Vai trò của bí thư đảng ủy phường, xã trong hệ thống chính trị cơ sở ở thị xã bỉm sơn, tỉnh thanh hóa - Pdf 33

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VINH QUANG

VAI TRÒ CỦA BÍ THƯ ĐẢNG ỦY PHƯỜNG,
XÃ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở
THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Nghệ An, 2014


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VINH QUANG

VAI TRÒ CỦA BÍ THƯ ĐẢNG ỦY PHƯỜNG,
XÃ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở
THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
MÃ SỐ: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn: PGG. TS. Đoàn Minh Duệ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CC

Cao cấp

CN

Cử nhân

CNH

Công nghiệp hóa

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CT-XH

Chính trị - xã hội

HĐH

Hiện đại hóa

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTCT


XH

Xã hội

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


5
MỤC LỤC

Trang
A. MỞ ĐẦU
5
B. NỘI DUNG
13
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BÍ THƯ ĐẢNG ỦY
13
PHƯỜNG, XÃ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ
1.1. Một số khái niệm
1.2. Vai trò của Bí thư đảng ủy phường, xã trong hệ thống chính trị cơ sở
Kết luận chương 1
Chương 2. THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA BÍ THƯ ĐẢNG ỦY

13
18
34


Kết luận chương 3
C. KẾT LUẬN
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

79
80
83

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng: Cán bộ giữ vị trí,
vai trò rấ quan trọng, là một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Chủ


6
tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc;
công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [19; 269].
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng
ta đã có được đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững
vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn ngang tầm nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ các
cấp đã đưa chủ trương, đường lối của Đảng thâm nhập vào quần chúng, tổ
chức, lãnh đạo quần chúng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu anh
dũng, làm nên thắng lợi lịch sử của cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, tự do cho
dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, việc đổi mới hệ thống
chính trị (HTCT) là nhiệm vụ rất quan trọng. Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được
Đảng ta khẳng định hoàn thiện tổ chức bộ máy của HTCT trong điều kiện một
Đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế là việc hết sức quan trọng,

Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quyết định của tổ chức.
Thị xã Bỉm Sơn là đô thị công nghiệp, hạt nhân vùng kinh tế động lực
phía Bắc của tỉnh Thanh Hoá. Với mục tiêu của Đại hội Đảng bộ thị xã khóa
IX nhiệm kỳ 2010- 2015 là: “Tích cực thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khai thác tiềm năng, thế mạnh; phát huy
mọi nguồn lực để phát triển công nghiệp, dịch vụ với tốc độ tăng trưởng cao
và bền vững, nông nghiệp và nông thôn phát triển vững chắc. Đẩy nhanh tốc
độ xây dựng, chỉnh trang phát triển đô thị theo hướng hiện đại. Không ngừng
nâng cao chất lượng lĩnh vực văn hoá - xã hội; giữ vững và tăng cường quốc
phòng- an ninh; xây dựng HTCT vững mạnh. Phát triển thị xã thành đô thị
công nghiệp hiện đại, là hạt nhân vùng kinh tế động lực phía Bắc của tỉnh.
Phấn đấu đến 2015 trở thành đô thị loại 3”. Sự ổn định và phát triển của thị xã
một phần phụ thuộc vào sự ổn định của hệ thống các phường, xã. Việc chăm
lo cho sự phát triển của thị xã phải đặc biệt chú ý tới sự ổn định và phát triển


8
của hệ thống các phường, xã, nhất là phải quan tâm tới tâm tư, nguyện vọng,
việc làm, thu nhập, đời sống của nhân dân. (Trích NQ số 01-NQ/ĐH ngày
15/10/2010 của Đại hội Đảng bộ Thị xã Bỉm Sơn khóa IX).
Như vậy, quyền lực của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không
chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở HTCT có được đổi mới và hoàn thiện hay không.
Khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng
mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sáng
kiến và tính chủ động từ cơ sở. Đây cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng
về đổi mới HTCT. Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi
mới HTCT chi phối quá trình đổi mới HTCT cấp cơ sở và sự đổi mới HTCT
cấp cơ sở có tác động tích cực trở lại HTCT nói chung. Cơ sở (xã, phường, thị
trấn), trong đó xã là chủ yếu, chiếm tới 85% trong tổng số các đơn vị hành
chính cấp cơ sở, do vậy HTCT ở cơ sở giữ vị trí rất quan trọng trong HTCT

và giải pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban
chấp hành Trung ương khoá IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- GS.TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông
thôn nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- Đề tài: Khoa học cấp nhà nước “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán
bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị đổi mới”, thuộc chương trình
KX- O5 do PGS,TS Trần Xuân Sầm làm chủ nhiệm (1999).
- TS. Chu Văn Thành (chủ biên), “Hệ thống chính trị cơ sở- Thực
trạng và một số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KXO5-11: “Xác định cơ cấu và tiêu
chuẩn cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở xã, phường, thị trấn”. (1993) do TS. Phan
văn Tích làm chủ nhiệm.


10
- Quyết định số 04/2004/QĐ- BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ
Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn.
- Sở Nội vụ - Trường Chính trị Tỉnh Thanh Hóa: Tài liệu bồi dưỡng cán
bộ công chức cấp xã theo Quyết định 1956/QĐ-TTG ngày 27/11/2009 của
Thủ tướng Chính phủ.
- Chuyên đề “Hệ thống chính trị và đổi mới Hệ thống chính trị ở nước
ta hiện nay” của PGS, TS Nguyễn Văn Vĩnh; Giảng viên tại Học viện chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- "Xử lý đúng các mối quan hệ trong công tác cán bộ" của Hà Đăng,
Tạp chí Cộng sản, số 3, 2002, tr.21-24. Đây là tham luận tại Hội thảo khoa
học "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, huyện" do Tạp chí
Cộng sản phối hợp với Tỉnh ủy Hải Dương tổ chức tháng 1-2002. Trong bài,

HTCT cơ sở, trong đó có vấn đề xây dựng đội ngũ Bí thư đảng uỷ cấp xã,
phường theo các góc độ khác nhau. Nhưng, đến nay chưa có công trình nào
đi sâu nghiên cứu về vai trò Bí thư đảng uỷ cấp xã, phường, trong xây dựng
HTCT trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu HTCT ở cơ sở trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn
với những nét đặc thù riêng của đô thị phía Bắc tỉnh Thanh Hóa thì chưa có
công trình khoa học nào dành riêng cho nó.
Tất cả những công trình nghiên cứu trước đây thực sự là những tư
tưởng quý giá đối với tác giả để tiếp cận và kế thừa có chọn lọc các công trình
nghiên cứu khoa học, về vấn đề này cùng với thực tiễn và việc khảo sát ở thị
xã Bỉm Sơn nói riêng làm cơ sở để tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu
của mình.


12
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn ở Đảng bộ Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh
Hóa, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của
đội ngũ Bí thư đảng ủy phường, xã trong HTCT.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc nâng cao vai trò Bí thư đảng ủy
phường, xã trong HTCT cơ sở hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng HTCT, đội ngũ Bí thư đảng ủy phường, xã
của thị xã Bỉm Sơn và thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ này của thị xã,
chỉ ra những ưu khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Bí thư
đảng ủy phường, xã ở thị xã Bỉm Sơn trong HTCT trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu vai trò của đội ngũ Bí thư đảng ủy phường, xã

Chương 1. Cơ sở lý luận về vai trò của Bí thư đảng ủy phường, xã
trong hệ thống chính trị ở cơ sở.
Chương 2. Thực trạng của vai trò Bí thư đảng ủy phường, xã trong hệ
thống chính trị cơ sở ở thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3. Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của Bí thư đảng ủy phường, xã trong hệ thống chính trị cơ sở ở thị xã Bỉm
Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay.


14
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BÍ THƯ ĐẢNG ỦY PHƯỜNG,
XÃ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Bí thư đảng ủy xã, phường
Đảng ta khẳng định tại Chiến lược cán bộ đến năm 2020: “Cán bộ là
nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác Xây dựng
Đảng”. V.I. Lênin đã khẳng định: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào
giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của
mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ
chức và lãnh đạo phong trào”. Là một chính đảng tiên phong cách mạng do
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, hơn 80 năm qua, thấm nhuần lời
dạy của Người trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”: “Cán bộ là cái gốc của
công việc”. “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
“Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, Đảng ta đã luôn coi trọng
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng, nhất là đội ngũ cán bộ chủ
chốt của HTCT ở các cấp đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đang diễn ra

thể hiện bản chất của chế độ chính trị quốc gia, con đường phát triển của xã
hội.
Cấu trúc của HTCT không chỉ là hệ thống các tổ chức và các quan hệ
về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan hệ về cấp độ nhìn theo
hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống
Có các cấp độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trật và các đoàn
thể) quy định vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền của các cấp, của cấp trên
với cấp dưới trong phạm vi một tổ chức của sự tác động của bộ máy tương
ứng với từng cấp. HTCT được cấu tạo thành bởi các tổ chức nêu trên cũng có


16
cấp độ này, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa
phương và cơ sở
Giữa các tổ chức lại hình thành quan hệ tác động lẫn nhau trong hệ
thống và trong từng cấp độ. Cụ thể, ở cấp Trung ương là quan hệ giữa Đảng
với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể. Ở cấp cơ sở là
quan hệ giữa Đảng bộ và chính quyền và Mặt trận cùng các đoàn thể trong
từng địa phương
Ở đây ta đang xem xét khái niệm cơ sở và HTCT ở cơ sở trên quan
điểm xã hội học chính trị và quản lý xã hội. Đây là những khái niệm xuất
phát, những khái niệm công cụ để nghiên cứu và đề xuất những giải pháp cải
cách HTCT, đặc biệt là HTCT ở cơ sở nước ta hiện nay. Cơ sở được lấy làm
đối tượng nghiên cứu ở đây không phải là một cơ sở đơn vị bất kỳ (gia đình,
cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp hay viện nghiên
cứu…) mà là cơ sở với tư cách là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống
quản lý hành chính nhà nước bốn cấp hiện hành. Cơ sở đó chính là xã phường - thị trấn, là cấp cơ sở của quản lý nhà nước. Phường, thị trấn là cấp
cơ sở đô thị, được đặc trưng bởi quản lý đô thị. Xã là cấp cơ sở ở khu vực
nông thôn, đây là cả một địa bàn rộng lớn, chiếm đa số trong tổng số đơn vị
cơ sở ở nước ta. Vì thế, nếu nói tới HTCT ở phường, xã chính là nói tới

nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các
quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng
cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội
Chính trị là một hiện tượng lịch sử, nó có quá trình ra đời, tồn tại và
mất đi. chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước. Nhưng không
phải khi chính trị xuất hiện thì khái niệm HTCT cũng xuất hiện. Khái niệm
HTCT ra đời sau khái niệm chính trị. Lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông
và phương Tây trước Mác chưa có khái niệm HTCT. Các nhà kinh điển Chủ
nghĩa Mác vẫn chưa dùng khái niệm HTCT. Tuy nhiên nội dung sự hiểu biết


18
về HTCT đã được Mác, Ăngghen, Lênin diễn đạt bằng những phạm trù liên
quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị, cơ cấu
chính trị, kết cấu chính trị của xã hội hay tư tưởng chính trị và các thiết chế
tương ứng… Khái niệm HTCT ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là sự phản ánh
chính trị hiện đại. Mặc dù đến thời hiện đại, khái niệm HTCT mới ra đời,
nhưng sự hiểu biết về nó không kém phần đa dạng, phong phú đến mức mà
khó có thể thống kê hết được những sự hiểu biết đó. Chẳng hạn, ở các nước
xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem HTCT chỉ bao
gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền
nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó. Quan điểm này đã
đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính
của giai cấp cầm quyền”. Từ đó, cho rằng HTCT trong chủ nghĩa tư bản chính
là hệ thống chuyên chính tư sản, còn HTCT chủ nghĩa xã hội là hệ thống
chuyên chính vô sản. ở Việt Nam trước và một số năm đầu đổi mới, chúng ta
chưa dùng khái niệm HTCT mà vẫn dùng một cách phổ biến khái niệm
chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh
đạo và quản lý xã hội.
Căn cứ việc đáp ứng hai yêu cầu: Một là, phục vụ cho mục đích nhận thức

gồm 1.545 phường, 612 thị trấn và 8991 xã. Tỉnh Thanh Hóa là tỉnh có số
lượng xã, phường, thị trấn đông nhất cả nước với 637 xã, phường, thị trấn. Cả
nước có trên 1.270.000 cán bộ, công chức và những người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn và dưới xã, phường, thị trấn ; bình
quân một xã, phường, thị trấn có 114 người; trong đó số cán bộ công chức có
222.735 người, tăng 28.377 người so với năm 2002; bình quân một xã có 20
người.. Từ con số tuyệt đối đó, cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã. Cơ sở là
cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấp của quản lý hành chính ở nước ta hiện
nay
Cho đến thời điểm hiện nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với


20
địa bàn nông thôn rộng lớn. Việc đô thị hóa đang dần phát triển. Kinh tế nông
thôn chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp sản xuất nhỏ
và thuần nông ở từng hộ gia đình của nông thôn, lực lượng sản xuất còn chậm
phát triển. Quá trình phân công và phân công lại lao động xã hội còn đang
diễn ra, hơn 70% sức lao động và hơn 80% dân cư đang ở nông thôn. Nông
dân vẫn còn là diện mạo đặc trưng trong bức tranh cơ cấu xã hội - dân cư ở
nước ta. Tính đến ngày 01/11/2013 dân số nước ta đã tròn 90 triệu người và
khoảng 25 triệu hộ gia đình. Họ sinh sống và làm ăn ở trên 11.000 đơn vị cơ
sở (tính cả xã, phường và thị trấn)
Do đó, HTCT ở cơ sở, đặc biệt ở khu dân cư có một vị trí và vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển xã hội, đối với việc đảm bảo và giữ vững ổn
định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Nếu giữ vững ổn định chính trị - xã hội là tiền đề, là điều kiện tiên
quyết để thực hiện đổi mới và phát triển thì phải đặc biệt chú trọng và chăm lo
sự ổn định và phát triển ở cơ sở. Rõ ràng, nếu để sự yếu kém của HTCT ở cơ
sở địa phương xảy ra thì hệ quả tất yếu dẫn đến gây mất ổn định chính trị - xã

thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do
độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng
để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho
dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ,
được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh
phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực
chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo”
* Đặc điểm của hệ thống chính cơ sở
- Tính nhất nguyên chính trị: Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế
chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền. Trong những giai đoạn lịch sử nhất
định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội.
Tuy nhiên, hai đảng này được tổ chức và hoạt động như những đồng minh


22
chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí
cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. HTCT ở Việt Nam là thế
chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập
- Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt nam. Mỗi tổ chức thành viên của HTCT đều do
Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức
quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng,
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội), vừa là tổ chức mà qua đó Đảng Cộng sản thực hiện
sự lãnh đạo chính trị đối với xã hội
- Tính nhất nguyên chính của HTCT được thể hiện ở tính nhất nguyên
tư tưởng. Toàn bộ HTCT đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tư
tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Tính thống nhất: HTCT Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính
chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó

- Đặc điểm nổi bật của HTCT Việt Nam là HTCT đại diện cho nhiều
giai cấp, tầng lớp nhân dân. Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi
các tổ chức thành viên trong HTCT, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai
cấp công nhân. Do vậy, HTCT nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và
tính dân tộc sâu sắc.
- Lịch sử nền chính trị Việt Nam là cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp
gắn liền và bắt đầu từ mục tiêu giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập dân
tộc. Các giai cấp, dân tộc đoàn kết trong đấu tranh giành và bảo vệ nền độc
lập dân tộc, hợp tác để cùng phát triển. Sự tồn tại của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam với tư cách là thành viên quan trọng của HTCT là yếu tố quan trọng tăng
cường sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc.
- Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc được khẳng định trong
bản chất của từng tổ chức thuộc HTCT. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao


24
động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng
nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công CNXH và cuối
cùng là chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Độc lập dân tộc gắn liền
với CNXH đã gắn kết vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, tạo nên sức mạnh
tổng hợp của toàn bộ HTCT.
- Từ thực tế đặc điểm HTCT nước ta hiện nay ta thấy. Trước đổi mới,
trong nền kinh tế hiện vật và kinh tế kế hoạch hóa với phương thức quản lý
hành chính mệnh lệnh theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chúng ta chỉ
nhìn nhận cơ sở như một cấp quản lý hành chính thấp nhất, cuối cùng trong
hệ thống 4 cấp. Theo cách nhìn này, cơ sở không chỉ thấp nhất mà còn là nhỏ

- Cái thấp nhất, nhỏ nhất trong quản lý không bao giờ được đồng nhất
với tính chất kém quan trọng hơn, ít quan trọng hơn so với những cái cao hơn,
lớn hơn. Tư duy so sánh hình thức ở đây đem áp dụng cho vị trí, vị thế của cơ
sở là một sai lầm đã từng xảy ra khi nhận thức về cơ sở và ứng xử với cơ sở.
Do đó, nhận thức trước đây về cơ sở còn nhiều điểm chưa đúng và chưa chính
xác về đặc điểm, vai trò của cơ sở trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt
động lãnh đạo và quản lý ở cơ sở. Tồn tại này cần sớm được khắc phục để vị
trí và tầm quan trọng của cơ sở được khẳng định trong thực tế đúng như bản
thân nó vốn có. Chính thực tiễn đổi mới, nhất là khi đi vào kinh tế thị trường
và đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới WTO thì việc vận động dân chủ hoá ngày nay đã mở ra nhiều vấn đề về
cơ sở, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức về nó.
- Về phương diện nhận thức quản lý, không phải vì cơ sở là cấp thấp
nhất nên đội ngũ cán bộ cơ sở bố trí thế nào cũng được. Hiện trạng đội ngũ
cán bộ cơ sở phường, xã hiện nay, đang yếu kém, bất cập, phần lớn không
được đào tạo, không có chính sách, chế độ ổn định, hợp lý là hậu quả của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status