ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN
ĐẢNG BỘ LIÊN KHU VIỆT BẮC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG
(1949- 1956)
Chuyên ngành
Mã số
: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
:
62.22.56.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
1
Hà Nội - 2014Công trình được hoàn thành tại: Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã
hội và
Nhân Văn
Người hướng dẫn khoa học
1. PGS,TS. Nghiêm Đình Vỳ
2. TS. Trần Trọng Thơ
Phản biện 1:........................................................
.......................................................
Phản biện 2:........................................................
đề cấp bách trong xây dựng Đảng đã chỉ rõ 3 vấn đề đang thực sự cấp bách, cần làm ngay, với mong
muốn tạo ra được những kết quả cụ thể, rõ rệt để củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân
đó là: “Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, “Xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế” và “Xác định rõ thẩm quyền cá nhân, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền
và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan đơn vị”.
Để thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, rất cần nghiên cứu, đúc kết và vận dụng những
kinh nghiệm hay về xây dựng, chỉnh đốn và củng cố Đảng trong các giai đoạn lịch sử đã qua, trong
đó có những kinh nghiệm xây dựng Đảng ở một địa bàn chiến lược như Việt Bắc thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Xuất phát từ những lý do trên đây, nghiên cứu sinh chọn nội dung “Đảng bộ Liên khu Việt
Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng (1949 - 1956)” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích của luận án: Nghiên cứu quá trình Đảng bộ Liên khu Việt Bắc thực hiện
nhiệm vụ xây dựng Đảng (1949 – 1956)
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ những chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Thường vụ Trung
ương, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo
Đảng đối với công tác xây dựng Đảng tại Liên khu Việt Bắc từ năm 1949 đến năm 1956.
- Tái hiện và luận giải, phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế, quá trình Đảng
bộ Liên khu Việt Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng và tổ
chức từ năm 1949 đến năm 1956.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đối với công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc, hoạt động xây dựng Đảng bộ
Liên khu Việt Bắc và hiệu quả của những hoạt động đó tác động tới việc thực hiện các nhiệm vụ
kháng chiến, kiến quốc và khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội của Liên khu Việt Bắc.
Việt Bắc hiện lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và lưu trữ tại một số tỉnh
thuộc Liên khu Việt Bắc trước đây.
- Hồi ký và ý kiến của các đồng chí lão thành cách mạng đã từng tham gia xây dựng Đảng
tại Việt Bắc; các bài nói, bài viết của một số đồng chí lãnh đạo lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Tỉnh
ủy các tỉnh thuộc Liên khu Việt Bắc trước đây về xây dựng Đảng... đã xuất bản hoặc lưu tại các cơ
quan: Viện lịch sử Đảng, Trung tâm lưu trữ quốc gia III và lưu trữ tại một số tỉnh.
+ Các công trình nghiên cứu khoa học, đề tài đã công bố về xây dựng Đảng, lịch sử dân
tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp và một số bài viết có liên quan đến đề
tài luận án được đăng tải trên các tạp chí.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
trong đó: phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp đó là chủ
yếu. Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê khái quát, tổng
hợp ..
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả của luận án tiến hành khảo sát thực tế và gặp gỡ, trao đổi với
một số lão thành cách mạng đã từng hoạt động tại Việt Bắc để đối chứng thông tin, kiểm định tư liệu.
5. Đóng góp về mặt khoa học của luận án
- Hệ thống hóa tài liệu thuộc lĩnh vực xây dựng Đảng
4
- Luận án tái hiện một cách có hệ thống, toàn diện ,đánh giá một cách khách quan, khoa học
những ưu điểm, chỉ ra những hạn chế và nêu ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn tiến hành quá trình
thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng tại Liên khu Việt Bắc.
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần phát triển công tác nghiên cứu, giảng lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo và Phụ lục, luận án kết cấu gồm 4
chương, 8 tiết.
khu V. Tác giả Nguyễn Thị Xuân trong bài viết “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Liên khu
III trong những năm 1948-1950”. Luận án tiến sĩ lịch sử của Ngô Đăng Tri: Vùng tự do Thanh Nghệ -Tĩnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp (bảo vệ năm 1989) và Luận án tiến sĩ lịch sử
của Lê Văn Đạt: Vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945- 1954 (bảo
vệ năm 2002) Luận án tiến sĩ của Nguyễn Danh Lợi: Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên
khu IV từ tháng 11/1946 đến tháng 7/1954 (bảo vệ năm 2012)
1.2. Những công trình nghiên cứu về Việt Bắc và Lịch sử Đảng bộ các tỉnh thuộc Liên khu
Việt Bắc trước đây
Tác phẩm Mấy vấn đề xây dựng Đảng ở miền núi, của tác giả Chu Văn Tấn. Tác phẩm Nắm
vững những quan điểm cơ bản trong công tác xây dựng Đảng ở miền núi, do Lê Dục Tôn biên soạn.
Tác phẩm Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng 1945-1975, tập I. Nhà xuất bản Quân đội nhân
dân. Tác phẩm Tổng kết chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến lược quân sự của Liên Khu Việt Bắc trong
kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954 do Bộ Tư lệnh Quân khu I chủ trì. Tác phẩm Tổng kết
chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến lược quân sự của liên khu Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân
Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991. Bài viết “Xây dựng căn cứ địa Việt Bắc
theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh (1946-1954)” của hai tác giả Trần
Trọng Thơ và Lê Xuân An. Luận án tiến sĩ lịch sử của Phan Thị Thoa: Hoạt động tài chính ở Liên
khu Việt Bắc trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1946-1954 (bảo vệ 2011).
Lịch sử Đảng bộ 17 tỉnh thuộc Liên khu Việt Bắc. Một số kỷ yếu hội thảo khoa học như:
Hội thảo “55 ngày Quân đội nhân dân Việt Nam - miền đất sơ khai và quá trình phát triển”, do
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Quân khu I, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng tổ
6
chức tháng 12- 1999; Kỷ yếu Hội thảo “Chiến thắng đường số 4 và Chiến dịch Biên giới” do
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức, Tỉnh ủy Cao Bằng, Tỉnh ủy Lạng Sơn, Tỉnh
ủy Quảng Ninh phối hợp tổ chức ngày 24-9 - 2000..
Những công trình trên đây là tài liệu tham khảo bổ ích khi, giúp tác giả luận án có cơ sở đối
chiếu, so sánh để làm nội bật những đặc điểm của công tác xây dựng Đảng tại Liên khu Việt Bắc từ
năm 1949 đến năm 1956.
2. Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu giải quyết
128/SL về cử các ủy viên ủy ban Hành Chính Liên khu. Theo đó, Chu Văn Tấn (Tân Hồng) làm
Chủ tịch, Bùi Quang Tạo và đồng chí Thân làm Phó Chủ tịch.
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của cuộc kháng chiến, Hội nghị Ban Thường vụ
Trung ương Đảng ngày 28, 29 tháng 9 năm 1949 quyết định thống nhất hai Liên khu I và Liên khu
X thành Liên khu Việt BắcLiên khu Việt Bắc gồm 17 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà
Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh,
Thái Nguyên, Quảng Yên, Hòn Gai, Hải Ninh và châu Mai Đà của tỉnh Hòa Bình1. Quyết định của
Ban Thường vụ Trung ương sau đó được Ban Chấp hành Trung ương thông qua trong các ngày 27,
28 - 10-1949.
Vị trí địa lý của Liên khu Việt Bắc, địa hình Liên khu Việt Bắc chia thành 2 vùng rõ rệt là
vùng thượng du và trung du. Trên các dãy núi đá có nhiều hang động, được dùng là nơi ẩn nấp và
cất giấu lương thực, thực phẩm khá an toàn của bà con các dân tộc. Liên khu Việt Bắc có nhiều
sông, suối như sông lớn như sông Lô, sông Thương, sông Gâm… Về mặt giao thông, sau khi thiết
lập chế độ thuộc địa, thực dân Pháp đã mở một số con đường nối với miền xuôi. Việt Bắc là địa bàn
rất cơ động về chiến lược. Việt Bắc có một nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có và đa dạng. Trong
các cánh rừng rậm rộng lớn của Việt Bắc có nhiều loại gỗ hiếm như đinh, lim, sến, táu, lát, pơmu và
bạt ngàn tre, lứa song, mây…
Việt Bắc là địa bàn tụ cư của 28 dân tộc anh em, gồm: Kinh, Tày, Nùng, Thái, Mường,
H.mông, Dao, Sán Chay (Cao Lan - Sán Chỉ), Sán Dìu, Giáy, Khơ - mú, Kháng, Xinh - mun, Hà
Nhì, Lào, La Chí, La Ha, Phù Lá, La Hủ, Lự, Lô Lô, Mảng, Pà Thẻn, Cơ Lao, Cống, Bố Y, Si La,
Pu Péo. Các dân tộc nơi đây có truyền thống lao động cần cù, đoàn kết, gắn bó, yêu thương, tương
trợ lẫn nhau. Việt Bắc có một bộ phận nhân dân theo đạo công giáo, sinh sống trên địa bàn các tỉnh:
Bắc Ninh, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang…
Tuy nhiên, phần lớn địa bàn là khu vực miền núi, dân cư thưa thớt, giao thông đi lại khó
khăn, đặc diểm phong tục tập quán sinh hoạt, ngôn ngữ, nhất là trình độ học vấn hạn chế,...của nhân
dân các dân tộc Việt Bắc cùng gây ra nhiều khó khăn trong công tác xây dựng Đảng, nhất là công
tác phát triển đảng viên.
Sự ra đời của Liên khu Việt Bắc đánh dấu một bước phát triển mới của cuộc kháng chiến
trên địa bàn trung du và vùng núi phía Bắc Việt Nam, đồng thời đặt ra những nhiệm vụ mới trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở khu này.
thành lập các ban chuyên môn…
Khuyết điểm rõ nhất là phát triển đảng viên chưa coi trọng chất lượng, công tác giáo dục,
giác ngộ về chính trị chưa được quan tâm đúng mức, nên số đảng viên kết nạp đông nhưng chưa
chú ý đến chất lượng đảng viên nên chưa đáp ứng được yêu cầu công tác.
Về tư tưởng: cán bộ, đảng viên đa số lập trường, bản lĩnh chính trị chưa cao còn ỷ nại, rập
khuôn, thiếu sáng tạo …
Về mặt tổ chức, công tác phát triển Đảng ở các Đảng bộ thuộc địa bàn Việt Bắc trong thời
kỳ 1945 -1949 vẫn còn hạn chế là tổ chức Đảng chưa rộng khắp, chưa đồng đều giữa vùng thượng
du, miền trung du và duyên hải. Số chi bộ Đảng ở các vùng dân tộc thiểu số, trong nhiều chi bộ, cơ
quan, xí nghiệp...còn ít; nhiều chi bộ chưa có chi ủy...
Những thành tích và hạn chế, khuyết điểm trên đây đã tác động, ảnh hưởng đến nhiệm
vụ xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên Khu Việt Bắc sau này.
1.2. Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc từ 9 năm 1949 đến 7
năm 1952
1.2.1. Đảng bộ Liên khu Việt Bắc thành lập và tiến hành nhiệm vụ xây dựng Đảng từ tháng
11- 1949 đến tháng 5- 1951.
- Quan điểm chỉ đạo của Trung ương về xây dựng Đảng. Ngày 5-11- 1949, Hội nghị thành
lập Liên Khu Việt Bắc và Đảng bộ Liên khu được tiến hành. Hội thông qua danh sách Ban Chấp
hành Đảng bộ Liên khu gồm 21 đồng chí, trong đó có 19 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết,
Ban Thường vụ Liên Khu ủy gồm 5 ủy viên và phân công trách nhiệm cho các đồng chí. Hội thông
qua danh sách Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu gồm 21 đồng chí, trong đó có 19 ủy viên chính
9
thức và 3 ủy viên dự khuyết, Ban Thường vụ Liên Khu ủy gồm 5 ủy viên và phân công trách nhiệm
như sau: đồng chí Khang - Bí thư; đồng chí Tạo - Phó Bí thư; đồng chí Dương - Ủy viên Thường
vụ; đồng chí Thân - Ủy viên Thường vụ; đồng chí Thiên - Ủy viên Thường vụ; đồng chí Hoàng Ủy viên chính thức; đồng chí Bùi - Ủy viên chính thức; đồng chí Châu - Ủy viên chính thức; đồng
chí Thanh Phong - Ủy viên chính thức; đồng chí La - Ủy viên chính thức; đồng Chí Linh - Ủy viên
chính thức; đồng chí Nhị Quý - Ủy viên chính thức; đồng chí Kiêu - Ủy viên chính thức; đồng chí
Song Hào - Ủy viên chính thức; đồng chí Học - Ủy viên chính thức; đồng chí Quyết - Ủy viên chính
Kết quả đạt được trong xây dựng Đảng
+ Về chính trị: Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Thường vụ Liên khu ủy Việt Bắc
đã có nhiều chủ trương và lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể thức đẩy sự phát triển mọi mặt của kháng chiến
trên địa bàn: Đề án của Liên khu Việt Bắc về công tác chính quyền, xây dựng Đảng và xây dựng bộ
đội địa phương năm 1950. Sau khi thành lập, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đã tập trung quán triệt và
vận dụng các chủ trương đẩy mạnh kháng chiến, chuẩn bị tiến lên tổng phản công của Đảng vào
thực tiễn Liên khu.
10
+ Về tư tưởng: Cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi tin tưởng vào đường lối kháng
chiến của Trung ương và quá trình triển khai thực hiện công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên
khu.
+ Về tổ chức: Dưới sự lãnh đạo của Liên khu ủy, các Tỉnh ủy đã đặc biệt chú trọng tới công
tác xây dựng chi bộ, vạch kế hoạch phát triển một cách cụ thể, giúp đỡ các cấp dưới thi hành.
Thực hiện chủ trương “làm cho Đảng thành một Đảng quần chúng” của Trung ương, Đảng
bộ Liên khu Việt Bắc xúc tiến mạnh mẽ công tác phát triển đảng viên. Đảng bộ Liên khu chú trọng
việc phát triển Đảng trong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo đạo; phát triển Đảng tại những
địa bàn quan trọng như vùng biên giới, dọc các đường giao thông chính, vùng địch hậu,…
Công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn này đã được Đảng bộ quan tâm, chú ý phát triển
đảng viên nữ, con em dân tộc ít người và đồng bào công giáo (Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái).
Công tác phát triển Đảng trong các đội du kích ở tỉnh và huyện được đẩy mạnh, số đảng viên
có nơi đã chiếm từ 1/3 đến 1/2 quân số. Đặc biệt đội du kích ở Vĩnh Phúc, tỷ lệ đảng viên chiếm 2/3
tổng số đội viên du kích.
Đối với vùng tạm bị chiếm, thực hiện phương châm “biến hậu phương địch thành hậu
phương ta”, các cấp bộ Đảng toàn Liên khu đã tập trung phát triển những khu vực trọng điểm.
Thực hiện chủ trương Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2-1950) về
“củng cố nặng hơn phát triển”, ngày 4-3-1950, Liên khu Việt Bắc tổ chức Hội nghị cán bộ Liên khu
Việt Bắc lần thứ nhất để bàn sâu về công tác Đảng xây dựng Đảng, nhất là công tác chấn chỉnh tổ
chức và đội ngũ đảng viên. Hội nghị thông qua Đề án “đào tạo và rèn luyện cán bộ” nhấn mạnh: để
chỉnh Đảng từ tháng 5- 1951 đến tháng 7- 1952
Ngày 11 đến ngày 19 -2 -1951, Đại hội toàn Đảng lần thứ II. Ngày 29 - 12 – 1951, Ban Bí
thư ra Chỉ thị về cuộc vận động chỉnh đốn Đảng . Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, từ ngày
11 đến 20-5-1951, Đại hội Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lần thứ nhất được tiến hành.
Ngày 11-5-1952, tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ
vì sao phải chỉnh Đảng
Thực hiện chỉ thị của Đảng, Đảng bộ Liên khu đã tiến hành công tác chỉnh huấn, chỉnh
Đảng. Tháng 7 -1951, Liên khu đã phân công các đồng chí khu ủy viên đi các tỉnh tìm hiểu cán bộ
và giải quyết những chuyện trong nội bộ cán bộ.
Ngày 17-7-1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định thành lập Khu Tây Bắc gồm 4
tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La.
- Đảng bộ Liên khu Việt Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng.
Về mặt tổ chức Đảng, sau đợt chỉnh huấn tháng 8 - 1952, số đông các chi ủy đã được chỉnh
đốn lại., cán bộ đảng viên lẫn lộn công tác Đảng với công tác chính quyền.
Về sinh hoạt Đảng sau chỉnh huấn, chỉnh Đảng hầu hết các Đảng bộ đều tiến bộ hơn, nhưng
chưa vào nề nếp, chưa đúng kỳ hạn. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo chưa được thực hiện một cách
nghiêm chỉnh.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng những quan điểm sai lầm trong việc củng cố, nên công tác phát
triển Đảng ở Liên khu còn nhiều hạn chế. Liên khu chưa có sự hướng dẫn cụ thể về công việc phát
triển Đảng cho các tỉnh và đơn vị.
Vấn đề khen thưởng và kỷ luật Liên Khu đã chỉ đạo, quán triệt thực hiện sâu sắc vì vậy
nhiều cá nhân vi phạm đã bị thi hành kỷ luật.
Như vậy là sau bốn năm xây dựng và phát triển từ tháng 11 năm 1949 đến tháng 7 năm
1952, Đảng bộ Liên ku Việt Bắc đã không ngừng lớn mạnh. Từ một số ít đảng viên trong những
ngày đầu mới thành lập, số lượng đảng viên đã tăng nhanh liên tục theo từng năm từ 81.895 đảng
viên năm 1949 tăng 103.219 đảng viên năm 1950…. Tuy nhiên, do yêu cầu hoàn cảnh lúc bấy giờ,
việc kết nạp đảng viên ở Liên khu cũng như nhiều Đảng bộ khác diễn ra ồ ạt không thẩm tra kỹ đối
tượng kết nạp và không có kế hoạch rèn luyện bồi dưỡng sau kết nạp nên chất lượng đảng viên bị
giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc chiến.
*Tiểu kết
Xây dựng Đảng về tổ chức ở Liên khu cũng như của các Đảng bộ các tỉnh cần chăm lo xây
dựng bồi dưỡng đội ngũ kế cận, theo hướng chú trọng bản lĩnh chính trị, đạo đức và trình độ chuyên
môn…Đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất, đảm bảo cho Đảng
bộ Liên khu có sự thống nhất cao về ý chí và hành động. Khu ủy luôn xác định vấn đề xây dựng và
củng cố tổ chức cơ sở Đảng, có tầm quan trọng chiến lược
2.2. Đảng bộ Liên khu Việt Bắc tập trung thực hiện chỉnh huấn, chỉnh đảng, củng cố
chi bộ theo chủ trương của Trung ương Đảng
2.2.1. Triển khai các công tác chỉnh huấn, chỉnh Đảng, củng cố chi bộ
Ngày 29-12-1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành kế hoạch “về cuộc vận động
chỉnh huấn, chỉnh Đảng”. Tiếp đó, tháng 4 -1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội
nghị lần thứ ba, đề ra nhiệm vụ quan trọng, trong đó nhiệm vụ chỉnh huấn, chỉnh Đảng.
Quán triệt chủ trương của Đảng, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc khẩn trương triển khai thực
hiện công tác chỉnh Đảng, củng cố chi bộ: phân tích đặc điểm của từng Đảng bộ, ý thức, thái độ,
tinh thần cán bộ từng vùng, Tháng 10 - 1952, Liên khu tổ chức hội nghị tuyên huấn để quán triệt
chủ trương và phương pháp tiến hành chỉnh huấn, chỉnh Đảng. Các tỉnh chủ trương tiến hành củng
cố chi bộ, phát triển đảng viên, cải thiện quan hệ giữa thủ trưởng và đảng viên, giữa quần chúng và
đảng viên..
Tuy nhiên, trong qúa trình triển khai thực hiện chỉnh huấn, chỉnh Đảng, Đảng bộ Liên khu
đã gặp không ít khó khăn…
Tháng 1 -1953 Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 4 toàn thể cán bộ và đề ra chủ
trương phát động quần chúng nhằm tiến hành triệt để giảm tô và thực hiện cải cách trong kháng
chiến.
Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đã
gắn việc phát động quần chúng với củng cố chi bộ Đảng, cải cách ruộng đất, phát động và lãnh đạo
phong trào xây dựng Đảng bộ tự động, hướng mạnh và việc củng cố tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng
nhiều chi bộ mạnh. Tất cả cán bộ và nhân dân tập trung vào công tác chỉnh huấn, chỉnh Đảng.
2.2.2. Những kết quả đạt được trong công tác chỉnh huấn, chỉnh đảng, củng cố chi bộ
Qua thực hiện chỉnh huấn, chỉnh Đảng, công tác xây dựng Đảng ở Liên khu Việt Bắc đã đạt
được những kết quả rõ rệt trên các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
- xây dựng Đảng về chính trị: tích cực tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng
Chương 3
15
CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ LIÊN KHU
VIỆT BẮC TỪ THÁNG 7 - 1954 ĐẾN THÁNG 8 - 1956
3.1. Những yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng trên địa bàn Liên khu Việt
Bắc
Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954) và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ (21-71954) đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ kéo dài gần 9 năm (23-91945-21-7-1954). Đảng đề ra chử trương, đường lối
- Hội nghị Trung ương lần thứ chín của Bộ chính trị (tháng 9 -1954) về cải cách ruộng đất. Tháng 31955, Hội nghị Trung ương 7 (khóa II).
- Ngày 7-3-1955, Trung ương ra Nghị quyết số 19-NQ/TW “về việc tổ chức Đảng trong quân đội
địa phương”.
- Hội nghị cán bộ tổ chức toàn miền Bắc lần thứ hai (4 -1955). Trung ương đã ra Chỉ thị số 05CT/TW ngày 17-2-1955, nêu rõ: “đi đôi với việc tăng cường củng cố Đảng, cần tiếp tục tiến hành
phát triển Đảng một cách thường xuyên”.
Qúa trình lãnh đạo cải cách ruộng đất từ tháng 7- 1954 đến tháng 9- 1956, cuộc cách ruộng
đất đạt được một số kết quả.
3.2. Đảng bộ Liên khu Việt Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng và những kết quả
đạt được
3.2.1. Triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng gắn với cải cách ruông đất của Đảng bộ
Liên khu Việt Bắc
Đảng bộ ban hành nhiều Nghị quyết, chỉ thị về nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên,
gắn công tác xây dựng Đảng với công tác cải cách ruộng đất. Tổ chức các đợt học tập tại chức và
triển khai học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kết nạp được
nhiều đảng viên
- Về chính trị: Đảng bộ Liên khu đã quán triệt học tập, sửa chữa những tư tưởng trên, nên đã
từng bước nâng cao lập trường tư tưởng cho cán bộ, đảng viên thông qua tiến hành chỉnh đốn chi bộ
- Về công tác tư tưởng của cán bộ Đảng bộ Liên khu từ sau đình chiến, nhiệm vụ của Đảng
đề ra đấu tranh củng cố hòa bình, thể hiện tinh thần thống nhất khi tiến hành công tác chỉnh đốn
Đảng, chỉnh quân
- Về tổ chức: tiến hành hoàn thành cải cách ruộng đất (7 đợt), tiến hành củng cố chi bộ ở các
các nguyên nhân:
+ Không tiến hành điều tra thực tiễn, thiếu quan tâm chỉ đạo sát sao.
+ Đường lối xây dựng Đảng chưa rõ ràng ( Bắc Giang, Phú Thọ)
* Tiểu kết
Nhiệm vụ xây dựng Đảng trong giai đoạn này là đẩy mạnh củng cố miền Bắc về mọi mặt,
gây cơ sở vững chắc cho đấu tranh chính trị, bảo vệ hòa bình thực hiện thống nhất, hoàn toàn độc
lập cho cả nước.
Qua việc thi hành nhiệm vụ mọi mặt công tác giáo dục được nâng cao nhất là lập trường tư
tưởng cho cán bộ công nhân viên và quần chúng nhân dân, phân biệt ta và địch, đề cao lòng căm thù
và ý thức giác ngộ giai cấp, đề bạt những phần tử ưu tú, thanh trừ phần tử địch và xấu ra ngoài hàng
ngũ làm cho tổ chức được tương đối trong sạch.
Chương 4:
17
NHẬN XÉT VÀ SỐ KINH NGHIỆM
4.1. Nhận xét
4.1.1. Qúa trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng của Liên khu Việt Bắc đặt dưới sự chỉ
đạo và tác động nhiều chiều của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Trước những yêu cầu của cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng quyết định thành lập Liên
khu Đảng bộ Việt Bắc vào năm 1949.
Phạm vi hoạt động của Liên khu với 28 dân tộc cùng sinh sống được sự quan tâm, chỉ đạo
của Trung ương. Do đó, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc có điều kiện tiếp nhận sớm và chính xác những
chủ trương của Trung ương, trong đó có chủ trương về xây dựng Đảng. Đây chính là một cơ sở để
việc triển khai công tác xây dựng Đảng ở Việt Bắc diễn ra kịp thời và mau lẹ.
Việc gần Trung ương đóng tại Việt Bắc bên cạnh thuận lợi là cơ bản và chủ yếu, song, cũng
chịu tác động không thuận, nhất là khi cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương có những sai lầm và hạn
chế trong lãnh đạo công tác xây dựng Đảng.
4.1.2. Công tác xây dựng Đảng tại Liên khu Việt Bắc đạt nhiều thành tựu và có đóng góp
vươn lên thành chi bộ khá. Thành công lớn nhất là công tác phát triển tổ chức cơ sở đảng, phát triển
đảng viên ở khắp các tỉnh trong toàn Liên khu.
- Phát triển đảng viên và xây dựng tổ chức đảng cơ sở rộng khắp. Đầu 1947 toàn Liên khu
với 803 chi bộ đến 1948 đã có 3.538 chi bộ, các buổi sinh hoạt được tiến hành thường xuyên, phát
triển Đảng từng bước đáp ứng được yêu cầu.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, chú trong phát triển vào công nhân, nông dân, bần cố nông….
4.1.3. Công tác xây dựng Đảng tại Liên khu Việt Bắc từ 1949 đến 1956 có nhiều khuyết
điểm và hạn chế.
-Về chính trị, trong một số thời điểm, nhận thức chưa đúng về đường lối kháng chiến, về nhiệm
vụ chính trị.
-Trên phương diện tư tưởng: công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén và kém tính chiến đấu. Công
tác tư tưởng cũng có những lúc không kịp thời, buông lỏng, thiếu sắc bén. Trong quá trình lãnh
đạo, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc còn có biểu hiện nhận thức về bản chất giai cấp công nhân của
Đảng của Đảng còn giản đơn, nặng về chủ nghĩa thành phần.
-Về mặt tổ chức, một số chủ trương nhiệm vụ và biện pháp triển khai thực hiện nhiệm vụ
kháng chiến còn mắc sai sót, lúng túng, chưa sát với thực tế.
4.2. Một số kinh nghiệm
4.2.1. Thường xuyên coi trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng ở những vùng trọng yếu của cách
mạng, vùng “phên dậu” quốc gia.
4.2.2. Gắn việc xây dựng Đảng với thực hiện nhiêm vụ chính trị theo cơ chế đặc thù, phù
hợp với địa bàn miền núi.
4.2.3. Đặc biệt quan tâm công tác tư tưởng cho cán bộ, đảng viên công tác ở miền núi; giải
quyết hài hòa mối quan hệ giữa cán bộ miền núi và cán bộ vùng đồng bằng.
4.2.4. Coi trọng công tác đào tạo, phát triển và sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên người dân
tộc.
4.2.5. Thường xuyên tiến hành công tác phòng gian, giữ bí mật, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo
vệ Đảng.
KẾT LUẬN
Trung ương chứa đựng nhiều điểm không hợp ký, không phù hợp với đặc điểm Việt Nam. Trong
quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã kịp thời sửa chữa những sai lầm khuyết điểm đó
nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.
4. Thực tiễn công tác xây dựng Đảng tại Việt Bắc thời gian 1949- 1956, đã để lại
những kinh nghiệm quý có thể vận dụng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Đất
nước đang đứng trước thời cơ lớn và thách thức lớn của sự phát triển. Để lãnh đạo đất nước trong
điều kiện mới, Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao được năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu, nắm bắt thời cơ, chấp nhận và vượt qua thách thức, nguy cơ, nâng cao tầm trí tuệ.
Xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất
trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng
viên đủ phẩm chất và năng lực. Đây thực sự là nhiệm vụ then chốt và cấp bách, có ý nghĩa sống còn
đối với Đảng và sự nghiệp đổi mới hiện nay.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
20
1. Nguyễn Thị Lan (2013), “Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức
Đảng những năm đầu thành lập (1949-1950)”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học (dành cho học viên cao
học và nghiên cứu sinh) của Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, tr. 284-289.
2. Nguyễn Thị Lan (2013), “Đảng bộ Liên khu Việt Bắc với công tác xây dựng Đảng giai đoạn
từ năm 1949 -1951”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ (18), tr. 96-99.
3. Nguyễn Thị Lan (2014), “Chỉnh huấn, chỉnh Đảng, củng cố chi bộ ở Liên khu Việt Bắc
(1952-1954)”, Tạp chí Lịch sử Đảng (3), tr.62-66.
21