ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
MAI BÍCH HUỆ
ĐẢNG BỘ BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
MAI BÍCH HUỆ
ĐẢNG BỘ BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử
Mã số: 60.22.56
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Duy Hạnh
HÀ NỘI - 2013
CHƢƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC KẠN CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TCCSĐ TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 ....... 47
2.1 Công tác xây dựng và phát triển TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn từ
năm 2005 đến năm 2010. ............................................................................. 47
2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xây dựng tổ chức cơ sở
đảng từ 2005 đến 2010 ............................................................................. 47
2.1.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển
TCCSĐ từ năm 2005 đến năm 2010: ....................................................... 51
2.2. Một số kết quả đạt được........................................................................ 69
2.2.1. Về tổ chức cơ sở đảng .................................................................... 70
2.2.2 Về số lượng và chất lượng đảng viên: ............................................ 76
2.2.3. Một số hạn chế và nguyên nhân: .................................................... 79
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 83
CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHỦ
YẾU................................................................................................................. 84
3.1. Nhận xét chung ..................................................................................... 84
3.1.1 Về những thành tựu cơ bản ............................................................. 84
3.1.2 Về những hạn chế chủ yếu .............................................................. 98
3.1.3. Nguyên nhân hạn chế ................................................................... 100
3.2 . Những kinh nghiệm chủ yếu.............................................................. 101
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 110
KẾT LUẬN .................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 113
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
:
Tư bản chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay là lịch sử của
quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành và giữ chính quyền, thực hiện các
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng là lịch sử phát triển
của chính bản thân Đảng. Hơn tám thập kỷ qua, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn giữ vai trò là lực lƣợng lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng của dân
tộc ta, do đó sự lãnh đạo cũng nhƣ quá trình phát triển của Đảng đều có ý
nghĩa quyết định đối với thành quả cách mạng qua các thời kỳ lịch sử. Trong
quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc, Đảng ta xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt. Báo cáo về công tác xây dựng Đảng trình Đại
hội lần thứ X đã chỉ rõ: “Tổ chức cơ sở đảng chƣa đƣợc quan tâm chỉ đạo
đúng mức. Một số thôn bản ở vùng sâu, vùng xa chƣa có tổ chức Đảng và
đảng viên. Không ít cơ sở đảng yếu kém, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
thấp; sinh hoạt Đảng và quản lý đảng viên lỏng lẻo, nội dung sinh hoạt nghèo
nàn, tự phê bình và phê bình yếu” [63,tr.62]. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ƣơng lần thứ 6 (Khóa X) tiếp tục nhấn mạnh: “Không ít tổ chức
cơ sở đảng chƣa nhận thức và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của tổ
chức cơ sở đảng. Công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng, bồi dƣỡng lý tƣởng
cách mạng, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở chƣa đúng mức,
tính định hƣớng, tính chiến đấu và tính giáo dục, thuyết phục chƣa cao. Năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ
chức thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc và của cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu, chƣa
nhất có sứ mệnh lãnh đạo đất nƣớc, lãnh đạo toàn xã hội - sứ mệnh đƣợc nhân
dân giao cho, đã đƣợc ghi vào Hiến pháp nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam. Vì vậy, trƣớc những yêu cầu mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,
2
HĐH đất nƣớc, Đảng ta xác định công tác xây dựng đảng có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, trở thành vấn đề then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp
cách mạng của nhân dân ta dƣới sự lãnh đạo của Đảng.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi Đông Bắc, đất rộng ngƣời thƣa, mới đƣợc
tái lập từ tháng 1/1997. Bắc Kạn đƣợc xếp vào loại những tỉnh nghèo nhất
nƣớc ta, để có thể nhanh chóng phát huy hết thế mạnh của địa phƣơng về tài
nguyên lao động và du lịch, đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng và phát triển bền
vững kinh tế - xã hội… đƣa Tỉnh sớm rút ngắn khoảng cách với các địa
phƣơng khác thì nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay là Đảng bộ Bắc
Kạn phải làm tốt công tác xây dựng Đảng, trong đó tập trung vào việc xây
dựng và phát triển TCCSĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
các TCCSĐ ngang tầm với yêu cầu của tình hình mới.
Trong những năm qua Đảng bộ tỉnh và cấp ủy các cấp luôn coi trọng công
tác xây dựng, củng cố TCCSĐ. Nhờ đó, công tác xây dựng TCCSĐ đã đạt nhiều
kết quả quan trọng, số thôn bản chƣa có tổ chức đảng và đảng viên, số chi bộ sinh
hoạt ghép giảm dần. Tuy nhiên, đến cuối năm 2008 Bắc Kạn vẫn còn 4 thôn bản
trắng đảng viên và 448 chi bộ sinh hoạt ghép. Vì vậy, năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của nhiều TCCSĐ thuộc Đảng bộ tỉnh còn nhiều yếu kém, hạn chế.
Trên cơ sở những định hƣớng nghiên cứu đó, chúng tôi quyết định chọn
đề tài: “Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở
đảng từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài của luận văn bảo vệ thạc sỹ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát triển tổ chức cơ sở đảng của
động xây dựng, chỉnh đốn Đảng” (1999); HồThành Khôi : “Không phải chỉ có tổ
chức cơ sở Đảng yếu kém”(1996)…Ngoài ra, trên báo Điện tử Đảng Cộng sản
Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị; Tạp chí Cộng sản cũng có rất nhiều bài
viết về vấn đề xây dựng Đảng,..
4
- Nhóm các đề tài, luận văn, luận án:
Luận văn thạc sĩ lịch sử thuộc trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn – Đại học Quốc gia Hà Nội: “ Đảng Cộng sản Việt Nam với quá trình xây
dựng đội ngũ đảng viên từ năm 1996 đến năm 2006” của tác giả Đặng Thị
Huệ; tác giả Đặng Quang Vinh có đề tài nghiên cứu: “Đảng bộ thành phố Đà
Nẵng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1997 - 2006”; tác giả Hà Thị Thu
Hằng với đề tài “Đảng bộ huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ lãnh đạo tổ chức,
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1995 đến 2005”; tác giả Nguyễn Thị
Nhung có công trình: “Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ
tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2005”; tác giả Nguyễn Thị Thanh
Huyền có đề tài: “Đảng bộ Hà Tây thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng thời kỳ
1991 - 2000”.... Riêng tỉnh Bắc Kạn cũng đã tổ chức nghiên cứu đề tài về nâng
cao chất lƣợng sinh hoạt chi bộ đảng, đề tài thuộc chƣơng trình Khoa học xã
hội và nhân văn về đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của chi bộ đảng tỉnh Bắc Kạn do đồng chí Đinh Thị Sơn
– Trƣởng ban Tổ chức Cán bộ Tỉnh ủy Bắc Kạn làm chủ nhiệm.
Những công trình nói trên đều đề cập đến những vấn đề chủ yếu, cốt lõi của
công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên, mỗi tác giả tiếp cận vấn đề này ở những góc
độ, khía cạnh khác nhau và có những ý kiến riêng của mình. Đây là những tƣ liệu
mang tính chất nền tảng, cơ sở phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. Cho đến nay,
chƣa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo nào về vấn đề xây dựng Đảng nói
đoạn tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
- Là những chủ trƣơng, kế hoạch, biện pháp của Đảng bộ tỉnh, các Ban
Đảng của Tỉnh về việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ từ năm 2001 đến
năm 2010.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu, tìm hiểu quá trình Đảng bộ Bắc Kạn thực hiện
nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ. Nhận xét, đánh giá thành tựu, hạn chế và từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm.
Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010.
Về không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, với chủ đề trên, luận văn đƣợc
thực hiện dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng TCCSĐ nói
riêng. Những chủ chƣơng, đƣờng lối của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nƣớc
hiện nay là cơ sở lý luận chính, cung cấp những quan điểm chỉ đạo cho tác giả
khi nghiên cứu đề tài này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phƣơng pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phƣơng pháp
nghiên cứu của khoa học lịch sử nói chung, của chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam nói riêng. Cụ thể, luận văn chủ yếu sử dụng các phƣơng
pháp nhƣ: phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp lôgíc, phƣơng pháp thống kê,
8
CHƢƠNG 1
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TỔ
CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Khái quát đặc điểm, tình hình chung của tỉnh Bắc Kạn và công
tác xây dựng đảng trƣớc năm 2001
1.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
* Về điều kiện tự nhiên:
- Về vị trí địa lý: Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm ở phía đông bắc bộ.
Với tổng diện tích tự nhiên là 4.857,21 km2; phía Bắc giáp Cao Bằng, phía
Nam giáp Thái Nguyên, phía Đông giáp Lạng Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang
và một góc tây bắc giáp với Hà Giang. Thị xã tỉnh lỵ cách Thủ đô Hà Nội 170
km về phía bắc.
- Về địa hình: Là tỉnh miền núi, địa hình Bắc Kạn rất đa dạng, phức tạp,
chủ yếu là khe suối, đồi núi cao; hệ thống sông, suối có độ dốc lớn, nhiều thác
ghềnh; giao thông khó khăn, chủ yếu là đƣờng bộ, tỉnh có quốc lộ 3 đi qua dài
123,5 km, đây là con đƣờng giao thông huyết mạch quan trọng nối liền Bắc
Kạn với các địa phƣơng khác trong khu vực; ngoài ra còn có quốc lộ 279 sang
các tỉnh Tuyên Quang, quốc lộ 3B sang Lạng Sơn và hệ thống giao thông liên
huyện, tạo thành mạng lƣới giao thông phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế văn hoá của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
- Về khí hậu, thuỷ văn: Khí hậu của Bắc Kạn mang đặc điểm khí hậu
nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hƣởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, nhiệt độ
trung bình 22 oC; có hai mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, khô hạn, mùa hè nóng
ẩm, mƣa nhiều. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm đạt 1.507,8 mm. Độ ẩm
bình quân năm là 85%.
9
doanh, song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên sản xuất công nghiệp phát triển
chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của tỉnh.
+ Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển đô thị: Đến nay hầu hết
các đô thị và cụm dân cƣ nông thôn đã có qui hoạch chung và qui hoạch chi tiết.
Các đô thị nhất là thị xã Bắc Kạn đã từng bƣớc hoàn thiện kỹ thuật hạ tầng. Năm
2009 đã có 87,5% số xã có điểm bƣu điện văn hoá, số hộ dân đƣợc sử dụng điện
lƣới Quốc gia là: 85%, số hộ dân đƣợc sử dụng nƣớc hợp vệ sinh đạt 75%, số xã
có trạm truyền hình đạt 90,2%, và có 100% số xã đã có đƣờng ô tô đến trung
tâm xã.
+ Sản xuất nông, lâm nghiệp: Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có
nhiều chủ trƣơng, giải pháp khuyến khích phát triển nông lâm nghiệp nhƣ
trích ngân sách để phòng, chống bệnh dịch gia súc, hỗ trợ lãi xuất phát
triển chăn nuôi trâu bò; hỗ trợ vốn xây dựng mô hình đạt giá trị thu nhập
30 triệu đến 50 triệu đồng/ha, tiếp tục thực hiện trợ cƣớc, trợ giá các loại
giống, vật tƣ phục vụ sản xuất... nên sản lƣợng nông nghiệp đạt kết quả
khá. Tốc độ tăng trƣởng chung của ngành trong những năm qua đều đạt và
vƣợt chỉ tiêu đã đề ra.
+ Về thƣơng mại, du lịch: Hoạt động thƣơng mại diễn ra sôi động, công
tác phát triển thị trƣờng luôn đƣợc đầu tƣ phát triển. Tổng mức luân chuyển
hàng hoá bán lẻ trên địa bàn năm 2009 là: 1.528 tỷ đồng. Du lịch đƣợc xác
định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bắc Kạn, nên tiềm năng du lịch bƣớc
đầu đã đƣợc quân tâm đầu tƣ và khai thác có hiệu quả.
+ Tài chính, tín dụng: Quản lý, khai thác có hiệu quả các nguồn thu trên
địa bàn và kết quả thu ngân sách hằng năm đều vƣợt dự toán đề ra (năm 2007
đạt 123,3 tỷ đồng, vƣợt 12,1% kế hoạch; năm 2008 đạt 154,2 tỷ đồng, vƣợt
13,3% kế hoạch; năm 2009 đạt 177,110 tỷ đồng bằng 100,7% kế hoạch).
11
+ Lao động, việc làm và các vấn đề xã hội: Công tác lao động, giải quyết
việc làm gắn với chƣơng trình xoá đói, giảm nghèo đƣợc quan tâm thƣờng
xuyên thông qua các dự án vay vốn tạo việc làm cho ngƣời lao động tại các
doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; công tác tạo việc làm mới hằng năm đều
đạt chỉ tiêu đề ra và đến năm 2009 đã tạo việc làm mới cho 6.000 lao động,
đạt 100% kế hoạch đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới) đã giảm từ
50,87% năm 2005 đến năm 2009 xuống còn 25,82% . Các chính sách đối với
thƣơng binh, gia đình liệt sĩ, ngƣời có công với cách mạng đƣợc thực hiện tốt.
Công tác bảo trợ xã hội đƣợc quan tâm nhƣ việc cứu đói, cứu trợ trong các kỳ
giáp hạt, tết, cứu trợ thƣờng xuyên cho các đối tƣợng cần đƣợc hỗ trợ và cứu
trợ đột xuất cho đối tƣợng do bị thiên tai, hoả hoạn...
Các chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc luôn đƣợc triển
khai thực hiện tốt tại địa phƣơng nhƣ: Chƣơng trình 134, 135 và trợ cƣớc các
mặt hàng chính sách; bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân đúng quy
định pháp luật. Năm 2009 tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu các dân
tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn lần thứ nhất.
- Quốc phòng - an ninh
+ Lực lƣợng quân sự địa phƣơng luôn đƣợc quan tâm xây dựng vững
mạnh, hằng năm đều thực hiện tốt các chỉ tiêu tuyển quân, huấn luyện, đào tạo,
bồi dƣỡng kiến thức quốc phòng, tuyển sinh quân sự theo kế hoạch; công tác
xây dựng củng cố và diễn tập khu vực phòng thủ đƣợc thực hiện đúng kế hoạch
đề ra. Công tác xây dựng dân quân, tự vệ thƣờng xuyên đƣợc quan tâm chú trọng.
+ Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đƣợc đảm bảo. Thực
hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, an ninh tƣ tƣởng, an ninh văn hoá, an
ninh kinh tế. Thực hiện có hiệu quả chƣơng trình quốc gia phòng chống tội
phạm; chƣơng trình hành động phòng, chống ma tuý,…tỷ lệ điều tra khám
13
sát đối với hoạt động của thƣờng trực hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân,
toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các
nghị quyết của hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ
quan Nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
của công dân địa phƣơng.
Uỷ ban nhân dân các cấp đã thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nƣớc,
phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng và thực hiện có hiệu quả
các chính sách trên địa bàn; góp phần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng (đoàn thanh niên, hội phụ
nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh và công đoàn) là các thành viên trong hệ
thống chính trị đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính 3 cấp: Cấp tỉnh, cấp
huyện, thị và cơ sở xã, phƣờng, thị trấn theo quy định của luật và điều lệ của
mỗi tổ chức.
Trong những năm qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã vận động
đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân các dân tộc chấp hành tốt chủ
trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, phát triển kinh tế - xã
hội, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng; xây dựng tổ chức đoàn thể
vững mạnh và làm tốt công tác xây dựng Đảng, giới thiệu đoàn viên, hội viên
ƣu tú cho Đảng để bồi dƣỡng trở thành đảng viên. Đẩy mạnh phong trào "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", làm tốt công tác vận
động quần chúng theo phƣơng châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"
trong quá trình xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách
1.1.2. Tình hình của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn trước năm 2001
- Bắc Kạn trong thời kỳ kháng chiến
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân
15
và chiến đấu gian khổ hy sinh, nhiều cá nhân, tập thể đã đƣợc Đảng và Nhà
nƣớc phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân.
Với vai trò là căn cứ địa cách mạng, Bắc Kạn hết lòng cƣu mang đùm
bọc đồng bào tản cƣ; giúp đỡ bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, kho tàng của Trung ƣơng sơ tán; bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc.
Khi chiến sự lan rộng đến địa phƣơng, quân và dân Bắc Kạn đã tiến hành
tiêu thổ kháng chiến với chiến lƣợc "vƣờn không, nhà trống", phá huỷ giao thông
và tham gia cùng bộ đội chủ lực đánh địch. Trong chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông năm 1947), suốt hai năm đánh địch trên mặt trận đƣờng số 3 nổi tiếng cũng
nhƣ quá trình tiễu phỉ bảo vệ quê hƣơng, nhiều gƣơng chiến đấu hy sinh oanh liệt
đƣợc cả nƣớc biết đến, nhiều tên núi, tên sông đã trở thành địa danh lịch sử, gắn
với những chiến công hiển hách nhƣ Phủ Thông, Đèo Giàng... Cuộc chiến đấu
kiên cƣờng của quân và dân ta buộc thực dân Pháp phải rút chạy, Bắc Kạn trở
thành tỉnh đầu tiên đƣợc giải phóng. Sự kiện lịch sử vẻ vang này đƣợc Đảng đánh
giá cao, đƣợc Bác Hồ gửi thƣ khen ngợi. Trong thƣ, Bác đã khẳng định "Cuộc
thắng lợi này sẽ làm đà cho những thắng lợi khác to lớn hơn, vẻ vang hơn".
Sau giải phóng (tháng 8 năm 1949), nhân dân các dân tộc Bắc Kạn hăng
hái khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thƣơng chiến tranh, tích cực đóng góp sức
ngƣời, sức của cho kháng chiến. Một năm sau ngày giải phóng, Bắc Kạn trở
thành địa phƣơng dẫn đầu trong phong trào thi đua kháng chiến kiến quốc.
Năm 1950, Bắc Kạn đƣợc Chính phủ tặng Huân chƣơng Kháng chiến hạng
Ba, đƣợc vinh dự giữ cờ luân lƣu "Đơn vị có phong trào thi đua khá nhất" do
Hồ Chủ tịch trao tặng.
17
Với vai trò và nhiệm vụ là căn cứ địa cách mạng, nhân dân các dân tộc
tỉnh Bắc Kạn đã dồn sức chi viện cho tiền tuyến. Trong hơn tám năm kháng
chiến, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã đóng góp hơn 3 triệu ngày công
trực tiếp phục vụ chiến đấu. Các đoàn thể chính trị, nhất là Hội Phụ nữ đã
thành công trong việc phát động phong trào toàn dân xây dựng lực lƣợng vũ
trang. Trong hai năm 1952 - 1953, phong trào hũ gạo nuôi quân và mùa đông
mới. Ngày 6-11-1996, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ mƣời đã phê chuẩn việc
chia lại địa giới hành chính của một số tỉnh. Trong đó, tỉnh Bắc Thái đƣợc
chia thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Kạn chính thức đƣợc tái lập. Các huyện Ngân
Sơn, Ba Bể (Chợ Rã) tái nhập lại vào tỉnh Bắc Kạn. Tháng 8-1998, thành lập
thêm huyện Chợ Mới trên cơ sở tách từ phần đất phía Nam huyện Bạch
Thông. Ngày 28-5-2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2003/NĐ-CP
về việc thành lập huyện Pắc Nặm trên cơ sở tách huyện Ba Bể. Nhƣ vậy, trải
qua không ít những thay đổi về địa dƣ hành chính, hiện nay, tỉnh Bắc Kạn
đƣợc chia làm 8 đơn vị hành chính bao gồm 7 huyện (Bạch Thông, Chợ Đồn,
Chợ Mới, Ba Bể, Ngân Sơn, Na Rì, Pắc Nặm) và thị xã Bắc Kạn.
Phát huy truyền thống yêu nƣớc, truyền thống cách mạng vẻ vang, trong
thời kỳ xây dựng và phát triển đất nƣớc, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh đến nay,
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã không ngừng phấn
đấu vƣơn lên khắc phục khó khăn, giành đƣợc nhiều thành tựu mới trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, nhanh chóng đƣa Bắc Kạn tiến
kịp các tỉnh miền xuôi.
Nhân dịp kỷ niệm tròn 100 năm thành lập tỉnh Bắc Kạn , ngày 2-10-2000
Chủ tịch nƣớc đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lƣợng vũ trang Nhân
19
dân cho đồng bào và lực lƣợng vũ trang tỉnh Bắc Kạn do có thành tích đặc
biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là thành quả
lớn lao của nhân dân trong cuộc kháng chiến trƣờng kỳ đã đƣợc Đảng, Nhà
nƣớc ghi nhận. Phát huy truyền thống đoàn kết trong lịch sử, phát huy truyền
thống đấu tranh cách mạng, 5 năm qua, kể từ ngày tái lập tỉnh, đồng bào các
dân tộc đã không ngừng phấn đấu vƣơn lên, giành đƣợc nhiều thành tựu mới
trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.