BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
---------------
VŨ THỊ MAI LY
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ
TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ SỬ DỤNG
KINH PHÍ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÁC
CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2 - TPHCM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan nhà
nước trên địa bàn Quận 2 - TPHCM”hoàn toàn do tôi thực hiện, không sao chép bất kỳ
kết quả nghiên cứu nào của các tác giả khác, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học
của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thanh. Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng một số
thong tin, tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí, luận văn được liệt kê trong danh mục các tài
liệu tham khảo.
HỌC VIÊN
Vũ Thị Mai Ly
Mục lục .......................................................................................................................... iii
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ .........................................................................................vii
Danh mục các bảng biểu.............................................................................................. viii
Danh mục các từ viết tắt ................................................................................................. ix
Tóm tắt luận văn .............................................................................................................. x
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC ..................................................................................................... 5
1.1.
Tổng quan về các cơ quan hành chính nhà nước ................................................. 5
1.1.1. Khái niệm về cơ quan hành chính nhà nước ........................................................ 5
1.1.2. Đặc điểm ............................................................................................................... 6
1.2.
Mô hình quản lý tài chính cơ quan hành chính nhà nước .................................. 10
1.2.1. Mô hình quản lý tài chính công cổ điển ............................................................. 11
1.2.2. Mô hình quản lý tài chính công hiện đại (New Public Finance) ........................ 12
1.2.3. Mô hình quản lý tài chính công hiện đại của Barnart - Simon........................... 13
1.3.
Tự chủ tài chính và mục tiêu quản lý tài chính công hiện đại ............................ 14
1.3.1. Khái niệm về tự chủ tài chính............................................................................. 15
1.3.2. Mục tiêu quản lý tài chính công hiện đại ........................................................... 15
1.3.3. Mục tiêu tự chủ tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước ....................... 17
1.3.4. Nguyên tắc thực hiện tự chủ tài chính ................................................................ 18
2.1.1. Tổ chức bộ máy chính quyền ............................................................................. 31
2.1.2. Tình hình triển khai thực hiện chế độ tự chủ đối với cơ quan hành chính nhà nước
trên địa bàn quận............................................................................................................ 36
2.2.
Tình hình thực hiện tự chủ tài chính của các cơ quan nhà nước trên địa bàn Quận 2
giai đoạn 2011 - 2014 .................................................................................................... 37
iv
2.2.1. Khung pháp lý .................................................................................................... 37
2.2.2. Tổ chức triển khai thực hiện ............................................................................... 38
2.2.3. Kết quả thực hiện ................................................................................................ 39
2.2.3.1. Lập dự toán và phân bổ dự toán ...................................................................... 39
2.2.3.2. Điều chỉnh biên chế và mức kinh phí được giao để thực hiện chế độ tự chủ . 40
2.2.3.3. Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý sử dụng tài sản công ...... 46
2.2.3.4. Tình hình thu chi ............................................................................................. 47
2.3.
Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra ........................................................... 48
2.3.1. Kết quả đạt được .................................................................................................. 48
2.3.1.1.Về biên chế ........................................................................................................ 48
2.3.1.2. Về nguồn kinh phí, tiết kiệm kinh phí và tăng thu nhập ................................. 50
2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân............................................................................ 54
Kết luận chương 2 ......................................................................................................... 60
Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
- Biểu 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy chính quyền quận 2 ..................................................... 32
- Biểu 2.2. Định mức khoán kinh phí thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ
quan hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2014 ............................................................ 43
- Biểu 2.3.Mức lương cơ bản của cán bộ, công chức thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2011 – 2014 ....................................................................................................................... 45
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
- Bảng 2.1.Chỉ tiêu biên chế của các phường giai đoạn 2011 -2014 ................................. 41
- Bảng 2.2.Chỉ tiêu biên chế của các phòng, ban thuộc quận giai đoạn 2011 – 2014 ....... 42
- Bảng 2.3.Dự toán kinh phí thực hiện tự chủ tài chính của các phường giai đoạn 2011–
2014 ................................................................................................................................... 44
- Bảng 2.4. Dự toán kinh phí thực hiện tự chủ tài chính của các phòng, ban thuộc quận
giai đoạn 2011–2014 ......................................................................................................... 45
- Bảng 2.5: Số kinh phí tiết kiệm của các phường giai đoạn 2011–2014.......................... 50
- Bảng 2.6: Số kinh phí tiết kiệm của các phòng, ban thuộc quận giai đoạn 2011–2014 . 52
viii
theo một hướng riêng về cơ chế tự chủ. Thông qua đề tài, tác giả nêu thực trạng về tự chủ
tài chính của các cơ quan nhà nước trên địa bàn Quận 2 giai đoạn 2011 – 2014, từ đó đưa
ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về biên chế và kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước.
Mặc dù đã cố gắng trong nghiên cứu, tìm hiểu thực tế về thực hiện cơ chế tự chủ
tại Quận 2, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong quá trình nghiên cứu
cũng như trình bày. Tác giả rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy, cô
giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
x
Sơ đồ tổ chức bộ máy chính quyền Quận 2
UBND QUẬN
VP
UBND
Phường
An
Khánh
Phòng
Nội vụ
Phòng
TCKH
Phường
Điền
Phòng
LĐTB
và XH
Phường
Bình
An
Phòng
GDĐT
Phường
Bình
Trưng
Đông
Phòng
QLĐT
Phường
Bình
Trưng
Tây
Phòng
TNMT
Phường
130/2005/NĐ-CP, cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định
số 43/2006/NĐ-CP và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và
công nghệ công lập theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP. Theo đó, thực hiện cơ chế
quản lý tài chính nêu trên (gọi là cơ chế tự chủ), đơn vị sẽ được trao quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy, công việc, sử dụng lao động và
nguồn lực tài chính của đơn vị để hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; từ đó sẽ
phát huy thế mạnh của đơn vị để tạo thêm các dịch vụ công có chất lượng cao hơn cho
xã hội và từng bước cải thiện nâng cao thu nhập cho đội ngũ CBCC.
1
Tiếp tục thay đổi cơ chế cấp kinh phí ngân sách nhà nước theo hạn mức bằng
cơ chế cấp kinh phí ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động của đơn vị,
kiểm soát chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà
nước; góp phần đẩy mạnh tiến trình cải cách tài chính công giai đoạn mới theo Nghị
quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.
Qua gần 10 năm thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và sử
dụng kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước đã đạt được một số kết
quả nhất định. Tuy nhiên, còn một số vấn đề đặt ra cần giải đáp. Đó là, đơn vị hành
chính nhà nước đã thực sự được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và
sử dụng kinh phí chưa; hiệu quả từ việc thực hiện tự chủ tài chính có tác động đến hoạt
động của các cơ quan nhà nước không; những khó khăn trong quá trình thực hiện ảnh
hưởng như thế nào đến hoạt động của các đơn vị và giải quyết nó như thế nào; các cơ
quan nhà nước cần thay đổi những gì trong thực hiện quyền tự chủ để góp phần thúc
đẩy tiến trình cải cách tài chính công trong giai đoạn mới (2011-2020); từ đó tìm ra
giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng
kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước. Do đó, tác giả chọn đề tài
“Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp định tính,
phương pháp suy luận, khảo sát, thống kê, tổng hợp, phân tích để đánh giá quá trình
thực hiện tự chủ tài chính của các cơ quan nhà nước trên địa bàn Quận 2 - thành phố
Hồ Chí Minh. Đồng thời, căn cứ vào lý thuyết về quản lý tài chính công và các văn
bản pháp luật quy định về tự chủ tài chính của các đơn vị hành chính nhà nước, thông
qua từng nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước mô tả trách nhiệm và quyền hạn trong
thực hiện tự chủ. Bên cạnh đó, dựa vào báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động từ năm
2011-2014 của các cơ quan nhà nước trên địa bàn Quận 2 - thành phố Hồ Chí Minh,
tác giả đưa ra những tồn tại hạn chế trong thực hiện cơ chế tự chủ và đề xuất những
giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan nhà
nước trên địa bàn Quận 2 - thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước
3
trên địa bàn Quận 2” với mục đích tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và cải
thiện cơ chế tự chủ của các cơ quan nhà nước và nâng cao trách nhiệm giải trình của
Thủ trưởng đơn vị. Từ đó, có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc cải cách tài chính
công của Chính phủ và hướng đến chuyển đổi từ mô hình quản lý công cổ điển sang
mô hình quản lý công hiện đại có hiệu quả cao.
7. BỐ CỤC CỦA NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo; danh mục các chữ
viết tắt; đề tài được thiết kế thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tự chủ tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước.
Chương 2: Thực trạng về tự chủ tài chính của các cơ quan nhà nước trên địa
bàn Quận 2 giai đoạn 2011 - 2014.
Chương 3: Nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các cơ quan
pháp kỹ thuật đã được lựa chọn mà còn quan hệ tới những vấn đề khác như: thể thức
lựa chọn phương pháp, thể thức do nhiều người hợp tác với nhau để thực hiện một
công việc, thể thức phân công công việc của mỗi người, thể thức thi hành công việc,
thể thức phối hợp sự cố gắng hoạt động của tập thể…
5
Về phương diện hình thức, những hoạt động nào bao hàm một sự hợp tác giữa
hai hay nhiều người là những hoạt động có tổ chức nói chung (A.Simon, 1962). Nếu
không, hoạt động đó sẽ không đạt được mục tiêu lựa chọn. Tuy nhiên, trong xã hội
phát triển hoạt động hợp tác được thể hiện dưới một hình thức chính thức, nói rõ hơn,
hoạt động có tổ chức dưới hình thức chính thức, tức là theo cơ cấu xã hội hiện thời.
Trong đó, mỗi thành viên được phân chia công việc và mối liên hệ giữa các thành viên
được ấn định như thế nào để thu lượm kết quả với một khoản chi phí tối thiểu về nhân
công và vật liệu. Như vậy, những tổ chức chính thức là một hệ thống công tác thiết lập
theo một qui định pháp luật, trong đó mỗi thành viên phải đóng một vai trò nhất định
và phải thi hành những nhiệm vụ rõ ràng. Những nhiệm vụ đã được phân phối để đạt
được mục tiêu chung chứ không phải để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, mặc dù mục tiêu
chung và nhu cầu cá nhân trong một tổ chức chính thức thường có điểm tương đồng.
Vậy thế nào là cơ quan hành chính nhà nước?
Về phương diện lý thuyết, cho đến nay chưa thấy tài liệu chính thức nào (tự
điển hay lý thuyết quản trị hành chính công hay quản trị công) trình bày định nghĩa
“Cơ quan hành chính nhà nước là gì?” nhưng xét theo lý thuyết hành chính công và
thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước chúng ta có thể hiểu, Cơ quan hành chính nhà nước
là những tổ chức (bộ phận, hay đơn vị) cấu thành một Bộ, ngành thuộc bộ máy nhà
nước hay một cấp chính quyền địa phương (tỉnh hay thành phố trực thuộc trung ương;
huyện hay quận, thị xã…trực thuộc tỉnh, thành phố) mà mục tiêu hoạt động là thực
hiện một chức năng, nhiệm vụ của nhà nước theo đúng những qui định của pháp luật.
Để hiểu sâu xa hơn, chúng ta sẽ nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của cơ quan
hành chính nhà nước sau đây:
Khi nền kinh tế chưa phát triển, người dân tự cày cấy để có miếng ăn, tự chế tạo
lấy giầy và quần áo, xây nhà cửa và cất rượu để uống… và những hoạt động hợp tác
của họ chỉ đòi hỏi những tổ chức thô sơ, tối thiểu. Muốn làm một con đường hay xây
cầu, cư dân trong vùng đứng ra tổ chức công việc một cách thô sơ, việc kiểm soát kẻ
gian chỉ cần một đội gác đêm với sự trợ giúp của một vài người dân tình nguyện là đủ.
Trong một nền kinh tế đơn giản, bộ máy hành chính nhà nước giản dị về số nhân viên,
về chuyên môn công việc, về các khoản chi phí hoạt động.
Nền kinh tế càng hiện đại, hoạt động của nhà nước càng phát triển, bộ máy nhà
nước được chia làm nhiều Bộ chức năng chuyên trách, mỗi chức năng gồm một hay
nhiều nhiệm vụ chuyên môn, thì bộ máy của mỗi Bộ phải bao gồm nhiều cơ quan để
mỗi cơ quan thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn riêng biệt. Và ngày nay, cùng với sự
phát triển của kinh tế xã hội, nền hành chính công của các nước đã có nhiều thay đổi
7
cả qui mô và phẩm chất…nhiều nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan nhà nước trước
đây nay trở thành một dịch vụ công, đồng thời công cuộc cải cách hành chính dẫn đến
việc ra đời các tổ chức tư nhân tham gia cung cấp những dịch vụ đồng loại với dịch vụ
công, từ đó tác động đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ công, và đó cũng là nhân tố
quan trọng tác động đến sự ra đời cơ chế tự chủ tài chính đối với cơ quan hành chính
nhà nước. Một ví dụ đơn giản nhất, một nhân viên nhà nước thực hiện nhiệm vụ xác
nhận bản sao y văn bằng cho người dân, ngày nay trở thành việc cung cấp dịch vụ
công. Hơn nữa, tổ chức công chứng tư ra đời và chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp
thường được người dân đánh giá cao (tác phong giao tiếp, ứng xử, tiết kiệm thời
gian…)
Mặc dù có nhiều sự tương đồng giữa cơ quan nhà nước và tư nhân mà chủ yếu
là cơ quan chấp hành (cấp cơ sở), những vẫn có một số khác biệt giữa công và tư.
Thật vậy, hoạt động của tổ chức công và tư đều căn cứ vào pháp luật, cả hai loại
hình tổ chức công và tư đều chấp hành các qui chế hay nghị định cho phép một cơ
quan chuyên môn hoạt động. Trong đó, mỗi nhân viên phải đảm nhận một chức trách,
tổ chức bên trong và bên ngoài để hướng tới mục tiêu chung.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện đại, phù hợp với các tiêu chuẩn của
từng chức danh nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý khi có thay đổi của cơ quan nhà nước.
Do vậy, cần có hệ thống quản lý, đánh giá cán bộ, công chức thường xuyên và định kỳ,
có các chế độ, chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức để làm cơ sở phát triển nguồn
nhân lực trong tương lai.
- Xây dựng cơ chế phối hợp, đảm bảo có chỉ đạo dọc theo cấp hành chính về
thời gian và phối hợp ngang giữa các bộ phận trong cơ quan, giữa các cơ quan trong
cùng hệ thống và sự liên kết, phối hợp giữa các cá nhân trong một bộ phận. Việc thực
hiện cơ chế phối hợp có hiệu quả sẽ góp phần vào việc hoàn thành công việc chung
nhằm hướng tới đạt mục tiêu chung.
Cuối cùng là, chức năng kiểm tra, đánh giá đóng vai trò quan trọng, giúp người
lãnh đạo thẩm định những việc đã làm được, những việc chưa làm được, mở rộng
thêm tính lý luận và thực tiễn hành chính, từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp
cho những kỳ tiếp theo. Kiểm tra là nhiệm vụ quan trọng của mỗi cá nhân người lãnh
đạo trong hệ thống cơ quan hành chính, qua kiểm tra phát hiện những sai sót vướng
mắc, ách tắc trong quá trình hoạt động để có giải pháp xử lý kịp thời, song song đó tìm
những cơ hội và các nguồn lực có thể khai thác, tận dụng nhằm đạt nhanh mục tiêu đã
đề ra; từ đó làm rõ những việc đã làm được hay chưa làm được để có khen thưởng và
9
kỷ luật. Các loại báo cáo sơ kết, tổng kết, đánh giá là công cụ quan trọng trong công
tác kiểm tra.
Thứ ba, Kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước tài trợ.
Trong nền kinh tế, hầu hết hoạt động thuộc lĩnh vực công hay tư đều gắn liền
với chi tiêu, chi tiêu là phương tiện, là điều kiện để đạt được mục tiêu hoạt động mong
muốn; thông thường mục tiêu quyết định phương tiện, điều kiện cần thiết để đạt được
mục tiêu, và lý thuyết về sự bù đắp mà trong khu vực công người ta thường sử dụng lý
thi hành công việc được giao cần tính tỉ mỉ theo những tiêu chuẩn, định mức cho phép,
nếu không chi phí tăng cao do sự phí phạm của nhân viên thi hành, và do đó phải tăng
thuế.
Về lý thuyết quản lý hành chính công, người ta cho rằng, Quốc hội được dân
chúng bầu ra, đại diện cho công chúng vạch ra “chính sách”, và chính quyền chỉ có
phận sự thi hành chính sách đó. Những viên chức chính phủ không chịu trách nhiệm
về việc hoạch định chính sách, chỉ chịu trách nhiệm về sự thi hành chính sách trong
phạm vi kinh phí cho phép, không lãng phí kinh phí, nghĩa là không được hoàn thành
nhiệm vụ được giao với kinh phí vượt mức cho phép. Những qui tắc ràng buộc, hạn
định trên chính là khuôn khổ của mô hình quản lý tài chính công cổ điển.
Mô hình quản lý tài chính công cổ điển có các đặc trưng: người quản lý hạn chế
trong trao quyền quyết định hoạt động và chi tiêu; trách nhiệm thi hành chú trọng vào
việc quản lý các yếu tố đầu vào và bị ràng buộc phải tuân thủ pháp luật và kiểm tra tài
chính.
Những yếu tố đầu vào gồm nhân công, vật liệu và qui trình nghiệp vụ được tiêu
chuẩn hóa (định mức tiêu hao, tiêu chuẩn nhân công, vật liệu…) bởi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, thường là Bộ chức năng (Bộ Lao động, Bộ chuyên ngành liên quan) và
Bộ Tài chính. Vấn đề tuân thủ pháp luật chính là vấn đề sử dụng đúng các tiêu chuẩn
định mức nhân công, vật liệu và các chi phí khác bằng tiền và chịu sự kiểm tra tài
chính của cơ quan cấp trên trực tiếp, cơ quan thanh tra tài chính và cơ quan thanh tra
chuyên ngành.
Theo lý thuyết này, quản lý tài chính công cổ điển thực chất là sử dụng các
nguồn lực định sẵn và được giao để thực hiện mục tiêu đã định trước nên nhà quản lý
không có, mà thực chất là không cần những hành động cụ thể để thực hiện cắt giảm
chi phí, cải tiến quản lý nhằm nâng cao hiệu quả. Quản lý tài chính trong trường hợp
đó không liên quan gì đến việc hoạch định chính sách, không tiếp cận đến vai trò của
tài chính với tư cách là nhân tố quan trọng tác động mạnh đến kết quả và hiệu quả hoạt
động của cơ quan, đơn vị.
11
bản nhiều mối quan hệ như quan hệ giữa chi tiêu công và hàng hóa được cung cấp,
quan hệ giữa bên cung cấp dịch vụ (cơ quan nhà nước) và bên mua hay sử dụng dịch
12
vụ (người dân). Đồng thời cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa cơ quan nhà nước và tổ chức
tư nhân (ví dụ như phòng công chứng nhà nước và phòng công chứng tư nhân và nhiều
ví dụ khác); hạn chế sự độc quyền không hiệu quả, thúc đẩy cơ quan nhà nước cải tiến
qui trình nghiệp vụ, tác phong, lề lối làm việc của nhân viên, phương thức quản lý điều
hành công sở v.v…
- Hướng về kết quả - đầu ra
Chức năng trung tâm của mô hình là nhấn mạnh đến việc đo lường kết quả thực
hiện chứ không phải là kiểm soát yếu tố đầu vào. Thay đổi này dẫn đến việc thay đổi
cơ chế quản lý từ cấp thi hành đến cấp hoạch định chính sách: cấp cơ sở, nâng cao
trách nhiệm giải trình và xác định rõ trách nhiệm cá nhân của từng nhân viên thi hành
và nhà quản lý cơ sở. Đối với hoạch định, phải xác định mục tiêu, mục đích với các chỉ
số hoạt động cho từng cơ quan rõ ràng, minh bạch làm cơ sở cho việc phân bổ ngân
sách, kiểm tra, giám sát và xác định mức độ hoàn thành, trách nhiệm cáa nhân (nếu
có).
- Hướng về công chúng (người dân)
Xuất phát từ mục tiêu “sự hài lòng của khách hàng” trong hoạt động kinh
doanh, mô hình quản lý tài chính công hiện đại lấy sự hài lòng của người dân làm mục
tiêu cơ bản và cuối cùng của cơ quan nhà nước.
Trong mô hình quản lý truyền thống, cổ điển coi công dân là người “được
hưởng” dịch vụ do cơ quan nhà nước cung cấp, còn trong mô hình quản lý hiện đại,
công dân là khách hàng vì vậy, nhà cung cấp có nghĩa vụ nâng cao chất lượng dịch vụ
và xác định phương cách để tổ chức đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Tuy nhiên, mô hình quản lý hiện đại chưa phải là một lý thuyết có hệ thống, còn
bộc lộ một số hạn chế như: bỏ qua sự khác biệt giữa quản lý khu vực công và khu vực
tư, chỉ chú trọng đến kết quả, hiệu quả và thực tiễn của dịch vụ công mà bỏ qua việc