Xây dựng chương trình thông báo kết quả học tập qua điện thoại - Pdf 33

Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần

LỜI NÓI ĐẦU
Trong mỗi gia đình, các bậc cha mẹ có con cắp sách tới trường lúc nào
cũng quan tâm đến việc học của con mình. Chẳng hạn bữa nay con mình có lên
trả bài hay không? Các bài kiểm tra trong tháng được bao nhiêu điểm? Kết quả
thi ở cuối mỗi học kỳ ra sao? Và kể cả việc muốn biết con mình có nghỉ học
bữa nào không hoặc có vi phạm nội quy gì ở trường hay không và lý do tại sao?
Thông thường, gia đình chỉ biết những chuyện này sau khi nhà trường phát sổ
liên lạc về nhà.
Ngày nay, với sự phát triển liên tục của ngành máy tính, ta có thể tự động
hóa công việc này bằng cách kết nối máy tính với điện thoại như là một hệ
thống trả lời tự động. Khi một phụ huynh gọi điện thoại tới số máy này, hệ
thống sẽ thông báo các kết quả học tập của học sinh. Điều này thật là thuận lợi,
nhanh chóng và dễ dàng, có thể thực hiện ở mọi lúc mọi nơi.
Tuy đề tài này đã được hoàn thành nhưng chắc chắn không tránh khỏi
thiếu sót. Em rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ và góp ý của các thầy, cô và
các bạn.
Cuối cùng, em xin cảm ơn các thầy cô ở bộ môn Công nghệ thông tin đã
dành cho em đề tài này và đặc biệt là thầy Nguyễn Đức Thuần, người đã trực
tiếp gợi ý và hướng dẫn, giúp em hoàn thành đề tài này.
Sinh viên thực hiện
Bùi Danh Đạt
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 1
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
PHẦN 1
GIỚI THIỆU
GIỚI THIỆU
ĐỀ TÀI
ĐỀ TÀI
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 2

Vấn đề cuối cùng là áp dụng công nghệ “text-to-speech” để chuyển từ chữ
trong máy tính sang tiếng nói, sau đó sẽ truyền đi qua điện thoại tới người gọi.
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 3
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
Tất cả những vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết trong các phần sau.
II. Môi trường lập trình :
Chương trình “Thông báo kết quả học tập qua điện thoại” được viết bằng
ngôn ngữ lập trình Visual Basic 6.0 trên hệ điều hành Microsoft Windows 98.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu được dùng để cài đặt cơ sở dữ liệu là Microsoft
Access 97

III.Giới thiệu về hoạt động của chương trình :
Chương trình được thiết kế để thông báo mọi vấn đề liên quan đến đến
học tập và đạo đức thường gặp nhất ở học sinh. Khi một người gọi điện tới, hệ
thống sẽ yêu cầu nhập vào mã số của học sinh. Sau đó, hệ thống sẽ đưa ra menu
để chọn lựa vấn đề đang quan tâm. Người gọi muốn nghe thông tin chỉ cần
nhấn các phím tương ứng với các mục sau đây :
Phím Ý nghĩa
# Thay đổi mã số học sinh
1 Nghe thông tin về các lần nghỉ học trong tháng (ngày nghỉ học, số
ngày nghỉ, có phép/không phép, lý do)
2 Nghe thông tin về các lần vi phạm nội quy trong tháng (ngày vi
phạm, lý do)
3 Nghe điểm kiểm tra của các môn học trong tháng
4 Nghe điểm thi của các môn học ở cuối học kỳ
5 Nghe kết quả cuối tháng (điểm trung bình, hạng, học lực, hạnh
kiểm)
6 Nghe kết quả cuối học kỳ (điểm trung bình, hạng, học lực, hạnh
kiểm)
7 Nghe kết quả cuối năm học (điểm trung bình, hạng, học lực, hạnh

Như chúng ta đã biết kỹ thuật điện thoại ra đời và phát triển rất sớm trước
kỹ thuật máy tính. Ngày đó, đường dây điện thoại được thiết kế chỉ để truyền
tín hiệu của tiếng nói có tần số của âm thanh. Dạng tín hiệu này thuộc loại tín
hiệu tương tự (analog) và thường gọi là sóng âm tần hình sin. Trong khi đó,
máy tính chỉ có thể xử lý các tín hiệu số (digital) có tần số cao. Nếu tín hiệu số
này được truyền trực tiếp trên đường dây điện thoại thì chúng sẽ bị suy giảm và
biến dạng. Vì thế, một thiết bị chuyển đổi qua lại giữa hai tín hiệu này đã ra đời,
gọi là modem. Công việc chuyển tín hiệu số của máy tính thành tín hiệu tương
tự của đường dây điện thoại được thực hiện bằng một số phương pháp mà
người ta gọi là điều chế (Modulation). Ngược lại, công việc chuyển tín hiệu
tương tự của đường dây điện thoại thành tín hiệu số của máy tính cũng được
thực hiện bằng một số phương pháp mà người ta gọi là giải điều chế
(Demodulation). Modem chính là viết tắt của 2 chữ Modulation và
Demodulation.
Ứng dụng của modem mà chúng ta thường thấy nhất là kết hợp với máy
tính để truy cập internet. Trong trường hợp này, mỗi đầu của đường dây điện
thoại sẽ nối vào một modem gắn vào máy tính. Nhờ đó chúng ta có thể truy
xuất được dữ liệu của máy kia (máy chủ). Còn ở đây, đối với công việc thông
báo qua điện thoại từ máy tính, ta chỉ cần nối một đầu dây điện thoại vào
modem gắn với máy tính tại trường học. Người gọi có thể sử dụng bất kỳ điện
thoại nào để gọi tới. Lúc này tín hiệu từ đường dây điện thoại sẽ được modem
chuyển đổi thành tín hiệu số và đưa vào máy tính để xử lý. Sau đó máy tính sẽ
phát trở lại các tín hiệu số (ví dụ như tiếng nói ở dạng số) cho modem để
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 7
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
modem chuyển đổi thành các tín hiệu tương tự (tiếng nói ở dạng tương tự) và
truyền ngược trở lại người gọi. Nhờ đó , người gọi có thể nghe được.
II. Giao tiếp lập trình ứng dụng cho hệ thống điện thoại - TAPI
(Telephony Application Programming Interface) :
I. Một số khái niệm trong mô hình TAPI :

thoại trong mạng điện thoại chuyển mạch công cộng (PSTN), phần mềm
gửi/nhận fax, hộp thư thoại, hệ thống trả lời tự động, điện thoại qua internet
(VoIP) vv ...
II.1.3. TAPI DLL (Dynamic link library - Thư viện liên kết động) :
Các thư viện này cùng với TAPI Server (Tapisvr.exe) là sự trừu tượng hóa
trong việc phân cách giữa người dùng và các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại.
Một thư viện TAPI liên kết với TAPI Server để cung cấp một giao tiếp giữa 2
lớp (xem mô hình lập trình cho hệ thống điện thoại ở phần sau).
Có 3 thư viện liên quan tới TAPI : Tapi.dll, Tapi32.dll, Tapi3.dll . Mỗi thư
viện này đều có vài trò như nhau :
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 9
Ứng dụng TAPI
16-bit
Tapi.dll
Tapi32.dll
Ứng dụng TAPI
32-bit
Tapi32.dll
Ứng dụng TAPI3
32-bit
Tapi3.dll
MSP
TAPISVR.EXE
TSP
Registry
Telephony Control Panel,
Dialing Properties, vv ...
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
Mỗi thư viện này tương ứng với một thời điểm phiên bản của TAPI. Các
ứng dụng 16-bit liên kết với Tapi.dll . Trong Windows 98/NT/2000, Tapi.dll sẽ

thiết bị truyền thông thông qua một tập các hàm dịch vụ. Ứng dụng TAPI sử
dụng các lệnh được chuẩn hóa , và TSP điều khiển các lệnh đặc trưng mà cần
phải được trao đổi với thiết bị.
II.1.8. TSPI (Telephony Service Provider Interface ) :
TSP phải tạo ra một giao tiếp TSP phù hợp để thực hiện chức năng như
một nhà cung cấp dịch vụ trong môi trường hệ thống điện thoại. TSPI định
nghĩa ra các hàm ngoại mà được hỗ trợ bởi TSP.
II.1.9. Service Providers :
Đây được xem như bộ phận cung cấp các dịch vụ cần thiết để thực hiện
việc điều khiển thiết bị điện thoại một cách chi tiết. TSP cung cấp các điều
khiển cuộc gọi và MSP nếu có sẽ cung cấp điều khiển luồng qua phương tiện.
Tất cả các TSP thực thi bên trong tiến trình TAPISRV. Các bộ phận cung
cấp dịch vụ có thể tạo ra các thread ngay trong ngữ cảnh của TAPISRV khi cần
và được chắc chắn rằng không có tài nguyên nào mà chúng tạo ra bị hủy do
thoát khỏi một ứng dụng cá nhân nào đó. Khi cần TAPI Server có thể dịch các
câu lệnh của ứng dụng sang tập các lệnh phù hợp như là TSPI.
Các MSP thực thi ngay trong tiến trình của ứng dụng, cho phép phản hồi
nhanh một số yêu cầu trong việc điều khiển phương tiện. TAPI DLL cung cấp
một kết nối chặt chẽ tới MSPI.
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 11
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
II. Mô hình lập trình cho hệ thống điện thoại :
- Ứng dụng TAPI sẽ nạp thư viện TAPI (TAPI DLL) vào và sử dụng
TAPI cho các nhu cầu truyền thông
- TAPI sẽ tạo ra một kết nối với TAPI Server. Ngoài ra, với TAPI phiên
bản 3 sẽ tạo thêm một đối tượng MSP và kết nối với nó bằng cách sử
dụng tập các câu lệnh được định nghĩa trước, hình thành nên MSPI
- Khi ứng dụng thực hiện một thao tác TAPI, thư viện TAPI sẽ làm một
số kiểm tra cần thiết , sau đó sẽ chuyển thông tin cho TAPISVR
- TAPISVR liên lạc với các tài nguyên khả dụng trên máy tính và giao

- TAPI thiết lập một kết nối cho tiến trình TAPISRV
- TAPISRV nạp vào các bộ phận cung cấp dịch vụ được chỉ định trong
registry và buộc chúng khởi tạo những thiết bị mà chúng hỗ trợ.
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 13
Khởi tạo TAPI
Khởi tạo TAPI
Điều khiển
phiên làm việc
Điều khiển
phiên làm việc
Điều khiển
thiết bị
Điều khiển
thiết bị
Điều khiển
phương tiện
Điều khiển
phương tiện
Kết thúc TAPI
Kết thúc TAPI
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
- Lấy số phiên bản thích hợp cho ứng dụng TAPI, TAPI và bộ cung cấp
dịch vụ điện thoại . Công việc này bắt buộc phải làm ở TAPI 2.
- Kiểm tra và thu nhận thông tin liên quan đến các thiết bị khả dụng cho
ứng dụng TAPI
- Đăng ký thông điệp để nhận được các sự kiện liên quan tới những thay
đổi trạng thái của đường truyền.
2. Điều khiển phiên làm việc (Session Control) :
- Một phiên làm việc nói chung hay một cuộc gọi nói riêng là một kết
nối giữa hai hay nhiều địa chỉ. Kết nối này là động và các đối tượng

- Kết thúc các phiên làm việc
- Giải phóng các tài nguyên hệ thống đang chiếm giữ
IV. Các phiên bản TAPI :
Bất kỳ một vấn đề nào liên quan đến TAPI cũng gồm có 3 thành phần :
chương trình ứng dụng, TSP, và chính bản thân của TAPI. Mỗi một trong ba
thành phần này đều có thể hỗ trợ đến một phiên bản TAPI tối đa nào đó . Đây là
công việc của ứng dụng phải kiểm tra và chọn lựa phiên bản cao nhất của TAPI
mà cả ba thành phần này đều hỗ trợ. Các con số phiên bản này được duy trì sự
tương thích khi Microsoft mở rộng các khả năng của TAPI. Các phiên bản của
hệ điều hành Windows khác nhau sẽ hỗ trợ các phiên bản Windows khác nhau :
Hệ điều hành
Windows
Phiên bản TAPI
ban đầu
Phiên bản TAPI tối đa
có thể nâng cấp
Windows 95 1.4 2.2
Windows 98 2.0 2.2
Windows ME 2.2 2.2
Windows NT 4 2.2 *SP5 2.2
Windows 2000 3.0 3.3
Windows XP 3.3 3.3
Có một sự thuận lợi là các ứng dụng TAPI 1.4 vẫn có thể hoạt động mà
không gặp vấn đề gì khi chạy trên các hệ điều hành Windows khác. Còn một
ứng dụng TAPI 2.0 sẽ tự động loại bỏ một số chức năng của nó khi chạy cùng
với một TSP 1.4. Dưới đây là các chức năng được hỗ trợ thêm đối với mỗi
phiên bản TAPI :
Phiên bản
TAPI
Các chức năng chính được hỗ trợ thêm

- Theo chuẩn thì có tổng cộng 16 cặp tín hiệu DTMF tương ứng với 16
phím bấm trên điện thoại. Tuy nhiên, với các máy điện thoại thông thường hiện
nay, chỉ có 12 phím trên điện thoại có thể gửi tín hiệu này, đó là : 0, 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, *, # . Bốn cặp tín hiệu còn lại thì thường không dùng đến, đó là các
phím : A, B, C, D .
- 16 cặp tín hiệu này được tổ chức dưới dạng ma trận 4x4. Khi ta nhấn 1
phím bình thường trên điện thoại, sẽ có 2 tín hiệu được phát đi : 1 tín hiệu thuộc
nhóm tần số cao và 1 tín hiệu thuộc nhóm tần số thấp. Sự kết hợp của 2 tín hiệu
này sẽ tạo ra một tín hiệu DTMF.
Ví dụ : Khi ta nhấn phím số 1 trên điện thoại thì sẽ tạo ra cặp tín hiệu
(1209Hz , 697Hz), nhấn phím # thì sẽ tạo ra cặp tín hiệu (1477Hz ,
941Hz )
1209 Hz 1336 Hz 1477 Hz 1633 Hz
697 Hz [1] [2] [3] A
770 Hz [4] [5] [6] B
852 Hz [7] [8] [9] C
941 Hz [*] [0] [#] D
- Các tín hiệu DTMF này thường được sử dụng trong dịch vụ hộp thư thoại
hoặc trong hệ thống máy điện thoại trả lời tự động. Khi một người gọi điện tới,
máy sẽ nhận các yêu cầu của người đó thông qua các tín hiệu này.
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 17
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
Chương 2
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU
I. Cơ sở dữ liệu trong thế giới hiện đại :
Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ do tiến sĩ E.F.Codd sáng chế đầu tiên vào
năm 1970 để lưu trữ thông tin. Mô hình này là nền tảng của tất cả các hệ quản
trị cơ sở dữ liệu thương mại như Access, SQL Server, Oracle, vv...
Trong cơ sở dữ liệu quan hệ, các mục dữ liệu được lưu trữ trong các
bảng (table), được cấu tạo bởi các dòng gọi là các mẫu tin (record) và các cột

ODBC không phù hợp với cơ sở dữ liệu không phải là cơ sở dữ liệu
quan hệ như dữ liệu dạng ISAM bởi vì nó không có các giao tiếp cho phép tìm
kiếm truy cập ngẫu nhiên các mẫu tin, việc thiết lập các phạm vi hoặc duyệt qua
các chỉ mục . ODBC đơn giản là không được thiết kế để truy cập dữ liệu ISAM.
III. Các cách truy xuất cơ sở dữ liệu :
V. DAO ( Data Access Objects ):
Như tên gọi của nó, các đối tượng truy cập dữ liệu, DAO được sử dụng để
thao tác với cơ sở dữ liệu thông qua lập trình. . Với DAO ta có thể thi hành các
câu truy vấn, cập nhật dữ liệu trong các bảng và cấu trúc cho cơ sở dữ liệu.
DAO cũng được các nhà lập trình sử dụng để truy cập các cơ sở dữ liệu trên
máy cá nhân hay Client/Server và DAO hoạt động khá hiệu quả với cơ sở dữ
liệu Access
VI. RDO (Remote Data Object) :
RDO tương tự như DAO nhưng mục đích chính là để truy cập dữ liệu từ
xa thông qua ODBC.
VII. ADO (ActiveX Data Objects) :
ADO là nền tảng của kỹ thuật truy cập cơ sở dữ liệu Internet. Tuy nhiên,
ta có thể sử dụng ADO không chỉ để truy cập dữ liệu thông qua trang Web mà
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 19
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
còn có thể dùng nó để lấy dữ liệu từ ứng dụng. ADO là giao diện dựa trên đối
tượng cho công nghệ dữ liệu mới nổi gọi là OLE DB.
OLE DB được thiết kế để thay thế ODBC như một phương thức truy cập
dữ liệu. ODBC hiện thời là tiêu chuẩn phía Client để truy cập các cơ sở dữ liệu
quan hệ . OLE DB đi sâu hơn một bước bằng cách làm cho tất cả các nguồn dữ
liệu trở thành tổng quát đối với ứng dụng Client.
IV. Sơ lược về SQL ( Structured Query Language ) :
SQL là viết tắt của cụm từ “Structured Query Language” , tạm dịch là
ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc. SQL thuộc loại ngôn ngữ thế hệ thứ tư. Việc sử
dụng nó có thể giải quyết nhanh chóng vấn đề cung cấp thông tin mà với ngôn

Các đối tượng truy cập dữ liệu DAO, RDO, ADO đều hỗ trợ rất mạnh
việc thực thi các câu lệnh SQL nhằm tạo sự uyển chuyển, linh động và tối ưu
trong các thao tác dữ liệu.
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 21
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
Chương 3
SƠ LƯỢC VỀ TIẾNG NÓI
VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
TỔNG HỢP TIẾNG NÓI
I. Sơ lược về tiếng nói :
VIII. Đặc t ính c hung c ủa t iếng n ói :
Tiếng nói là công cụ diễn đạt thông tin rất uyển chuyển và đặc biệt. Khi
chúng ta phát ra một tiếng thì có rất nhiều bộ phận như lưỡi, thanh môn, môi,
họng, thanh quản…kết hợp với nhau để tạo thành âm thanh. Âm thanh này lan
truyền trong không khí để đến tai người nhận; chính vì sự kết hợp của rất nhiều
bộ phận để tạo ra âm thanh này nên âm thanh được phát ra ở mỗi lần hầu như là
khác nhau. Vì vậy việc phân chia tiếng nói thành những loại có đặc tính riêng là
rất khó. Ở đây người ta tạm chia thành ba loại:
• Voiced sound :
Khi chúng ta nói chữ "a" hay chữ "o" thanh môn của ta rung và giãn ra, áp
suất không khí ban đầu lớn và từ từ giảm xuống, lúc này âm phát ra có dạng
sóng wave đặc trưng như hình vẽ.
• Unvoiced sound :
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 22
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
Là âm khi ta phát ra một tiếng mà thanh môn không rung. Có hai loại cơ bản:
phụ âm sát (fricative) và âm bật hơi (aspirate). Đối với phụ âm sát (khi phát âm
vần "s"), điểm co thắt được tạo ra tại vài điểm trên bộ máy phát âm, và không
khí được đẩy qua nó. Vì điểm co thắt có khuynh hướng xảy ra gần miệng, tiếng
dội của bộ máy phát âm có ảnh hưởng nhỏ trong việc tạo nên phụ âm sát. Đối

và tạo ra âm thanh liên tục. Mỗi diphone bao gồm hai âm vị (phonemes), một
âm vị bắt đầu âm ,âm vị còn lại kết thúc âm. Ví dụ từ "hello" bao gồm những
âm vị sau: " h eh l oe" .Những diphone tương ứng là "silence - h h -eh eh -l l-oe
oe-silence” .
Diphone được tạo bằng cách thu giọng người và xác định một cách cẩn
thận tỉ mỉ vị trí bắt đầu và kết thúc của những âm vị. Mặc dù kỹ thuật này có thể
tạo âm giống thật, phải tốn công sức để làm việc này và giọng không cố định
bởi những âm vị chỉ đặc trưng bởi ngôn ngữ của người phát âm.
X. Sự cần thiết của công nghệ Text–to–speech (TTS) :
Một ứng dụng sử dụng TTS khi nó cần chuyển dạng văn bản mang tính
chất động sang dạng tiếng nói. Đó là những văn bản có thể thay đổi thường
xuyên, không cố định. Nếu chúng ta sử dụng phương pháp ghi âm cho toàn văn
bản thì trước hết là không gian lưu trữ sẽ cần rất lớn nếu như văn bản đó dài
hoặc có nhiều văn bản khác nhau. Và sau đó nếu ta thay đổi văn bản khác thì sẽ
phải tiến hành ghi âm lại.
Nói tóm lại TTS có một số lợi ích và ứng dụng như sau :
SVTH : Bùi Danh Đạt Trang 24
Thông báo kết quả học tập của học sinh qua điện thoại GVHD : Nguyễn Đức Thuần
- Đọc văn bản động : TTS hữu dụng cho những văn bản thay đổi thường
xuyên. Ví dụ : sau khi nhận được e-mail, ta có thể yêu cầu máy tự đọc cho mình
nghe.
- Kiểm tra văn bản : Với một văn bản chi chít chữ, ta có thể yêu cầu máy
đọc để phát hiện những từ gõ sai
- Tiết kiệm không gian lưu trữ
- Thông báo bằng giọng nói thay cho chuỗi thông báo trên màn hình
- Ứng dụng truyền thông : TTS được ứng dụng trong hộp thư thoại, hệ
thống trả lời tự động
II. Các phương pháp tổng hợp tiếng nói trong hệ thống tiếng Việt :
XI. Sự cần thiết của việc tổng hợp tiếng nói :
Khi cần thông báo cho người sử dụng bằng tiếng nói thì những chuỗi tiếng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status