đoạn hiện nay. 89 3.1.2. Định hướng công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại
quận Hồng Bàng 95
3.2. Một số giải pháp cụ thể 96
3.2.1. Giải pháp về xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm 96
3.2.2. Giải pháp về trình tự, phương thức giải quyết và thực hiện thủ tục hành chính 97

Bảng 2.2. Thống kê các TTHC đang áp dụng tại Bộ phận TN&TKQ
Bảng 2.3. Quy trình chứng thực (Quy trình giải quyết trong ngày)
Bảng 2.4. Quy trình cấp giấy phép xây dựng (Quy trình giải quyết nhiều ngày)
Bảng 2.5. So sánh kết quả giải quyết TTHC 02 năm 2011, 2012

Bảng 2.6. Tổng hợp ý kiến khách hàng MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường, mở cửa giao lưu, hội nhập quốc tế dưới sự quản lý của
nhà nước, thực hiện dân chủ hoá xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo
lập trật tự kỷ cương xã hội. Một trong những nội dung quan trọng mang tầm chiến
lược trong công cuộc đổi mới đó là cải cách hành chính nhằm xây dựng một nền
hành chính trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, tạo điều kiện và
môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, phù hợp với xu hướng hội nhập
kinh tế thế giới.
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã ban hành
nhiều chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực cải cách
hành chính nói chung và cải cách TTHC nói riêng, đặc biệt là việc thực hiện
mô hình “Một cửa” đã mang lại hiệu quả to lớn trong quá trình quản lý nhà nước,
giải quyết các TTHC phục vụ các tổ chức, công dân.
Hồng Bàng là một trong những đơn vị hành chính cấp quận tiên phong trong
việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ với
mô hình “Một cửa” trong giải quyết TTHC đã và đang thực hiện đồng bộ giữa các
cấp chính quyền, mang lại hiệu quả cao, được đông đảo nhân dân hưởng ứng và
ủng hộ. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả
đạt được như TTHC được công khai, giảm hẳn tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu,

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước.

5.2. Phương pháp cụ thể
Để thu thập thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng
kết hợp các phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tác giả nghiên cứu một số tài liệu như: Giáo trình, sách báo, đề tài khoa học,
tạp chí, các bài viết trên internet về Cải cách hành chính, Cải cách thủ tục hành
chính để làm cơ sở lý luận cho luận văn. Bên cạnh đó, tác giả thu thập các báo cáo
để có các số liệu minh chứng cho phần thực trạng.
- Phương pháp quan sát
Bản chất của phương pháp này là nghiên cứu, ghi lại những lời nói, cử chỉ,
hành vi của đội ngũ CBCC đối với tổ chức, công dân trong khi giải quyết TTHC.
- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung trao đổi với một số Trưởng Bộ
phận TN&TKQ, CBCC Bộ phận TN&TKQ và cán bộ thụ lý một số phòng ban để
làm rõ thực trạng công tác giải quyết TTHC tại cơ quan nhằm tìm ra những giải
pháp để thực hiện cải cách TTHC trong thời gian tới.
- Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra xã hội học là phương pháp quan trọng nhất của luận văn vì để có thể
đánh giá được chất lượng hoạt động của con người nói chung và của CBCC cấp xã
nói riêng thì cần phải khảo sát, thăm dò ý kiến của những người có liên quan, bao
gồm Trưởng Bộ phận TN&TKQ, CBCC Bộ phận TN&TKQ và cán bộ thụ lý và lấy
phiếu ý kiến của một số người dân.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp phân

phạm vi. Có thể hiểu Cải cách là thay đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành
mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan. Cải cách bao gồm tập hợp của
nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi, đổi mới…
Cải cách hành chính: là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục
tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ
cấu tổ chức, chuẩn hoá đội ngũ CBCC…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp
ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. [13, Trang 51]
Cải cách hành chính là sự thay đổi có kế hoạch nền hành chính nhà nước phù
hợp với tình hình mới.Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có nhiều chủ trương
về cải cách hành chính và luôn xác định cải cách hành chính là một khâu quan trọng
trong sự nghiệp đổi mới để phát triển đất nước. Các cơ quan nhà nước, trong đó
Chính phủ đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chương trình kế hoạch.
Cải cách hành chính đã đạt những kết quả bước đầu quan trọng, góp phần vào
thành tựu chung của đất nước. Hệ thống thể chế, luật pháp tiếp tục được đổi mới và
hoàn thiện, hình thành dần cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo
ngày càng tốt hơn quyền dân chủ của nhân dân. Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ
chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước được điều chỉnh sắp xếp
phù hợp hơn với tình hình hiện nay. Chất lượng đội ngũ CBCC trong bộ máy hành
chính nhà nước có bước được nâng cao lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Thể
chế, pháp luật về quản lý nhà nước về tài chính công được tích cực xây dựng và
từng bước hoàn thiện. TTHC và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước có
bước đổi mới, hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật được tăng cường hơn. 1.1.2. Nội dung cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Với mục tiêu nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch,
vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên
tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng
đội ngũ CBCC có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng,
phát triển đất nước, Chương trình Cải cách hành chính của Việt Nam trong giai đoạn

CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI
NG
Ũ CBCC
CẢI CÁCH
TÀI CHÍNH
CÔNG
HIỆN ĐẠI
HÓA NỀN
HÀNH
CHÍNH xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư và văn bản quy
phạm pháp luật của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp
pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật;
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, đặc biệt là
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng trong
phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế - xã hội;
Hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định rõ sự tồn tại khách quan,
lâu dài của các hình thức sở hữu, trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở
hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau
trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phân định rõ
quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất;
Đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là xác định rõ vai trò
quản lý của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng
chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản trị kinh doanh của doanh

quyết TTHC tại cơ quan hành chính nhà nước; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu
quốc gia về TTHC;
Đặt yêu cầu cải cách TTHC ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và
nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn
độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về TTHC; giảm mạnh các
TTHC hiện hành; công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân
giám sát việc thực hiện;
Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, công dân về các quy định
hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát
việc thực hiện TTHC của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
1.1.2.3. Cải cách tổ chức bộ máy
Nhằm Cải cách tổ chức bộ máy phải tiến hành tổng rà soát về vị trí, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan, tổ chức khác thuộc
bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương (bao gồm cả các đơn vị
sự nghiệp của Nhà nước); trên cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo,
bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chuyển giao những
công việc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp
cho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận;
Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền
địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân định đúng chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng mô hình chính
quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp.
Hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất về tài nguyên,

hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không
hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy định rõ nhiệm
vụ, quyền hạn của CBCC tương ứng với trách nhiệm và có chế tài nghiêm đối với
hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ của CBCC;
Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng CBCC; thực hiện việc
đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi
dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu
chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu
trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm; Tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo
hiểm xã hội và ưu đãi người có công; tiền lương của CBCC được cải cách cơ bản,
bảo đảm được cuộc sống của CBCC và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội.
Sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp ngoài lương theo ngạch,
bậc, theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện làm việc khó khăn, nguy
hiểm, độc hại. Đổi mới quy định của pháp luật về khen thưởng đối với CBCC trong
thực thi công vụ và có chế độ tiền thưởng hợp lý đối với CBCC hoàn thành xuất sắc
công vụ; Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ
của CBCC.
1.1.2.5. Cải cách tài chính công
Động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát
triển kinh tế - xã hội; tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, các chính sách về
thu nhập, tiền lương, tiền công; thực hiện cân đối ngân sách tích cực, bảo đảm tỷ lệ tích
lũy hợp lý cho đầu tư phát triển; dành nguồn lực cho con người, nhất là cải cách chính
sách tiền lương và an sinh xã hội; phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách;
Đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các
tập đoàn kinh tế và các tổng công ty; quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nước ngoài;
giữ mức nợ Chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an toàn;
Đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng, triển

trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa
phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông
tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế,
phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện
khác nhau;
Ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý công việc
của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với
nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ
hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công; Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tin điện tử
hành chính của Chính phủ trên Internet. Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu
điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và cá nhân, đáp
ứng yêu cầu đơn giản và cải cách TTHC;
Thực hiện có hiệu quả HTQLCL trong các cơ quan hành chính nhà nước;
Đầu tư xây dựng trụ sở cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương hiện đại,
tập trung ở những nơi có điều kiện, bảo đảm yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước;
1.2. Khái quát chung về cải cách thủ tục hành chính
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục hành chính
1.2.1.1. Khái niệm thủ tục hành chính
Trong hoạt động quản lý nói chung và trong hoạt động của cơ quan nhà nước
nói riêng, để giải quyết được bất cứ công việc nào cũng đều cần có những thủ tục
phù hợp, theo quan niệm chung cho rằng: Thủ tục có nghĩa là phương thức, cách
thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất. Cũng
có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định để giải quyết
công việc.
Hoạt động quản lý Nhà nước cần phải tuân theo những quy tắc pháp lý, quy
định và trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết

công dân và công chức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình
đối với nhà nước.
Thứ hai, TTHC là trình tự thự hiện thẩm quyền trong quản lý hành chính
Nhà nước.
TTHC được phân biệt với thủ tục tư pháp, khác với thủ tục tố tụng tại toà án, kể
cả tố tụng hành chính cũng không thuộc khái niệm TTHC. So với thủ tục tố tụng, TTHC do nhiều cơ quan và công chức nhà nước thực
hiện và do tính chất hoạt động quản lý nên ngoài những khuôn mấu tương đối,
TTHC còn chứa đựng các biện pháp tuỳ nghi, ngược lại thủ tục tố tụng nhằm đảm
bảo tính đúng đắn của các quyết định xét xử nên nó phải rất chặt chẽ.
Thứ ba, TTHC rất đa dạng, phức tạp.
Tính đa dạng, phức tạp đó được quy định bởi hoạt động quản lý nhà nước là
hoạt động diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và bộ máy hành chính
bao gồm rất nhiều cơ quan từ Trung ương tới địa phương, mối cơ quan đó trong
việc thực hiện thẩm quyền của mình đều phải tuân thủ theo những thủ tục nhất định.
Tính đa dạng và phức tạp còn do nền hành chính nước ta đang chuyển từ
hành chính cai quản (hành chính đơn thuần) sang hành chính phục vụ, làm dịch vụ
cho xã hội, tù quản lý tập chung sang cơ chế thị trường làm cho hoạt động quản lý
hành chính đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức, biện pháp.
Xu hương hợp tác quốc tế dẫn đến đối tượng quản lý không chỉ là những
công dân trong nước mà cón liên quan đến yếu tố nước ngoài do vậy TTHC hiện
nay rất đa dạng, phong phú và tính phức tạp cũng tăng nên gấp bội.
Thứ tư, so với các quy phạm nội dung của Luật Hành chính, TTHC có tính
năng động hơn và đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn một khi thực tế cuộc sống đã có
những yêu cầu mới.
TTHC do các cơ quan hành chính nhà nước cơ thẩm quyền đặt ra để giải
quyết công việc, trên một chưng mực đáng kế nó lệ thuộc vào nhận thức chủ quan
của chính người xây dựng nên, nếu nhận thức đó phù hợp với thực tế khách quan

nạn tham nhũng, sách nhiễu.
Thứ tư, TTHC là công cụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính, khống
thể tách rời khỏi hoạt động của các tổ chức hành chính. TTHC là công cụ điều hành của các tổ chức hành chính nếu thiếu TTHC thì
hoạt động điều hành của những tổ chức hành chính không thể thực hiện được vì
hoạt động điều hành có mối quan hệ gắn bó mật thiết với TTHC, TTHC là phương
tiện là công cụ cho hoạt đọng điều hành của các tổ chức hành chính.
1.2.2. Phân loại thủ tục hành chính
Việc phân loại TTHC trước hết là phục vụ các hoạt động nghiên cứu và đào
tạo trong khoa học hành chính, nhất là ngành luật hành chính. Ngoài ra, phân loại
TTHC còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng, hoàn thiện và áp dụng TTHC tại bộ
máy chính quyền các cấp.
Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước khác cho thấy muốn
xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phải phân loại chúng một
cách có khoa học
1.2.2.1. Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước.
Theo cách phân loại này các TTHC được xác định cho từng lĩnh vực quản lý
Nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản lý hiện hành
như: thủ tục trong xây dựng cơ bản, thủ tục trước bạ, thủ tục trong hoạt động đăng
ký kế hoạch…
Lợi ích của việc phân chia này là giúp người quản lý xác định được tính đặc
thù của lĩnh vực mà mình phụ trách. Từ đó mà đề ra yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực
này những TTHC cần thiết, thích hợp, nhằm quản lý tốt các nhiệm vụ đặt ra theo
mục tiêu của nhà nước quy định.
1.2.2.2. Phân loại theo các loại hình công việc cụ thể mà các cơ quan Nhà
nước được giao thực hiện trong quá trình hoạt động của mình.
Cách phân loại này đơn giản, có khả năng áp dụng rộng rãi. Ví dụ:
+ Thủ tục thông qua và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status