1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phú Thọ là vùng đất cổ giàu truyền thống lịch sử và văn hóa. Cách đây
hàng ngàn năm, các Vua Hùng đã chọn nơi đây là đất đóng đô của nước Văn
Lang. Trải qua các thời kỳ lịch sử, nhân dân Phú Thọ luôn phát huy truyền
thống của cha ông, đoàn kết một lòng, kiên cường, bất khuất trong xây dựng
và bảo vệ quê hương.
Nhân dân Phú Thọ cần cù trong lao động sản xuất. Phú Thọ là tỉnh có
nhiều tiềm năng cho việc phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới. Trên cơ sở
phát huy tiềm năng sẵn có của tỉnh, dưới sự chỉ đạo đúng đắn và kịp thời của
Đảng bộ tỉnh trong những năm qua nền kinh tế của toàn tỉnh có những bước
phát triển vượt bậc và đạt được những thành tựu lớn. Phú Thọ là tỉnh có tiềm
năng rất lớn cho phát triển kinh tế nông nghiệp.
Được tái lập vào tháng 1 năm 1997, Phú Thọ đứng trước những cơ hội
lớn và những thách thức không nhỏ về phát triển kinh tế - xã hội. Là một tỉnh
trung du miền núi, đại bộ phận dân cư trong tỉnh làm nông nghiệp. Do vậy,
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đáp ứng kịp thời với công cuộc đổi mới
bắt kịp với xu thế phát triển của đất nước và thời đại, đồng thời nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Trong đó, việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, cấu trúc lại ngành nông nghiệp cho phù hợp là một vấn
đề rất được Đảng bộ và chính quyền tỉnh quan tâm. Nhiều nghị quyết, chỉ thị
đã được đưa ra để chỉ đạo việc phát triển kinh tế nông nghiệp.
Trong những năm qua, quán triệt các nghị quyết của Trung ương Đảng,
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về việc phát triển nông nghiệp, nông thôn,
tỉnh Phú Thọ đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội…
2
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề
- Tập hợp, xử lý nguồn tài liệu.
- Trình bày, phân tích, đánh giá khách quan về sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Phú Thọ đối với kinh tế nhất là đối với lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, một
ngành kinh tế truyền thống của tỉnh. Trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm
trong sự lãnh đạo của Đảng về việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử Đảng,
đề tài tập trung là rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ với việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong những năm đổi mới từ năm 1997 đến
năm 2010.
- Phạm vi về không gian: Tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu tình hình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp tỉnh Phú Thọ trong những năm đổi mới (1997 - 2010).
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp chủ yếu là:
- Các văn kiện của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về vấn đề
kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
- Các sách thông sử và lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
4
- Các báo cáo tổng kết kinh tế hằng năm của Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh
Phú Thọ.
- Tài liệu thống kê của cục thống kê tỉnh Phú Thọ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu của tôi được nghiên cứu trên cở sở sử dụng phương
pháp luận sử học của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Sử dụng phương pháp: Phương pháp Lịch sử, phương pháp Lôgic,
Phía Bắc giáp Tuyên Quang và Yên Bái,
Phía Nam giáp Hòa Bì nh,
Phía Đông giáp Vĩ nh Phúc và Hà Nội,
Phía Tây giáp Sơn La,
Phú Thọ nằm ở vị trí tiếp giáp giữa Đô ng Bắc, đồng bằng sông Hồng và
Tây Bắc, là trung tâm tiểu vùng Tây - Đông Bắc. Diện tí ch chiếm 1,2% diện
tích cả nước và chiếm 5,4% diện tí ch vùng miền núi phí a Bắc . Dân số chiếm
1,64% dân số cả nước , chiếm 14,3% dân số vùng miền núi phí a Bắc . Đó là
những yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội.
Với vị trí ở ngã ba sông , cửa ngõ phí a Tây của thủ đô Hà Nội và đị a bàn
kinh tế trọng điểm phí a Bắc , Phú Thọ là cầu nối các tỉ nh đồng bằng Sông
Hồng với các tỉ nh miền nú i Tây Bắc và Đông Bắc , là nơi trung chuyển hàng
hóa thiết yếu của các tỉnh miền núi phía Bắc
. Phú Thọ chỉ cách Hà Nội
khoảng 80 km tí nh theo đường ô tô và cách các tỉ nh xung quanh từ
100km -
300km. Các hệ thống đường bộ , đường sắt, đường sông từ các tỉ nh phí a Tây
Đông Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội , Hải Phòng và các tỉnh ,
thành phố khác trong cả nước...
6
Thành phố Việt Trì là thủ phủ của tỉnh đồng thời cũng là một trong
5
Tiểu vùng trung du đồng bằng : gồm thành phố Việt Trì , thị xã Phú
Thọ và các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Thủy, Tam Nông, Đoan Hùng,
Thanh Ba và phầ n còn lại của huyện Cẩm Khê , Hạ Hoà . Diện tí ch tự nhiên
7
khoảng 169.489,50 ha, có độ cao trung bình so với mực nước biển từ
50 -
200m. Đây đang là tiểu vùng có kinh tế - xã hội phát triển , tiềm năng nông ,
lâm, khoáng sản đượ c khai thác tương đối triệt để , nơi sản xuất nhiều nông
sản hàng hoá xuất khẩu như: chè, đậu tương, lạc v.v... Nơi có nhiều khu, cụm,
điểm công nghiệp.... nhưng đã xuất hiện hiện tượng đất bị thoái hóa ở một vài
nơi, còn dải đất ven sông lại màu mỡ . thuận lợi cho phát triển chè , đậu tương,
lạc, vừng, cây ăn quả , sản xuất lương thực , chăn nuôi gia súc , gia cầm, nuôi
trồng thuỷ sản... là tiểu vùng thuận lợi về điều kiện giao thông vận tải , có đất
đai phù hợp cho phát triển khu công nghiệp và đô thị .
Tóm lại, Phú Thọ có địa hình đa dạng , vừa có miền núi , vừa có trung du
và đồng bằng ven sông , đã tạo ra nguồn đất đai đa dạng , phong phú để phát
triển nông lâm nghiệ p hàng hoá toàn diện với những cây trồng , vật nuôi có
giá trị kinh tế cao phù hợp với thị trường trong nước và thế giới. Tuy nhiên do
đị a hì nh chia cắt , mức độ cao thấp khác nhau nên việc đầu tư khai thác tiềm
năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội phải
đầu tư tốn kém nhất là giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước v.v...
1.1.2.2. Khí hậu
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa , điểm nổi bật là mùa
đông không lạnh lắm, nhiệt độ trung bì nh năm khoảng 23oC, tổng tí ch ôn năm
khoảng 8.000oC, lượng mưa trung bì nh năm khoảng 1600 - 1800mm. Độ ẩm
trung bì nh năm khoảng 85 - 87%. Căn cứ vào đị a hì nh Phú Thọ có 3 tiểu vùng
diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 92.495 ha, chiếm 26%.
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 59.235 ha,
chiếm 61%; riêng đất lúa có 48.437 ha, chiếm 81,7% gieo trồng 2 vụ; diện
9
tích đất trồng cây lâu năm là 12.074 ha, chiếm 12,57%; diện tích đất có mặt
nước nuôi trồng thuỷ sản là 2.321 ha.
Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh 68.836,2 ha; bãi bồi có thể sử
dụng 2.438,1 ha.
1.1.2.4. Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: với diện tích lưu vực của 3 sông lớn đã có 14.575 ha,
chứa một dung lượng nước mặt rất lớn . Sông Hồng có chiều dài qua tỉ nh 96
km, lưu lượng nước cực đại , có thể đạt 18.000 m3/s; sông Đà qua tỉ nh 41,5
km, lưu lượng nước cực đại 8.800 m3/s; sông Lô qua tỉ nh 76 km, lưu lượng
nước cực đại 6.610 m3/s và 130 sông suối nhỏ cùng hàng nghì n hồ , ao lớn ,
nhỏ phân bố đều khắp trên lãnh thổ đều chứa nguồn nước mặt dồi dào.
Nguồn nước ngầm: có nước ngầm phân bố ở các huyện Lâm Thao, Phù
Ninh, Đoan Hùng, thị xã Phú Thọ và Hạ Hoà , nhưng có lưu lượng nước khác
nhau. Ở Lâm Thao, Nam Phù Ninh có lưu l ượng nước bình quân 30l/s. Ở La
Phù - Thanh Thuỷ có mỏ nước khoáng nóng , chất lượng nước đạt tiêu chuẩn
quốc tế mở ra triển vọng lớn cho phát triển ngành du lịch nghỉ dưỡng, chữa
bệnh với quy mô lớn.
Tài nguyên nước của Phú Thọ rất dồi dào đủ đáp ứng cho yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội với cường độ cao . Song cần có quy hoạch để bảo vệ và
khai thác hợp lý theo hướng bền vững.
1.1.3. Địa giới hành chính, dân cƣ tỉnh Phú Thọ
1.1.3.1. Địa giới hành chính
Phú Thọ là vùng đất tổ cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Nơi đây, các
vua Hùng đã dựng nước Văn Lang - quốc gia đầu tiên của Việt Nam với thủ
Phú Thọ.
Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai
11
tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở thành
tỉnh lỵ của Vĩnh Phú.
Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết (ngày
26/11/1996) về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong
đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ. Tỉnh Phú Thọ chính thức
được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, ngay năm sau
Phú Thọ được công nhận là tỉnh miền núi.
Khi tách ra, tỉnh Phú Thọ có diện tích 3.465,12 km², dân số 1.261.949
người, gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện: thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), thị
xã Phú Thọ và 8 huyện Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Sông Thao, Thanh
Sơn, Yên Lập, Tam Thanh, Phong Châu. Tiếp đến ngày 24-7-1999, Chính
phủ ra Nghị định số 59 chia tách nốt hai huyện cuối cùng của tỉnh Phú Thọ là
Phong Châu và Tam Thanh để tái lập lại các huyện cũ là Lâm Thao, Phù
Ninh, Tam Nông và Thanh Thủy. Ngày 09/4/2007, Chính phủ ban hành Nghị
định số 61/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới huyện Thanh Sơn để
thành lập huyện Tân Sơn.
1.1.3.2. Dân cư
Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Phú Thọ có 1.216.599 người.
Trong đó, lao động xã hội toàn tỉnh là 727.500 người, chiếm 59,8% dân số.
Trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh với số dân là
1.044.979 người, chiếm 85,89% dân số của tỉnh. Dân số là người dân tộc
thiểu số là: 171.620 người, chiếm 14,11% số dân toàn tỉnh. Trong số các dân
tộc thiểu số dân tộc Mường có 165.748 người, chiếm 13,62%; dân tộc Dao có
11.126 người, chiếm 0,92%; dân tộc Sán Chay có 2.641 người, chiếm 0,22%;
các chi bộ đầu tiên và ra đời Đảng bộ Phú Thọ. Từ đây, phong trào yêu nước
chống Pháp theo các trào lưu phong kiến và tư sản đã chuyển sang phong trào
13
cách mạng vô sản do Đảng lãnh đạo, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và đã
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc. Năm 1945,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ với hơn hai chục đảng viên, Đảng bộ đã tập
hợp được rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Việt Minh, kịp thời
phát động toàn dân nổi dậy phối hợp cùng cả nước làm nên thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám vĩ đại.
Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ với đội ngũ
280 đảng viên. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh tiến hành cuộc kháng
chiến trường kỳ theo phương châm “Toàn dân, toàn diện” của Đảng và đã
giành thắng lợi vẻ vang, vĩnh viễn chấm dứt ách đô hộ thực dân trên quê
hương. Bằng những chiến công vang dội trong trận Sông Lô, Tu Vũ, Trạm
Thản, Chân Mộng… là những trang sử hào hùng của quân đội nhân dân Việt
Nam và cũng là của Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ.
Từ giữa năm 1954 đến đầu năm 1968, thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược của Đảng, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh vừa xây dựng chủ
nghĩa xã hội, vừa tham gia đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng
không quân của đế quốc Mỹ. Thời gian chỉ hơn mười năm, nhưng bằng lỗ lực
phấn đấu không biết mệt mỏi của mình, cùng với sự hỗ trợ của Trung ương,
Phú Thọ đã có những chuyển biến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Quan
hệ sản xuất mới được xác lập và từng bước củng cố. Các khu công nghiệp
Trung ương chính thức được hình thành, đặc biệt là khu công nghiệp Việt Trì
đã góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh. Trong sự
nghiệp chống Mỹ, cứu nước, quát triệt đường lối chiến tranh nhân dân của
Đảng, Đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân trong tỉnh tổ chức tốt công tác phòng
tránh, sơ tán, giảm thiệt hại đến mức thấp nhất về người và của. Đồng thời
hương đã có nhiều khởi sắc trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
15
xã hội, đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh không ngừng được nâng lên,
đồng thời có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp chung của cả nước.
1.3. TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ TRƢỚC
NĂM 1997
1.3.1. Chủ trƣơng của Đảng
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của nhân dân ta kết thúc và giành thắng lợi. Đây là một trong những
chiến thắng lịch sử oanh liệt nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chiến tranh vệ
quốc của dân tộc. Chúng ta đã đánh bại đế quốc Mỹ một đế quốc có thế lực
mạnh về kinh tế và quân sự vào bậc nhất thế giới. Mở ra một kỷ nguyên mới
kỷ nguyên độc lập dân tộc thống nhất nước nhà cả nước tiến lên chủ nghĩa xã
hội.
Tuy nhiên, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ hết sức khó
khăn: đất nước vừa bước qua chiến tranh xây dựng đất nước từ đống tro tàn,
những hậu quả của chiến tranh còn rất nặng nề. Những năm cuối của thập kỷ
80 của thế kỷ XX do cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp kéo
dài đã làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ, dẫn tới khủng hoảng kinh tế nghiêm
trọng. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12
- 1986) đã quyết định tiến hành công cuộc đổi mới đất nước một cách toàn
diện. Trong đó chỉ rõ “Phải bố trí lại cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa nước ta
tiến lên một bước theo hướng sản xuất hàng hóa lớn”.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, các cấp đảng bộ lần lượt tổ chức
đại hội. Đại hội đại biểu tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VI đã được tiến hành từ ngày
23 đến ngày 28 tháng 10 năm 1986 tại thành phố Việt Trì. Đại hội đã tổng kết
kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V (1983- 1985) và
quyết định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ của nhiệm kỳ (1986 -1990) là:
17
mẽ lực lượng sản xuất khỏi sự trói buộc cơ chế cũ, tạo điều kiện phát triển
mạnh mẽ hơn kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Thực hiện nghị quyết 10 của Bộ chính trị ngày 21 tháng 4 năm 1988,
tỉnh ủy Vĩnh Phú đã ra Nghị quyết 10 - NQ/TU về “ Đổi mới quản lý trong
hợp tác nông nghiệp” nhằm tiếp tục tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tỉnh ủy đã chủ trương từ vụ mùa 1988 thực hiện rộng rãi trong hợp tác xã
nông nghiệp hình thức khoán trên cơ sở xác định mức ngày công và chi phí
sản xuất, thanh toán bằng sản phẩm thay thế chế độ thanh toán bằng công
điểm. Thực hiện hình thức khoán mới nhằm phát huy mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế, các vùng, các ngành; chuyển nền sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất hàng hóa theo hướng khai thác thế mạnh của từng vùng, giải
phóng nhu cầu cơ bản về lương thực, thực phẩm, tăng thêm nguyên liệu cho
công nghiệp, hàng hóa cho tiêu dùng và xuất khẩu, phục vụ tốt cho 3 chương
trình kinh tế lớn.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ( tháng 6 - 1991) của Đảng đã
đề ra những định hướng lớn trong đó có quan điểm: Phải đảm bảo cho sự tăng
trưởng kinh tế gắn liền với quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa thoát
khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với
công nghiệp chế biến; phát triển toàn diện kinh tế nông thôn xây dựng nông
thôn mới. Đảng coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm ổn định tình
hình kinh tế xã hội.
Triển khai những định hướng đó, tháng 6 năm 1993 tại Hội nghị Trung
ương lần thứ 5 (khóa VII) Đảng đã ra Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới và
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”. Hội nghị nhấn mạnh quan điểm phải
đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng
Cây công nghiệp dài ngày như chè, sơn,… từng bước được mở rộng cả
về diện tích và sản lượng. Trong năm 1995, diện tích chè trồng mới được 582
ha, nâng tổng số diện chè trên địa bàn là 7.521 ha, trong đó diện tích chè cho
sản phẩm là 6.156 ha. Diện tích cây sơn toàn tỉnh là 485 ha trong đó trồng
mới 22,5 ha, chủ yếu ở huyện Tam Thanh, Thanh Sơn, Sông Thao và Đoan
Hùng… Các loại cây ăn quả chủ lực như chuối, cây có múi, hồng đã phát
triển tập trung chủ yếu ở Đoan Hùng, Thanh Hòa, Phong Châu và Việt Trì.
Phong trào cải tạo vườn tạp thành các vườn cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
được cấp ủy tiếp tục chỉ đạo đối với các địa phương trong tỉnh. Chương trình
vườn đồi, nông trại, trang trại được mở rộng với quy mô ngày càng lớn.
Thời kỳ này, chăn nuôi gia súc, gia cầm ở các địa phương trong tỉnh
được đẩy mạnh. Năm 1991 , tỉnh có 10,5 vạn con trâu, 14,4 vạn con bò, 44,7
vạn con lợn, 40 vạn con gia cầm và 4.812 ha mặt nước nuôi thủy sản. Việc tận
dụng diện tích mặt nước vào nuôi trồng thủy sản đã mạng lại hiệu quả kinh tế
cao. Nhiều diện tích ao hồ, đầm sau khi đấu thầu, sản lượng cá đều tăng 40 50% so với trước đây. Trong 3 năm 1993 - 1995, chăn nuôi phát triển nhanh
cả về số lượng và chất lượng. Đàn lợn, đàn trâu, bò và đàn gia cầm đều tăng
khá. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng năm 1995 đạt 49.649 tấn, riêng thịt
lợn hơi chiếm 3,6 vạn tấn. Nuôi thả cá phát triển mạnh ở tất cả các diện tích
mặt nước sẵn có và một phần diện tích mặt nước bị ngập úng. Do đó, sản
lượng cá thịt tăng gấp 2 lần so với trước đây, đáp ứng một phần nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân trong tỉnh.
Nhìn chung kinh tế nông nghiệp của tỉnh trong giai đoạn này có bước
phát triển. Vùng đồng bằng và ven đô thị trở thành vùng có khối lượng và tỷ
suất hàng hóa lương thực, thực phẩm khá, đạt giá trị kinh tế cao trên một đơn
20
vị diện tích. Vùng trung du, miền núi có bước chuyển biến trong việc trồng
cây nguyên liệu, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và ứng
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các giống có năng suất cao vào sản
hút các doanh nghiệp đầu tư về nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp gặp
nhiều khó khăn.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các vùng nông thôn chưa
đồng đều, đã xuất hiện sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng
bằng và miền núi.
*
*
*
Phú Thọ có những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế như:
vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch cả
về đường bộ, đường sắt và đường thủy; tỉnh cũng có tiềm năng rất lớn về tài
nguyên thiên nhiên, và đặc biệt là nguồn lao động dồi dào phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp đổi mới. Những năm qua, kinh tế Phú Thọ có nhiều đổi thay,
nhất là trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp đã có những chuyển biến tích cực.
Kết quả của sản xuất nông nghiệp tỉnh phú thọ từ năm 1997 đến 2005
của tỉnh Phú Thọ đã chứng tỏ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là
đúng hướng. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 77,6 % xuống còn 76,5% và
nâng cao tỷ trọng trong ngành chăn nuôi từ 22,4% lên 23,5%.
Kinh tế nông nghiệp, nông thôn có chuyển biến tích cực, bước đầu khai
thác được lợi thế của mỗi vùng; khuyến khích phát triển kinh tế hộ, kinh tế
trang trại. Toàn tỉnh từng bước hình thành việc phân công lao động từ nông
nghiệp sang làm dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, nâng cao
thu nhập tăng hộ giàu, cơ bản xóa đói giảm nghèo, làm thay đổi bộ mặt nông
thôn.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp tỉnh Phú Thọ đã được
tiến hành một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, còn một số hạn chế mà Đảng bộ
và nhân dân Phú Thọ phải chú ý để khắc phục trong những giai đoạn tiếp
theo.
23
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu” [19, tr. 86]. Đại hội chỉ rõ phát
triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên
canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về
số lượng, tốt về chất lượng bảo đảm an toàn về lương thực trong xã hội, đáp
ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài
nước.
Thực hiện thủy lợi hóa, hiện đại hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa…
Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày
càng cao gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị.
Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề
mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,
hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi
nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông
thôn mới văn minh, hiện đại.
Hoàn thành về cơ bản việc giao đất, khoán rừng cho người nông dân.
Điều chỉnh việc phân bổ vốn và huy động thêm nhiều nguồn vốn cho phát
triển nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Có nhiều chính sách
khuyến khích và trợ giúp nông dân trong xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển
giao công nghệ giải quyết các khó khăn về vốn, về giá vật tư nông nghiệp và
hàng nông sản, về thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Hội nghị lần thứ 4 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 12 - 1997) ra Nghị quyết :
“Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, phấn đấu hoàn thành các mục
tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000”. Nghị quyết chỉ rõ: Phát triển nông nghiệp
25
Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ
khoa học - kỹ thuật để phát triển hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngày càng cao
nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh về
xuất khẩu.
Phát triển nền nông nghiệp nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền
tảng, hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng pháp luật.
Tiếp tục phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác; các loại hình hợp tác xã
dịch vụ cho kinh tế hộ nông dân, từng bước xây dựng hợp tác xã nông nghiệp
theo Luật Hợp tác xã; chú trọng liên kết kinh tế nhà nước với các thành phần
kinh tế khác. Tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những
người có khả năng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
Sáu mục tiêu là:
Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống. Từng bước
cải thiện cơ cấu và chất lượng bữa ăn, tiến tới đạt tiêu chuẩn về dinh dưỡng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông
sản, lâm, thủy sản qua chế biến; tăng kim ngạch xuất khẩu; giảm tỷ lệ lao
động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế
nông thôn.
Bằng nhiều biện pháp để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của
dân cư nông thôn; xóa hộ đói ( vào năm 2000), giảm tỷ lệ hộ nghèo; phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, chú trọng phát triển hệ thống thủy
lợi, bảo đảm đường giao thông thông suốt đến trung tâm xã, có đủ trường học,
trạm y tế và nước sạch cho sinh hoạt. Bảo vệ môi trường sinh thái. Ngăn chặn
nạn phá rừng; có chính sách để huy động nhân dân và các thành phần kinh tế